i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn của tôi hoàn thành tại Trường Đại học Giáo Dục - Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu,
Cán bộ quản lý và các thầy cô giáo trong Trường Đại học Giáo Dục - Đại học
Quốc gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy và tạo điều kiện để tôi hoàn thành
khóa học. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Đinh
Văn Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các thầy cô giáo và các em học
sinh trường THPT Trưng Vương - Hưng Yên, các đồng nghiệp ở các trường
THPT trong tỉnh Hưng Yên đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, tạo điều kiện
về tinh thần và vật chất cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã
giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành khoá học cũng như luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều
thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến bổ sung của
các thày cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và có ý
nghĩa thực tế hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2014
Học viên Đỗ Thị Thiết ii
iii
Danh mục các bảng
v
Danh mục các sơ đồ
vi
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
5
1.1. Bản chất của hoạt động dạy học và quan điểm đổi mới phương
pháp dạy học 5
1.1.1. Bản chất của hoạt động dạy và hoạt động học trong hệ tương tác
dạy học 5
1.1.2. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học
6
1.2. Tự học
8
1.2.1. Khái niệm tự học
8
1.5.1. Về tình hình dạy học và hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên
16
1.5.2. Về tình hình tự học của học sinh
18
Kết luận Chương 1
19
Chương 2 : XÂY DỰNG BỘ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN HỌC SINH
TỰ HỌC 20
2.1. Vị trí chương “Sóng cơ và sóng âm” trong chương trình Vật lý THPT
20
iv
2.2. Mục tiêu dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm”
20
2.2.1. Mục tiêu về kiến thức
20
2.2.2. Mục tiêu về kỹ năng
21
2.2.3. Mục tiêu về thái độ
22
2.3. Nội dung kiến thức chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12
65
3.1. Mục đích thực nghiệm
65
3.2. Đối tượng thực nghiệm
65
3.3. Cách thức tiến hành thực nghiệm
65
3.4. Kết quả thực nghiệm
66
3.4.1. Cơ sở để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
66
3.4.2. Đánh giá định tính kết quả thực nghiệm sư phạm .
67
3.4.3. Đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm
68
Kết luận Chương 3
80
KẾT LUẬN
82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
PHỤ LỤC
Bảng 3.4. Thống kê điểm bài kiểm tra 45 phút
76
Bảng 3.5. Xử lí kết quả để tính các tham số
77
Bảng 3.6. Tổng hợp các tham số
x
, S
2
, S, V
77
Bảng 3.7. Tính tần suất
i
và tần suất luỹ tích hội tụ lùi
i
i
78
nhất. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nguồn tri thức tiếp nhận trong nhà
trường chưa đủ đáp ứng yêu cầu của xã hội. Do vậy năng lực tự học phải được nâng
cao đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao nền tri thức xã hội. Tuy nhiên nội dung
hướng dẫn học sinh tự học trong sách giáo khoa còn chưa cụ thể để mọi học sinh có
thể tự tìm tòi nghiên cứu; đội ngũ giáo viên còn xem nhẹ hoạt động hướng dẫn học
sinh tự học.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Xây
dựng tài liệu hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng cơ và sóng âm”, Vật lí
12” với mục tiêu nâng cao năng lực tự học của học sinh góp phần nâng cao chất
lượng dạy học.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1. Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài
Ở Anh, vào những năm 1920 đã hình thành nhà trường kiểu mới, khuyến khích
hoạt động tự quản của học sinh.
2
Ở Hoa Kì, từ những năm 1970, gần 200 trường đã dạy học thử nghiệm mô hình
giáo viên hướng dẫn học sinh cách học, học sinh độc lập làm việc theo nhịp độ
riêng phù hợp với nhận thức của mình.
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường tính tự học của
học sinh đã được nhân rộng khắp trên thế giới.
2.2. Những vấn đề nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Việc tìm tòi nghiên cứu để có được tài liệu hướng dẫn học sinh tự học đã được nhiều
tác giả đề cập đến. Ở Việt Nam, đề cập đến vấn đề này có thể kể đến các công trình:
“Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục tự học tự nghiên cứu”, tập 2. Nguyễn Cảnh
Toàn (2001).
“Quá trình dạy - tự học”, Nguyễn Cảnh Toàn - Nguyễn Kỳ - Vũ Văn Tảo - Bùi
Tường (1997).
