I. GIỚI THIỆU
1.1 Đặt Vấn Đề
Những năm gần đây nghề nuôi tôm sú ở nước ta ngày càng phát triển mạnh.
Song song với sự phát triển đó, nhu cầu con giống cũng ngày càng tăng cao. Trước
tình hình đó, nhiều tỉnh ven biển có đủ điều kiện sản xuất giống tôm sú đã dần dần
hình thành mạng lưới hệ thống trại sản xuất giống, nhằm đáp ứng được nhu cầu giống
cũng như sẽ tìm được nguồn lợi nhuận không nhỏ từ việc sản xuất và cung cấp giống.
Cũng không ngoại lệ, nằm trên vùng lãnh thổ Việt Nam, Ninh Thuận là một
tỉnh duyên hải cực Nam Trung bộ có bờ biển dài 105km. Dọc theo bờ biển Ninh
Thuận có nhiều đầm, vònh, vùng cửa sông, bãi triều có thể sử dụng cho nuôi trồng
thủy sản. Ninh Thuận là một tỉnh có lượng mưa ít nhất trong cả nước (trung bình
750mm), ít sông ngòi, độ mặn nước biển luôn cao và ổn đònh (trung bình 32 – 35
0
/
00
).
Trong thực tế các năm qua cho thấy, nuôi trồng thủy sản ven biển ở Ninh
Thuận thực sự là thế mạnh của ngành thủy sản và không ngừng phát triển với tốc độ
khá cao, trở thành một ngành sản xuất hàng hóa quan trọng của đòa phương. Nuôi
tôm thương phẩm và sản xuất giống tôm sú là hai nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhất. Ninh Thuận hiện có khoảng 1.513ha nuôi tôm sú, hàng năm cung cấp khoảng
4.000 tấn tôm nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, đồng thời giải quyết công ăn việc
làm cho hơn 5.000 lao động, điều này không thể không kể đến sự góp phần không
nhỏ của nghề sản xuất giống của huyện Ninh Hải nói riêng và trong cả tỉnh nói chung
đã đống góp tích cực nhất trong nhiệm vụ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân trong đòa phương.
Tuy nhiên trong những năm vừa qua, từ cuối năm 2001 đến đầu 2002 và đặc
biệt là từ cuối năm 2003 đến nay các trại nuôi tôm giống đã và đang đối mặt với rất
nhiều khó khăn. Trên tất cả các vùng sản xuất giống tôm sú của cả nước đều xuất
hiện bệnh đỏ thân, đốm trắng, ngoài ra còn các bệnh nhiễm khuẩn thông thường và
chủ yếu do nhóm Vibrio gây ra cũng trở nên khó điều trò. Dòch bệnh xảy ra liên miên,
Download» Agriviet.com
3
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Tôm Sú
Tôm sú hay còn gọi là tôm sú rằn hay tôm cỏ là loài tôm biển có kích thước
lớn, trên cơ thể tôm sú có nhiều sọc màu xám đậm hơi xanh hoặc nâu đỏ, tôm có
chủy dài hơi cong và có 6 – 8 gai trên chủy.
2.1.1 Phân loại
Tôm sú thuộc:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Branchiata
Lớp: Cructacea
Lớp phụ: Melacostrace
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Nantatia
Họ: Penaeidae
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon
Tên khoa học:
Penaeus monodon
(Fabricius 1798)
từ 25 – 30
0
C, nếu thấp hơn 15
0
C và cao hơn 35
0
C sẽ gây nguy hiểm và tôm bắt đầu
chết (theo Trần văn Hòa, Trần Văn Đởm và Đặng Văn Khiêm, 2001).
Trong khoảng pH từ 7,5 – 8,5 là thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của
tôm, tuy nhiên tôm có thể thích nghi được trong khoảng pH từ 6,0 – 10,0 nhưng sự dao
động trong ngày phải nhỏ hơn 0,5 đơn vò (theo Đào Mạnh Sơn, Đào Tấn Hỗ, Hà Đức
Thắng, Nguyễn Chính, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Hữu Đại, Nguyễn Hữu Phụng,
Nguyễn Thò Xuân Thu, Nguyễn Văn Chung, Phạm Thò Nhàn, Phạm Thược và các
ctv., 2003).
