Tích hợp giáo dục về biến đổi khí hậu trong dạy học phần sinh thái học sinh học 12 trung học phổ thông - Pdf 28

iii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các
thầy cô trong phòng đào tạo và các thầy cô giáo bộ môn, trường đại học Giáo dục –
Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện, giảng dạy và đóng góp
nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại
trường.
Xin cảm ơn trường THPT Nam Tiền Hải và trường THPT Tây Tiền Hải đã tạo
điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hưng đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng môn đã có những ý kiến góp
ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 11năm 2014
Học viên Bùi Thanh Thủy
v

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Những đóng góp mới của luận văn 5
9. Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Cơ sở lý luận 7
1.1.1. Một số vấn đề về dạy học tích hợp 7
1.1.1.1. Khái niệm dạy học tích hợp 9
1.1.1.2. Mục tiêu của dạy học tích hợp 10
1.1.1.3. Các quan điểm tích hợp trong dạy học 11
1.1.1.4. Vai trò của tích hợp trong dạy học 13
1.1.1.5. Ý nghĩa của tích hợp trong dạy học Sinh học 15
1.1.2. Giáo dục biến đổi khí hậu ở trường phổ thông 17

thái học (Sinh học 12) 47
2.4. Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu vào dạy một số bài, nội dung cụ thể
của phần Sinh thái học (Sinh học 12) 47
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm 63
3.2.Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 63
3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 63
3.3.1. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 63
3.3.1.1. Chọn trường thực nghiệm 63
vii

3.3.1.2. Chọn học sinh thực nghiệm 64
3.3.1.3. Chọn giáo viên dạy thực nghiệm 64
3.3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm 64
3.3.3. Phương án thực nghiệm 64
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.4.1. Phân tích định lượng 65
3.4.1.1. Kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm 66
3.4.1.2. Kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm 74
3.4.2. Phân tích định tính 76
3.4.2.1. Phân tích các hoạt động và thái độ của học sinh trong quá trình dạy
học 76
3.4.2.2. Phân tích chất lượng bài kiểm tra của học sinh 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 78
Kết luận 78
Khuyến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 83
Bảng 1.9. Mức độ hiểu biết của học sinh về Biến đổi khí hậu 39
Bảng 1.10. Mức độ tác động của các hoạt động về biến đổi khí hậu tại Thái Bình
đến ý thức của học sinh 40
Bảng 1.11. Kết quả điều tra kiến thức về biến đổi khí hậu. 42
Bảng 1.12. Thái độ của học sinh trước biến đổi khí hậu hiện nay 42
Bảng 1.13. Hành động của học sinh trước biến đối khí hậu 43
Bảng 2.1. Nội dung cơ bản của phần Sinh thái học 45
Bảng 3.1. Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 67
Bảng 3.2. Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN 68
Bảng 3.3: Tần suất hội tụ tiến kiểm tra lần 1 (%) 69
Bảng 3.4. Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong TN 70
Bảng 3.5: Tần suất hội tụ tiến kiểm tra lần 2 (%) 70
Bảng 3.6. Kiểm định điểm các bài kiểm tra trong TN lần1 72
Bảng 3.7. Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 72
Bảng 3.8. Kiểm định điểm các bài kiểm tra trong TN lần2 73
ix

Bảng 3.10. Tổng hợp điểm các bài kiểm tra độ bền kiến thức sau TN 74
Bảng 3.11. Bảng tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 1 75
Bảng 3.12. Bảng tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 2 75