Về những nghiên cứu theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh
trong dạy học Vật lí có các công trình nghiên cứu sau :
Thứ tư, thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả học tập của học sinh từ việc
tự học theo tài liệu hướng dẫn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Bộ tài liệu hướng dẫn học sinh tự học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Các nghiên cứu khảo sát quá trình hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên và
năng lực tự học của học sinh được tiến hành với giáo viên Vật lí và học sinh khối 12
– trường Trung học phổ thông Trưng Vương, tỉnh Hưng Yên khi giảng dạy và học
tập chương « Sóng cơ và sóng âm ».
Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2014 đến tháng 11/2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán.
6. Giả thuyết khoa học
4
Việc soạn thảo được tài liệu hướng dẫn học sinh tự học đồng thời tổ chức
hướng dẫn học sinh tự học sẽ làm cho học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức một cách
hệ thống, sâu sắc và bền vững. Từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học, tự
nghiên cứu suốt đời cho học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
Phương pháp dạy học hiện đại: thầy là người hướng dẫn, tổ chức quá trình học
tập; trò tham gia tích cực, chủ động tìm tòi, học hỏi và vận dụng sáng tạo. Phương
pháp dạy học này nâng cao tính chủ động, độc lập tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức của
học sinh.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
học tự hiểu bản thân mình để biến đổi mình, mỗi ngày một tiến bộ. Cần hiểu dạy
học là dạy hành động: tổ chức, điều khiển hành động học tập của học sinh.
Bản chất của hoạt động học
Quá trình học tập của học sinh bao gồm hai hoạt động là hoạt động học và
hoạt động tập. Học là quá trình nhận thức, tìm tòi, tích luỹ những giá trị văn hoá xã
hội. Tập là quá trình rèn luyện hình thành kĩ năng kĩ xảo trên cơ sở vận dụng kiến
thức đã học , làm biến đổi năng lực hoạt động của bản thân.[20]
Bản chất của hoạt động học tập là quá trình nhận thức những kiến thức, kinh
nghiệm mà nhân loại đã tích lũy, “biến những kiến thức khoa học tích luỹ từ nhiều
thế hệ của nhân loại thành kiến thức của chính mình” [10]. Theo tác giả Nguyễn
Ngọc Quang: “học tập là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm
khoa học, trong và bằng cách đó mà hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân
cách toàn diện”. Như vậy học tập là hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của học
sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức nhân loại.
Hệ tương tác dạy học
Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896-1934) và nhiều nhà giáo dục đương
thời, dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động của
HS. Dạy và học là hai hoạt động có cấu trúc khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ,
thống nhất biện chứng với nhau, thực hiện đồng thời với cùng một nội dung và
hướng tới cùng một mục đích. Sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học
có thể hiện ở nội dung, chương trình, kế hoạch, phương tiện dạy học.
6
Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể
của hoạt động học. Hoạt động dạy của GV chỉ nên giữ vai trò chủ đạo, hướng dẫn. Với
vai trò này, GV một mặt phải lãnh đạo, tổ chức, điều khiển những tác động đến HS;
mặt khác phải tiếp nhận và điều khiển, điều chỉnh tốt thông tin phản hồi và kết quả học
tập thể hiện trong quá trình và trong sản phẩm hoạt động học tập của HS.
Ngược lại, HS là đối tượng chịu sự tác động của hoạt động dạy đồng thời lại
tự học, tự đào tạo”.[21]
Như vậy có thể thấy, phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học
gồm bốn điểm cơ bản:
- Khắc phục lối truyền thụ một chiều.
- Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.
- Áp dụng các phương pháp tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học.
- Rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, sinh viên.
1.1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực
Tính tích cực của nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể
thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết vấn đề
học tập - nhận thức. Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều
kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động.
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Để tồn tại và phát triển
con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Do đó, hình thành và phát triển tính tích cực là mục tiêu hàng đầu của giáo dục.
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Ở đây “tích cực” được dùng
với nghĩa là “chủ động”, “hoạt động”, trái nghĩa với “thụ động”, “không hoạt động”,
không dùng theo nghĩa trái nghĩa với “tiêu cực”.
Một số đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực đó là: Dạy học thông
qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh; Dạy và học chú trọng rèn luyện
phương pháp tự học; Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác; Kết
hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
Trong các phương pháp dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai
trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm
8
lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo
yêu cầu của chương trình.