Tôm sú (Penaeus monodon) là loài rộng muối nhưng cũng tùy từng giai đoạn
phát triển của tôm mà có khả năng tồn tại và phát triển ở diêm độ từ 0 – 45
0
/
00
(Trần Văn Hòa, Trần Văn Đởm và Đặng Văn Khiêm, 2001).
Giống như các loài sống trong nước khác, tôm sú cũng cần có oxy để hô hấp,
hàm lượng oxy hòa tan cần thiết để tôm sống và phát triển từ 3 – 12mg/L, mức oxy
hòa tan tối ưu để tôm phát triển tốt là từ 4 – 7mg/L.
Ngoài ra tôm sú sống thích hợp với hàm lượng Amoniac (NH
3
) thấp hơn
0,1mg/L, mức độ gây độc của NH
3
tùy thuộc vào pH, khi pH càng cao thì sẽ tăng độc
6Hình 2.2 Phân biệt tôm đực (phải) và tôm cái (trái)
(
Nguồn:
Phạm Văn Nhỏ, 2002)
Tuổi thành thục sinh dục của tôm đực và tôm cái trong tự nhiên từ tháng thứ
tám trở đi. Xác đònh sự thành thục của tôm cái dễ hơn, chỉ cần quan sát có túi tinh ở
cơ quan sinh dục phụ. Phương pháp xác đònh sự thành thục của con đực khó hơn, chỉ
khi nào tìm thấy được tinh trùng ở cuối ống dẫn tinh. Thường thì dựa vào trọng lượng
để xác đònh khi con đực nặng từ 50g trở lên.
Số lượng trứng đẻ của tôm cái nhiều hay ít là phụ thuộc vài chất lượng của
buồng trứng và trọng lượng của cơ thể. Con cái có trọng lượng cơ thể từ 100 – 300g
cho 300.000 – 1.200.000 trứng nếu thành thục ngoài tự nhiên, còn nếu cắt mắt nuôi
vỗ trong bể xi măng thì thành thục và đẻ cho số lượng trứng từ 200.000 – 600.000
trứng.
Tôm cái đẻ trứng vào ban đêm (thường từ 22 giờ đến 2 giờ ), trứng sau khi đẻ
được 14 – 15 giờ, ở nhiệt độ 27 – 28
0
C sẽ nở thành ấu trùng và sau đó phát triển qua
các giai đoạn sau:
- Nauplius (N): trải qua sáu giai đoạn biến thái từ (N
1
– N
6
), giai đoạn này
chưa ăn mà chỉ sống dựa vào chất noãn hoàng trong cơ thể. Thời gian biến thái từ N
1
) có chiều dài 4mm, chân bơi phân nhánh, sau 24 – 48 giờ thành
Postlarvae.
Z
1
Z
2
Z
3
Download» Agriviet.com
8
Hình 2.4 Các giai đoạn phát triển của hậu ấu trùng
(Nguồn: Phạm văn Nhỏ, 2002)
- Postlarvae đã phát triển các phần phụ như tôm trưởng thành, bắt đầu hướng
về trước, có tập tính sống đáy (công ty TNHHSX – TM – DV Ngọc Hà, kỹ thuật nuôi
từ nauplii thành phostlarvae, 2004).
Tôm sú đẻ quanh năm nhưng tập trung vào hai thời kỳ chính là từ tháng
3 – 4 và tháng 7 – 10.
2.1.5 Tập tính dinh dưỡng
Tôm sú là loài ăn tạp và đặc biệt là giáp xác, vật chất hữu cơ dưới nước
(mảnh vụn hữu cơ,…), có tập tính ăn lẫn nhau. Chúng thường hoạt động bắt mồi tích
cực vào ban đêm và thường tập trung ở đáy ao vào ban ngày. Tôm sú có khả năng
tận dụng nguồn đạm động thực vật cao hơn các loài tôm khác.
2.1.6 Trò một số bệnh thường gặp
Trong quá trình sản xuất cần phải thường xuyên quan sát ấu trùng qua kính
hiển vi, khi thấy xuất hiện dấu hiệu gây bệnh thì cần phải trò ngay mới mang lại hiệu
quả cao hơn.