Hình 3.8. Đồ thị tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 1 75
Hình 3.9. Đồ thị tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 2 76
1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Biến đổi khí hậu là hiện tượng nóng tăng lên toàn cầu, là một sự thay đổi các
trạng thái thời tiết lâu dài, bao gồm các hiện tượng nhiệt độ, và các thay đổi ở lượng
mưa, và các thời tiết khí hậu cực đoan. Theo các nhà nghiên cứu, sự nóng lên của
hành tinh là điều không cần phải tranh cãi và nó tăng nhanh trong những thập kỷ
gần đây. Biến đổi khí hậu là điều chúng ta có thể nhận biết được bằng quan sát từ
việc tăng nhiệt độ của Trái Đất và đại dương; băng và tuyết tan, và mực nước biển
tăng. Biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra và là một trong những mối đe dọa môi
trường, kinh tế và xã hội lớn nhất mà Trái Đất đang phải đối mặt.
Bầu khí quyển của Trái Đất hoạt động giống như một cái chăn giữ hơi nóng từ
mặt trời, nhờ đó mà có sự sống trên trái đất. Biến đổi khí hậu xảy ra bởi sự tích
tụ của nồng độ khí nhà kính (KNK) trong bầu khí quyển. Khí nhà kính được giải
phóng chủ yếu từ việc đốt nóng các nguyên liệu hóa thạch, khai phá đất rừng để
trồng trọt và làm nông nghiệp. Khí nhà kính được biết đến nhiều nhất là Carbon
dioxide (CO
2
)
.
Các hoạt động của con người là một trong những nguyên nhân chính
dẫn đến biến đổi khí hậu như hiện nay, điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải giảm
bớt điều tệ hại này. Ủy ban Liên Chính phủ về Thay đổi khí hậu (IPPC) bao gồm
hàng nghìn các nhà khoa học hàng đầu thế giới. Có nhiệm vụ là đánh giá các thông
tin khoa học, kỹ thuật và kinh tế xã hội liên quan để tìm hiểu về biến đổi khí hậu,
các tác động tiềm tàng của nó và các biện pháp cho sự thích nghi và giảm nhẹ.
Biến đổi khí hậu gây tác động nghiêm trọng tới đa dạng sinh học, nguồn tài

thế giới và các quốc gia trong khu vực. Để đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào trường
phổ thông đạt được hiệu quả cao, việc cần thiết và mang tính cấp bách là phải đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận
thức của người học. Nâng cao hiệu quả dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nội
dung, xây dựng chương trình đào tạo, đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường
phương tiện thiết bị dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá. Đổi mới phương pháp dạy
học không phải là một vấn đề mới với giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại đây
vẫn là một vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội, khi ngày càng có nhiều yêu
cầu cao hơn trong đào tạo con người thích ứng với thời đại mới. Đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực giúp người học xử lý và thu nhận thông tin theo
3

cách riêng, hướng được người học tự nhận ra nội dung mình cần học, hệ thống hóa
kiến thức, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.
Một quan điểm dạy học đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng do tính
hiệu quả của nó mang lại, đó là dạy học tích hợp. Dạy học theo hướng tích hợp là
một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội
dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học.
Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá
trình học tập và quá trình dạy học.
Thực tiển đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục
và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và
làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn
học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan
điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có
đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại.
Với 11 môn học trong chương trình giáo khoa THPT, trong đó Sinh học là
môn có nhiều cơ hội để tích hợp nội dung biến đổi khí hậu. Vì thế, sẽ rất thuận lợi
cho việc giáo dục về biến đổi khí hậu cho học sinh phổ thông khi kết hợp với môn
Sinh học. Nội dung, kiến thức phần Sinh thái học, Sinh học 12 – THPT, nghiên cứu

(trường THPT Tây Tiền Hải)
Học sinh các lớp12A
1
, 12A
2
, 12A
3
, 12A
6
(trường THPT Nam Tiền Hải)
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quan điểm dạy học tích hợp
2. Đánh giá thực trạng của việc giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học nói
chung và dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) ở một số trường THPT trên địa
bàn huyện Tiền Hải – Thái Bình
3. Nghiên cứu cấu trúc chương trình và nội dung kiến thức Sinh học 12 đặc
biệt là nội dung Sinh thái học (Sinh học 12) làm cơ sở xây dựng nội dung tích hợp
giáo dục biến đổi khí hậu
4. Đề xuất nguyên tắc, biện pháp tích hợp các nội dung đã lựa chọn vào một
số bài, nội dung cụ thể của phần Sinh thái học (Sinh học 12)
5. Thực nghiệm sư phạm để kiểm định tính khả thi cũng như tính hiệu quả của
việc tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học
12)
6. Giả thuyết khoa học
Dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12) theo hướng tích hợp giáo dục biến
đổi khí hậu không chỉ giúp học sinh nâng cao được kiến thức mà còn phát triển
được kĩ năng đặc biệt là kĩ năng học tập, kĩ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống
và chuyển hóa tích cực về bảo vệ môi trường
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nghiên cứu lý luận

tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học Sinh thái học (Sinh học 12)
Đề tài đã đánh giá được những đặc điểm cơ bản về thực trạng giáo dục biến
đổi khí hậu ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Tiền Hải – Thái Binh
Xác định được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích hợp
giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học phần Sinh thái học (Sinh học 12)
6