Theo GS–TSKH Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí
tuệ (quan sát, so sánh, phân tích…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm
lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội
của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”[19].
1.2.2. Vai trò của tự học
L.N.Tolxtoi đã viết “kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả
của những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ”. Như vậy, quá trình tự
giáo dục có vai trò ý nghĩa vô cùng to lớn, quyết định đến chất lượng của giáo dục
“người dạy dù cố gắng đến đâu nhưng người học không động não, không tự tìm tòi,
suy nghĩ trong quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thì kết quả dạy
không thể tốt được”. Tự học hình thành nên những con người năng động sáng tạo.
“Tự học là quá trình học sinh vận động trí tuệ để chiếm lĩnh tri thức, tự mình luyện
tập các thao tác, hành động để hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Vì thế, tự học giúp
người học tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới chính bằng sự nỗ lực của
bản thân mình”.
Tự học có vai trò to lớn trong giáo dục, giúp hình thành nhân cách cho người
học. Việc tự học, tự rèn luyện giúp cho họ có thói quen độc lập trong suy nghĩ, độc
lập trong giải quyết các khó khăn gặp phải. Từ đó, giúp người học tự tin và thành
công trong cuộc sống. Như vậy, có thể nói tự học có ý nghĩa quan trọng đối với sự
thành đạt của mỗi con người.
Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người. Thật vậy, tự học thúc đẩy
người học lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của
khoa học, sống có hoài bão có ước mơ.
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng tri
thức rất lớn với quỹ thời gian ít ỏi, hạn hẹp ở nhà trường. Tri thức của nhân loại
được tích luỹ từ đời này qua đời khác và hiện nay đang được nhân lên với tốc độ rất
nhanh, còn thời gian của nhà trường thì có hạn. Chỉ có tự học mới có thể giúp giải
quyết được nghịch lí này.
Với hình thức này người học phải tự mình lựa chọn nội dung, phương pháp,
cách thức học Đây là hình thức tự học ở mức cao, thường gặp ở người trưởng
11
thành. Tuy nhiên, hình thức tự học này gây ra rất nhiều khó khăn cho người học bởi
vì người tự học phải có rất nhiều kĩ năng như tìm tài liệu học, kĩ năng đọc, kĩ năng
quan sát, kĩ năng vận dụng, kĩ năng lập kế hoạch… Một trở ngại không lớn là người
học không thể tự kiểm tra đánh giá nên dễ gây chán nản và việc tự học dễ bị phá vỡ.
1.2.2.2. Tự học có hướng dẫn
Người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự
hướng dẫn của giáo viên nhưng không trực tiếp gặp giáo viên. Ngày nay, sự phát
triển vượt bậc của công nghệ thông tin và viễn thông tạo rất nhiều điều kiện thuận
lợi cho người học tự học có hướng dẫn nhưng giáo viên và người học không giáp
mặt. Người học có thể nhận được sự hướng dẫn của giáo viên ở xa bằng tài liệu
hoặc bằng các phương tiện thông tin khác.
Tự học có hướng dẫn trực tiếp là người học tự mình chiếm lĩnh tri thức và hình
thành kĩ năng tương ứng dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Người học tự
học theo sự hướng dẫn của tài liệu và có sự giúp đỡ một phần của giáo viên. Việc tự
học có thể được tiến hành ngay tại lớp hoặc về nhà. Hình thức tự học này rất phù hợp
với học sinh phổ thông, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi các em.
1.2.4. Chu trình tự học của học sinh
+ Chu trình tự học mỗi nội dung kiến thức của người học là một chu trình
gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định
hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới và tạo ra sản phẩm thô có tính
chất cá nhân.
- Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ
kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao
học. Có thể kể đến một số nhóm kĩ năng cơ bản như sau:
1.2.5.1. Kĩ năng kế hoạch hoá việc tự học
Biểu hiện đầu tiên của kĩ năng này là biết xây dựng kế hoạch học tập trong
tuần, trong tháng, trong năm… Khi xây dựng kế hoạch cần đảm bảo tính khả thi của
kế hoạch. Muốn vậy, kế hoạch phải đảm bảo cho thời gian tự học tương xứng với
lượng kiến thức của môn học, đảm bảo sự xen kẽ giữa các môn học khác nhau, giữa
các hình thức tự học khác nhau.