2.1.6.1 Bệnh vi khuẩn dạng sợi (Filamentous bacteria)
Bệnh này thường gặp ở giai đoạn Poslarvae, các sợi nấm bám đầy các phần
trên các con tôm sống, đốm sáng rất nhỏ và nhiều trên phần cơ thòt của tôm thì đó là
bệnh Vibrio harveyi và Vibrio splendidus gây nên.
Do bản thân các loại Vibrio này có nguồn gốc từ nước biển nên việc phòng
bệnh sẽ thông qua việc xử lý thật kỹ nguồn nước nuôi.
2.1.6.5 Bệnh do nguyên sinh động vật (Protozoea)
Bệnh này do một số loài nguyên sinh động vật như Zoothammium, Rpistylis,
Vorticella, Acineta,… chúng tấn công vào mắt, mang, các phần phụ của tôm làm cho
tôm yếu, kém ăn và di chuyển khó khăn rồi chết.
Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu là do chăm sóc kém, làm cho môi trường
nuôi bò xấu, hàm lượng các chất hữu cơ trong bể cao, tạo điều kiện cho nguyên sinh
động vật phát triển.
Với bệnh này có thể điều trò bằng Chloroquin disphosphate 1,1ppm liên tục
trong hai ngày, hay tắm Formaline 25 – 30ppm trong vòng 15 – 20 phút.
Download» Agriviet.com
10
2.2 Điều Kiện Tự Nhiên của Tỉnh Ninh Thuận
2.2.1 Vò trí đòa lý
Ninh Thuận là một tỉnh cực Nam Trung bộ, được tách ra từ tỉnh Thuận Hải cũ
(tháng 04/ 1992), vò trí đòa lý từ 11
0
18
’
14” độ vó Bắc và 108
0
39
’
08” – 109
0
14
”
Đông. Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 60km, phía Tây giáp
huyện Ninh Sơn, phía Nam giáp thò xã Phan Rang, phía Bắc giáp huyện Cam Ranh
(Khánh Hòa).
Huyện có quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất chạy qua, nằm liền kề với
huyện Cam Ranh – nơi có cảng Cam Ranh, cách thò xã Phan Rang không xa.
Với vò trí đòa lý, vùng biển như trên sẽ là yếu tố khai thác các tiềm năng về
nuôi trồng, khai thác đánh bắt thủy sản, về du lòch của Ninh Hải nói riêng và của
Ninh Thuận nói chung phát triển qua việc tiếp cận khoa học kỹ thuật, chuyển giao
công nghệ, đẩy mạnh phát triển hàng hóa và giao lưu kinh tế với các tỉnh Đông Nam
bộ, vùng duyên hải miền Trung.
2.2.2 Đặc điểm đòa hình
Đòa hình của huyện có độ dốc thấp dần từ Bắc xuống Nam, toàn huyện được
chia làm ba
loại đòa hình chính:
2.2.2.1 Đòa hình đồi núi
Vùng đất đồi núi chủ yếu phân bố ở phía Bắc của huyện. Đòa hình chủ yếu là
các đồi núi Granit có độ dốc lớn, độ cao từ +500 -> +1.000m, nơi cao nhất là đỉnh núi
Chúa +1.130m, đòa hình này có diện tích 23.440 ha chiếm 41,03% diện tích toàn
huyện.
2.2.2.2 Đòa hình đất cát ven biển
Loại đòa hình này nằm ở phía Đông và phía Nam của huyện, thuộc bốn xã:
Vónh Hải, Khánh Hải, Tri Hải và Phương Hải. Đòa hình chủ yếu là các dãi đất cát đến
cát pha có độ cao dưới 10m, tạo thành một dãy dài và hẹp chạy dọc ven biển. Diện
tích tự nhiên là 26.508,2ha chiếm 46,40% diện tích toàn huyện. Download» Agriviet.com
11
Lớn nhất 35,5 35,2 35,5 36,4 38,9 39,0 39,9 38,3 37,7 34,1 33,8 33,2
Trung bình 24,4 25,4 26,9 28,1 28,8 28,7 28,6 28,8 27,2 26,4 25,9 29,8
Nhỏ nhất 16,9 17,9 19,6 21,2 22,9 23,2 22,2 21,2 20,8 20,8 18,7 17,2
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
Lượng mưa:
- Lượng mưa bình quân nhiều năm: 717 – 750mm.
- Lượng mưa năm cao nhất: 1.390mm.