9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu trong dạy học phần Sinh thái
học (Sinh học 12 – THPT)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề về dạy học tích hợp
Thực tiễn giáo dục ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm
tích hợp trong GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề

ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo chương trình và sách
giáo khoa (CT & SGK) gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau. Mặt
khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới
DH cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, GD dân số, GD pháp
luật, phòng chống ma túy, GD sức khỏe, an toàn giao thông, biến đổi khí hậu…,
nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học lên được. Việc tích hợp nội
dung một số môn học là giải pháp có thể thực hiện được nhiệm vụ GD nhiều mặt
cho HS mà không quá tải.
Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở
nước ta. Theo PGS.TS Trần Đức Tuấn [16], Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ giáo
dục vì sự phát triển bền vững, ĐH Sư phạm Hà Nội, tăng cường giáo dục được coi
là “chìa khóa” hiệu quả để cá nhân và cộng đồng ứng phó với các thách thức của
biến đổi khí hậu như mực nước biển dâng, thiên tai bất thường, gia tăng nhiệt độ
toàn cầu…Những giờ học ngoại khóa và các hình ảnh trực quan sinh động giúp HS,
SV hiểu rõ hơn về biến đổi
GDBĐKH bằng cách lồng ghép vào môn học ở các trường phổ thông và đại
học như Sinh học, Địa lý, Công nghệ, Kỹ thuật nông nghiệp chính là giải pháp hữu
hiệu để thay đổi hành vi và nhận thức của người học đối với biến đổi khí hậu,
hướng thế hệ trẻ trở thành các “công dân toàn cầu” nỗ lực hành động để chống biến
đổi khí hậu.
Vấn đề lồng ghép , tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu qua các môn học có
một số công trình nghiên cứu như: Biến đổi khí hậu- giải thích cho con, Jean-Marc
Jancovici (Phạm Việt Hưng dịch năm 2011) : Một số điều cần biết về biến đổi khí
hậu, Trương Quang Học – Nguyễn Đức Ngữ (2009), Đa dạng sinh học, Biến Đổi
khí hậu và phát triển bền vững, Trương Quang Học (2010), Tài liệu đào tạo tập
huấn viên về biến đổi khí hậu, Trương Quang Học và cộng sự (2011), hội thảo Á –
Âu “ Chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các bệnh mới
9

nổi (4/11/2009): Giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu trong môn Sinh học cấp

10

dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực,
phát triển tư duy sáng tạo” [16]
Những định nghĩa trên nêu rõ mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và
phát triển năng lực của người học.
Tóm lại, “ Dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các thành phần
năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống để
hình thành năng lực của người học”
1.1.1.2. Mục tiêu của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp làm cho quá trình dạy học có ý nghĩa bằng cách đặt ra các
quá trình đó trong hoàn cảnh có ý nghĩa đối với học sinh, để học sinh thấy được ý
nghĩa của các kiến thức, kĩ năng và năng lực cần lĩnh hội. Trong khoa sư phạm tích
hợp các quá trình học tập không cô lập với cuộc sống hàng ngày, không còn sư tách
biệt giữa nhà trường và thực tiễn cuộc sống. Trái lại thông qua việc liên kết kiến
thức từu các lĩnh vực khác nhau, cách thức khác nhau, phương tiện khác nhau và sự
đóng góp của nhiều môn học người ta tìm cách hòa nhập thế giới cuộc sống.
Dạy học tích hợp giúp người học phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng
hơn. Trong dạy học cần tránh đặt tất cả các quá trình học tập ngang bằng với nhau,
trong quá trình dạy học cần có sự sàng lọc, lựa chọn các tri thức, kĩ năng được xem
là quan trọng đối với quá trình học tập, có ích trong cuộc sống hoặc là cơ sở cho quá
trình học tập tiếp theo. Từ đó cần nhấn mạnh chúng và đầu tư thời gian cũng như có
những giải pháp hợp lí.
Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống. Dạy học tích hợp cũng nhằm nêu bật
các cách thức sử dụng kiến thức mà học sinh đã lĩnh hội được tạo ra các tình huống
học tập để học sinh vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực để hình thành
người lao động có năng lực, tự lập. Do đó, dạy học tích hợp không quan tâm đến
việc đánh giá những kiến thức mà HS đã lĩnh hội được mà chủ yếu là tìm cách đánh
giá “ học sinh có khả năng sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay
không?” khả năng đó của HS gọi là năng lực hay mục tiêu tích hợp