13
1.2.5.2. Kĩ năng đọc
Trong quá trình tự học, người học có thể phải đọc sách, đọc tài liệu hay đọc
giáo trình… Khi đọc cần phải xác định rõ mục đích đọc và lựa chọn cách đọc phù
hợp. Tập trung chú ý đọc sẽ không phải đọc lại nhiều lần. Khi đọc cần ghi chép và
biết cách “hỏi sách” bằng cách đặt các câu hỏi, rồi tìm câu trả lời từ sách. Cuối cùng
là hệ thống hoá những kiến thức thu được sau khi đọc.
1.2.5.3. Kĩ năng nghe giảng và ghi chép bài giảng
Để nghe giảng có hiệu quả học sinh cần đọc lướt nội dung bài học để định hình
kiến thức và đưa ra những câu hỏi cho bài học. Khi nghe giảng, cần tập trung nghe,
phân tích nội dung nghe để tìm ra nội dung chính của bài học. Cần hỏi để hiểu rõ
vấn đề còn khúc mắc, không nên vội vã kết luận một vấn đề khi chưa hiểu rõ về nó.
Ghi chép cũng là một việc quan trọng trong quá trình nghe giảng. Nên ghi chép
theo cấu trúc của bài học, đồng thời phân tích chọn lọc thông tin để ghi theo ý của
mình. Đối với những điểm chính của bài học cần ghi chép cẩn thận để làm tài liệu
học tập.
1.2.5.4. Kĩ năng ôn tập, luyện tập
Kĩ năng ôn tập là hoạt động tái nhận bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan
hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở
các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài. Việc tái hiện bài giảng
dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của
thầy, từ hoạt động tái nhận bài giảng, dựng lại bài giảng của thầy bằng ngôn ngữ
động học của học sinh chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động. Các hoạt động
chủ yếu của giáo viên trong dạy tự học là :
- Chuẩn bị tài liệu tự học cho học sinh, đồng thời hướng dẫn họ tìm tài liệu học
tập phù hợp.
- Hướng dẫn học sinh cách làm việc với tài liệu.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi của bài học và hướng dẫn học sinh hoạt động để
họ tự mình chiếm lĩnh tri thức mới.
- Theo dõi diễn biến lớp học, kịp thời khen ngợi để kích thích học sinh tự làm
việc cũng như điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh theo đúng hướng.
- Kiểm tra hiệu quả học tập của học sinh thông qua các báo cáo cá nhân, các ý
kiến thảo luận hay các phiếu học tập.
15
- Kết nối các nội dung của bài học thành một chỉnh thể lôgic.
1.4.1.2. Hoạt động của học sinh
- Chuẩn bị các tài liệu tham khảo theo hướng dẫn của giáo viên
- Tự đọc tài liệu để nắm được nội dung của bài học
- Làm việc cá nhân, làm việc nhóm, hoàn thành các phiếu học tập để tiếp cận và
chiếm lĩnh tri thức mới.
- Tự kiểm tra đánh giá kết quả .
1.4.2. Nguyên tắc tổ chức hướng dẫn học sinh tự học
Khi tổ chức hướng dẫn học sinh tự học, giáo viên cần chú ý một số nguyên tắc
sau:
- Làm cho học sinh thấy được vai trò của việc tự học. Tạo cho họ lòng tin tưởng
vào sự thành công của việc tự học.
- Đảm bảo cho tất cả các học sinh đều có thể tham gia vào hoạt động học tập.
- Đảm bảo cho học sinh có thể tiếp thu kiến thức từ dễ đến khó. Các kĩ năng tự
học từng bước được hình thành từ thấp lên cao.
- Đảm bảo có thể thu nhận thông tin phản hồi từ phía học sinh để giáo viên kịp
thời điều chỉnh nhịp độ học tập của học sinh khi cần thiết.
phát huy được tính tích cực của học sinh bằng cách dạy học theo lược đồ tư duy, tổ
chức hoạt động nhóm, cho học sinh thiết kế thí nghiệm, nêu các câu hỏi cho học
sinh trả lời. Thực tế cho thấy các hình thức dạy học tích cực chưa được giáo viên
hiểu, vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo như tổ chức hoạt động nhóm, dạy
học dự án, dạy học theo chủ đề
Việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học tuy đã được giáo viên chú ý và
có hiệu quả nhất định song việc làm này chưa thực sự khai thác được mặt tích cực,
ưu điểm của phương tiện dạy học hiện đại trong quá trình tổ chức nhận thức cho
học sinh, đôi khi giáo viên lạm dụng các thí nghiệm ảo gây giảm độ tin cậy của học
sinh trong việc lĩnh hội tri thức. Ngoài ra vẫn còn một số giáo viên lúng túng trong
ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt là việc khai thác và cập nhật kiến thức trên
mạng internet phục vụ công tác giảng dạy.