- Lượng mưa năm thấp nhất: 290mm.
Download» Agriviet.com
12
Số ngày mưa trong năm bình quân là 60 ngày, mưa tập trung vào ba tháng
9, 10, 11 chiếm 80% lượng mưa cả năm. Trong mùa khô từ tháng 12 – 08 năm sau
lượng mưa rất nhỏ và không đáng kể. Lượng mưa hàng năm biến đổi lớn và vùng đồi
núi có số ngày mưa nhiều hơn.
Là một huyện mưa ít nhất toàn quốc, khô hạn kéo dài tám đến chín tháng.
Chế độ mưa ẩm, khô hạn và nóng quanh năm.
Bảng 2.2 Phân phối lượng mưa trong năm
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Lượng mưa
mm 6,5 1,5 6,8 14,1 55 46,8 34,8 45,9 120 162,7 139 58,8
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
Bão lụt và áp thấp nhiệt đới:
- Đặc trưng của bão là gió xoáy kết hợp mưa lớn trên diện rộng và di chuyển
theo hướng gió, sức gió lên đến cấp 8 – 12. Áp thấp nhiệt đới là những vùng áp suất
thấp của không khí hình thành trên vùng biển nhiệt đới, sức gió ở trung tâm áp thấp
nhiệt đới đạt tới cấp 6 – 7.
- Theo số liệu thống kê hàng năm thì Ninh Hải cũng như Ninh Thuận nói
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
Chú thích:
TCN: Tiêu chuẩn ngành
Theo yêu cầu chung của Bộ Thủy Sản về việc sản xuất giống cũng như tiêu
chuẩn về trại sản xuất giống thì cần có một số yếu tố thủy lý hóa phù hợp cho nhu
cầu này là:
- Các yếu tố cơ bản về độ mặn, pH, oxy hòa tan và một số yếu tố khác đều
thích hợp với yêu cầu kỹ thuật sản xuất tôm giống.
- Nước biển trong sạch không màu, không mùi, độ trong tốt, không bò ô nhiễm
nên bảo đảm cho quá trình sản xuất tôm giống.
2.2.4 Sông ngòi
Ninh Hải là huyện nằm trong vùng thiếu nước của tỉnh, các sông suối tự nhiên
có lưu vực nhỏ, ngắn, dốc, chỉ có lượng nước mùa mưa, mùa khô thiếu nước. Nguồn
nước cấp và hệ thống sông suối hiện tại có:
- Suối Bà Râu: diện tích lưu vực là 33km
2
, chiều dài dòng chính là 5,5km.
Download» Agriviet.com
14
- Suối Đồng Nha: diện tích lưu vực là 37km
2
, chiều dài sông chính là 11km.
- Suối Kiền Kiền: diện tích lưu vực là 22km
2
và một số sông suối nhỏ không
đáng kể như suối Nước Ngọt,…
2.2.5 Tài nguyên đất
Là một huyện ven biển nên tài nguyên đất ở đây chủ yếu là đất cát, bên cạnh
Download» Agriviet.com
15
từ tháng năm đến tháng mười. Về mặt khoa học thì đây là những nét đặc trưng của
đòa phương về chế độ sóng vùng biển.
b) Thủy triều
Thủy triều là dạng chuyển động có chu kỳ của nước biển do tổ hợp các lực
hấp dẫn vũ trụ gây ra, trong đó chủ yếu là tổ hợp sức hút của mặt trăng và mặt trời.
Chế độ thủy triều vùng biển Ninh Hải có chế độ nhật triều không đều. Các dao động
triều cực đại từ tháng 6, 7 và tháng 11, 12. Số ngày nhật triều khống chế khoảng 18
– 20 ngày trong một tháng. Kỳ nước cường dao động từ 1,2 – 2,3m, kỳ nước kém
khoảng 0,5m. Các tháng dao động mức nước nhỏ nhất là tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9.
Sóng nhật triều chuyển động tònh tiến băng qua vùng biển theo hướng từ Đông Bắc
xuống Tây Nam.
2.3 Kinh Tế Xã Hội
Cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước và của tỉnh Ninh Thuận
trong thời kỳ đổi mới, trong những năm qua nền kinh tế của huyện Ninh Hải đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ, nhất là trong việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế – chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi.