các phương án khác nhau nhằm thực hiện quan điểm tích hợp đa môn
Tích hợp trong nội bộ môn học (Intradisciplinary Approach): Theo phương án
này, các môn, các phần vẫn được học riêng rẽ, nhưng trong quá trình giảng dạy, tích
hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lắp, khai thác sự
hỗ trợ giữa các phân môn, giữa các phần trong một phân môn/môn học. Tích hợp
đọc, viết và giao tiếp ngôn ngữ nói trong môn Ngôn ngữ là một ví dụ. Giáo viên
12

tích hợp lịch sử, địa lý, kinh tế, và chính trị trong nội bộ chương trình môn học
Nghiên cứu xã hội. Thông qua kiểu tích hợp nội bộ môn học này, người học được
trông đợi đạt được hiểu biết về các mối quan hệ giữa những phân môn khác nhau và
mối quan hệ giữa chúng với thế giới.
Tích hợp kiểu lồng ghép (Fusion). Theo cách tích hợp này, các kỹ năng, kiến
thức và thái độ được lồng ghép vào chương trình các môn học thường ngày. Tại một
số trường, học sinh học thái độ tôn trọng người khác qua mỗi môn học. Chủ đề Hòa
bình hoặc Tiết kiệm năng lượng được lồng ghép học tập qua các môn học.
Tích hợp kiểu lồng ghép có thể liên quan đến các kĩ năng cơ bản. Tại Hoa kỳ,
nhiều trường nhấn mạnh các thói quen làm việc tích cực trong mỗi môn học. Các
nhà giáo dục có thể lồng ghép công nghệ vào các môn học trong chương trình với kĩ
năng vi tính được tích hợp vào mỗi môn học. Phát triển kĩ năng đọc viết xuyên
chương trình là một ví dụ khác của kiểu tích hợp lồng ghép. Số phát hành Tháng 11/
2002 của Tạp chí Educational Leadership làm nổi bật chủ đề “Đọc và Viết trong
các lĩnh vực nội dung và tập trung vào cách lồng ghép đọc viết vào trong chương
trình môn học”.[50]
(2) Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập
xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm, các khái niệm
và kĩ năng liên ngành/môn. Họ kết nối các nội dung học tập chung nằm trong các
môn học để nhấn mạnh các khái niệm và kỹ năng liên môn. Các môn học có thể
nhận diện được, nhưng họ cho rằng ít quan trọng hơn so với cách tiếp cận tích hợp

thành nên cơ sở của chương trình học. Mark Springer, giáo viên của trường Radnor,
Pennsylvania, thương lượng một chương trình học với học sinh (Brown, 2002).[50]
Springer đã dẫn đến một chương trình được cả nước biết đến, đó là Đường phân
thủy- Watershed,kéo dài trong 11 năm. Chương trình hiện tại của ông là Những ý
tưởng mới đang được dò tìm- Soundings. Trong Soundings, học sinh lớp 8 phát
triển chương trình học của riêng mình, Các chủ đề mà học sinh đã phát triển bao
gồm “Bạo lực trong nền văn hóa của chúng ta”, “Các vấn đế y tế ảnh hưởng đến
cuộc sống của chúng ta”; “Những môi trường ngoài hành tinh còn tồn tại”.
1.1.1.4. Vai trò của tích hợp trong dạy học
Dạy học tích hợp giúp HS liên hệ kiến thức trong nhà trường và thực tiễn cuộc
sống.
14