Về thiết bị thí nghiệm, đa số GV cho rằng chưa đáp ứng được yêu cầu của bộ
môn. Vì vậy các thí nghiệm Vật lí được tiến hành trên lớp chủ yếu là các thí nghiệm
biểu diễn, do GV thực hiện. Đa số HS chỉ tiến hành thí nghiệm trong các giờ thực
17
hành. Điều đó làm hiệu quả của dạy học bị giảm rất nhiều, đặc biệt không phát huy
được năng lực thực hành của HS.
Việc kiểm tra đánh giá chủ yếu vẫn là thầy đánh giá trò thông qua các bài kiểm
tra thường xuyên và định kì theo quy định trong phân phối chương trình, kiểm tra
miệng (kiểm tra bài cũ), tức là mới chú trọng đến đánh giá kết quả học tập, chưa
chú ý đánh giá quá trình; mới chỉ có giáo viên đánh giá chưa có học sinh tham gia
tự đánh giá và đánh giá học sinh khác. Do đó trong quá trình dạy học GV hầu như
không có căn cứ để điều chỉnh kịp thời phương pháp dạy học phù hợp với nội dung
kiến thức và phát huy năng lực của học sinh nhằm cải thiện chất lượng giảng dạy.
Khi được hỏi về vấn đề tự học của học sinh thì đa số các thầy cô quan niệm
rằng việc tự học của học sinh là đọc sách giáo khoa cả bài cũ và bài mới (77%),
xem thêm tài liệu tham khảo (40,6%), học thuộc bài vừa học (57,3%). Vì vậy để
hướng dẫn học sinh tự học thì các thầy cô cho rằng học thuộc lòng bài vừa học, làm
rằng tự học là bị bắt buộc.
- Về điều kiện tự học của học sinh đa số các em cho rằng bố mẹ tạo điều kiện
tốt cho các em học tập về mặt thời gian học, sách vở tài liệu liên quan đầy đủ.
- Về phương pháp tự học của học sinh: Đa số học sinh cho rằng cách tự học tốt
nhất là vừa đọc vừa viết, làm bài tập một số chọn đọc sách. Khi đọc sách các em
thường mất nhiều thời gian và thấy khó hiểu. Hình thức tự học mà các em thích nhất
là học một mình hoặc học với bạn thân. Khi gặp vấn đề khó khăn thì 50% học sinh
hỏi bạn bè, 30% thì hỏi thầy cô, 28% thì tự tìm cách giải quyết, số ít học sinh bỏ
qua. Đánh giá tác động của giáo viên đối với việc tự học của học sinh thì đa số các
em cho rằng giáo viên chỉ giao các bài tập và kiểm tra thường xuyên các em, khi
gặp các vấn đề khó thì các em được các thầy cô trả lời cặn kẽ cho tới khi hiểu, nhìn
chung các giáo viên đã có hướng dẫn học sinh tự học. Một số học sinh cho rằng
giáo viên chưa chú trọng nhiều đến việc hướng dẫn học sinh phương pháp tự học
trong quá trình dạy học như giới thiệu, cung cấp tài liệu tham khảo, hướng dẫn học
sinh cách đọc tài liệu, cách thu thập và xử lý thông tin
Có ý kiến cho rằng phương pháp giảng dạy của thầy chủ yếu là thuyết trình, ít
dành thời gian tổ chức cho học sinh thảo luận nên không tạo điều kiện để học sinh
rèn luyện khả năng diễn đạt cũng như được thể hiện hiểu biết của mình.
19
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều học sinh chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của
tự học, chưa có quan niệm đúng đắn về trách nhiệm của bản thân mình với gia đình
và xã hội nên còn mải chơi (đặc biệt là chơi điện tử), đua đòi nên thiếu thời gian
và sức lực dành cho việc tự học.
Kết luận Chương 1
Trên cơ sở phân tích các quan điểm dạy học hiện đại và nghiên cứu các cơ sở
lý luận về tự học. Trong chương này chúng tôi đề cập đến một số luận điểm lí luận
như sau:
- Những quan điểm về dạy học và xu hướng đổi mới phương pháp dạy học