Hệ thống giao thông rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của huyện như
tuyến đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A, tuyến đường tỉnh lộ nối liền với quốc lộ 27
đi Tây Nguyên, nhiều tuyến đường trong huyện được nâng cấp mở rộng.
Người dân sinh sống chủ yếu bằng bốn nghề chính là: nuôi trồng thủy sản
(gồm các xã: xã Khánh Hải, Tri Hải, Nhơn Hải, Vónh Hải, Phương Hải, Công Hải, Hộ
Hải, Tân Hải), làm ruộng muối: xã Khánh Hải, xã Tri Hải, Nhơn Hải, nghề biển (bao
gồm cả khai thác và làm nước mắm): xã Khánh Hải, Nhơn Hải, Vónh Hải, làm nông:
xã Khánh Hải, Hộ Hải, Nhơn Hải, Vónh Hải,… ngoài ra hiện nay nghề chăn nuôi gia
súc có sừng như bò, dê, cừu đang rất phát triển ở đòa phương với tổng đàn gia súc hơn
mười nghìn con.
Tình hình kinh tế xã hội của huyện cho đến nay đã phát triển tương đối khá,
năm 1989 – 1990. Cho đến nay, số lượng các trại sản xuất đã phát triển lên đến hàng
nghìn trại. Đây là con số cho chúng ta thấy sự gia tăng nhanh chóng của nghề sản
xuất giống tôm sú trong cả nước.
Từ cuối năm 2001 và đầu năm 2002 các trại nuôi tôm giống đã và đang đối
mặt với rất nhiều khó khăn. Trên tất cả các vùng sản xuất giống tôm sú trong cả nước
đều xuất hiện bệnh đỏ thân, đốm trắng, ngoài ra còn có các bệnh nhiễm khuẩn thông
thường và chủ yếu là do nhóm Vibrio gây ra cũng khó điều trò.
Với chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản và các chủ trương chuyển dòch
cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của chính phủ đã tạo ra sự chuyển đổi một phần lớn
diện tích đất, đặc biệt là đất cát ven biển được khai khẩn để sản xuất và nuôi trồng
thủy sản, đưa diện tích nuôi trồng thủy sản trong hai năm gần đây tăng gần gấp đôi
và hiện nay ở mức gần một triệu ha trong phạm vi cả nước. Hàng vạn gia đình có
công ăn việc làm và thu nhập ổn đònh.
Tuy nhiên ở một số nơi quy hoạch vùng nuôi tôm chưa đáp ứng nhu cầu phát
triển nuôi tôm bền vững, hiệu quả. Việc chuyển đổi diện tích nuôi tôm ồ ạt trong khi
các điều kiện cần thiết như hạ tầng thủy lợi cấp thoát nước, trang bò kỹ thuật nuôi,
Download» Agriviet.com
17
Nước
biển
kiểm dòch, kiểm soát môi trường chưa đáp ứng kòp thời dẫn đến hiện tượng tôm nuôi
bò chết hàng loạt ở nhiều nơi như Bạc Liêu, Sóc Trăng, Ninh Thuận,…
Cả nước có hơn 4.000 trại sản xuất giống tôm sú với sản lượng trên 16 tỷ Post,
khu vực sản xuất giống nhiều nhất là tỉnh Khánh Hòa
Nghề sản xuất giống phát triển cả về hình thức, số lượng lẫn chất lượng, người
sản xuất đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật để dần tăng năng suất cũng như chất
lượng con giống.
2.6 Tình Hình Sản Xuất ở Ninh Thuận
Cấp nước sử dụng
trong nuôi ấu trùng
Download» Agriviet.com
18
Sơ đồ 2.1 Quy trình xử lý nước giai đoạn 1983 – 1988
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
Sơ đồ 2.2 Quy trình xử lý nước giai đoạn 1990 – 1995
(
Nguồn
: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004) Sơ đồ 2.3 Quy trình xử lý nước giai đoạn 1995 – 1998
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian và Đòa Điểm
Bể chứa
2
Bơm qua
bể chứa1
Bể lọc
2
Nước cấp cho
bể ương nuôi
ấu trùng
Download» Agriviet.com
19
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 04/ 2005 đến tháng 07/ 2005.
Đòa điểm thực hiện tại các xã như xã Nhơn Hải, Khánh Hải, Tri Hải, Vónh Hải
thuộc huyện Ninh Hải.