Dạy học tích hợp giúp HS trở thành người tích cực, công dân có năng lực giải
quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống
Dạy học tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạy học, đồng thời tăng
cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình và nội dung SGK
phổ thông. Hiện nay, còn tình trạng tách biệt giữa các môn trong nhà trường phổ
thông, nhất là tình trạng biệt lập giữa chương trình SGK ở các cấp học.
Việc giảng dạy tích hợp rèn cho HS ý thức và kĩ năng vận dụng kiến thức đã
học để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập. Đối với một số nội dung kiến thức,
người GV chỉ nên giới thiệu ở một chừng mực nhất định cần thiết cho sự hiểu biết
tối thiểu về khía cạnh đang đề cập. Nhờ đó có thể khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham
hiểu biết của người học. Cần đánh giá cao những HS biết sử dụng kiến thức phân
môn này để tham gia giải quyết những vấn đề của phân môn khác. Đó là những thói
quen, cơ sở để sau này các em có điều kiện tiếp thu và vận dụng dễ dàng hơn
phương pháp nghiên cứu liên ngành ở bậc cao hơn, cũng như khi vào đời, có khả
năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong
cuộc sống bao giờ cũng là những tình huống tích hợp.
Dạy học tích hợp giúp HS sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã học ở các

giáo dục phổ thông. Mục tiêu giáo dục xuyên suốt vẫn là giáo dục toàn diện, coi
trọng các mặt trí, đức, thể, mĩ nhằm đào tạo ra những con người lao động mới có trí
tuệ, có nhân cách, năng động và sáng tạo, chủ động thích ứng với nền kinh tế tri
thức và sự phát triển của thời đại. Trong các mục tiêu cụ thể của dạy học sinh học ở
trường phổ thông chúng ta thấy, để thực hiện được mục tiêu về kiến thức, kĩ năng
và thái độ cần phải phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của HS cụ
thể : Về kiến thức, người học phải đạt được một hệ thống kiến thức sinh học phổ
thông cơ bản và phù hợp với những quan điểm hiện đại; Về kĩ năng, người học phải
biết vận dụng được kiến thức để mô tả, giải thích các hiện tượng và quá trình sinh
học, giải các bài tập sinh học và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và
sản xuất; Về thái độ, người học phải có hứng thú học sinh học, yêu thích tìm tòi
khoa học, có thái độ khách quan trung thực, có ý thức vận dụng những hiểu biết
sinh học vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ
môi trường sống tự nhiên. Do các mục tiêu trên nên việc vận dụng DHTH trong dạy
học Sinh học ở trường phổ thông là một đòi hỏi tất yếu. Trước hết nó được thể hiện
16

qua việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học sinh học, cụ thể hóa một số nội dung cơ
bản qua chương trình và SGK Sinh học
Các nhiệm vụ của dạy học Sinh học bao gồm
+ Trang bị cho HS những kiến thức sinh học phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ
thống: các khái niệm sinh học, các quy luật, ứng dụng của sinh học trong đời sống
và sản xuất
+ Phát triển tư duy khoa học và năng lực sáng tạo của học sinh
+ Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng
+ Góp phần giáo dục thẩm mỹ, GDMT,…
Các nhiệm vụ trên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, được tiến hành đồng
thời trong quá trình dạy học Sinh học, góp phần tạo ra những con người phát triển
hài hòa toàn diện. Các nhiệm vụ trên “ tương tác” nhau dẫn đến sự phát triển lẫn
nhau tức là dẫn tới sự nâng cao chất lượng của quá trình dạy học. Tính phức tạp của

các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng
thời gian dài ở một vùng, miền xác định. Điều này trái ngược với khái niệmthời
tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiện tại hoặc tương lai
gần. Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địa hình, độ cao, độ ổn
định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ở cácđại dương lân cận.
Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc
chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số
lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng
nghìn, hàng triệu năm. Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo như định
nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới(World Meteorological Organization -
WMO). Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng
mưa và gió. Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả
của hệ thống khí hậu
.

* Khái niệm về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu bao gồm khí
quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nhân
tố tự nhiên và nhân tạo
* Nguyên nhân và biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Nguyên nhân:

Trích đoạn Phân tích định lượng Kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm Kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm Phân tích các hoạt động và thái độ của học sinh trong quá trình dạy Phân tích chất lượng bài kiểm tra của học sinh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status