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.2.1 Phương pháp điều tra
3.2.1.1 Số liệu sơ cấp
Điều tra 65 hộ có sản xuất giống tôm bằng hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên,
phỏng vấn trực tiếp với chủ trại, kết hợp với điều tra và trực tiếp thảo luận với người
dân về các vấn đề: môi trường, sản lượng, nguồn tín dụng, dòch bệnh. Mỗi đòa phương
có diện tích sản xuất khác nhau nên cũng có số hộ điều tra khác nhau.
3.2.1.2 Số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu thứ cấp từ các phòng ban của Ủy Ban Nhân Dân huyện Ninh
Hải như: phòng Nông Nghiệp, phòng Thống Kê, phòng Kinh Tế, phòng Đòa Chính,
phòng Văn Hóa Thông Tin, Sở Thủy Sản Ninh Thuận và Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh
Ninh Thuận.
3.2.2 Phương pháp phân tích kết quả và xử lý số liệu
Sau khi điều tra thu thập số liệu chúng tôi sử dụng phần mềm Excel để tính
các giá trò trung bình, lớn nhất, nhỏ nhất,… của các yếu tố sản xuất dựa trên những
ba khu vực chính đã được quy hoạch thuộc ba đơn vò là Ninh Hải, Bình Sơn và Ninh
Phước ngoài ra còn có nhiều trại rải rác ở những đòa phương khác. Do hiệu quả kinh
tế của nghề sản xuất tôm giống nên tốc độ phát triển nhanh.
Bảng 4.1 Số trại và sản lượng tôm giống toàn tỉnh từ năm 1992 – 2003
Năm 1992 1996 1998 1999 2000 2002 2003
Số trại 14 66 140 210 250 850 1.169
Số m
3
bể 560 2.910 17.610 11.385 13.875 80.000 100.000
Công suất thiết kế 70 500 1.042 1.630 1.980 4.000 5.000
(triệu PL/năm)
Thực tế sản xuất 50 340 900 1.150 1.300 2.500 3.500
(triệu Post)
Năng suất bình quân 3,6 5,15 6,4 5,4 6,0 5,0 5,2
triệu Post/trại
(Nguồn: Sở Thủy Sản Ninh Thuận, 2004)
Chú thích:
PL: Post Larvae
Qua thực tế của nghề sản xuất tôm giống như bảng số liệu trên đây có thể
nhận xét và đánh giá như sau:
Download» Agriviet.com
22
- Tốc độ phát triển các trại giống khá nhanh, năm 1992 cả tỉnh mới chỉ có 14
trại, năm 1996 phát triển lên 66 trại và trong vòng 5 năm (từ 1996 – 2000) số trại đã
tăng lên 250 trại (tức tăng gấp 3,78 lần). Bình quân mỗi năm phát triển thêm 30 trại,
trong đó giai đoạn từ 1996 – 2000 bình quân mỗi năm tăng 46 trại. Từ năm 2000
– 2002 số trại giống đã tăng đột biến, chỉ riêng hai xã An Hải và Nhơn Hải đã có gần
500 trại sản xuất tôm giống và đây là giai đoạn ăn nên làm ra của nghề sản xuất
giống tôm sú nên đã có nhiều trại giống mới được xây dựng và phát triển một cách tự
216
71
410
72
300
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
1995 1996 1997 1998 1999 2000
Số trại Năng suất
Đồ thò 4.1 Số trại và năng suất những năm đầu mới hình thành
(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Ninh Hải, 2001) Số lượng
Năm
Download» Agriviet.com
23
Qua Đồ thò 4.1 có thể nhận xét như sau:
- Qua sáu năm trên đòa bàn huyện Ninh Hải đã phát triển khá nhanh chóng, số
trại sản xuất giống đã tăng lên từ 12 trại (năm 1995) lên 72 trại (năm 2000), tăng gấp
không ổn đònh, thua lỗ kéo dài nên đã có nhiều trại liên kết sản xuất với các cơ sở
sản xuất có hiệu quả khác hoặc bỏ hoang hay bán trại chuyển sang nghề khác.
4.2.1 Diện Tích
Download» Agriviet.com
24
Do lợi nhuận mang lại từ nghề sản xuất giống cao hơn nhiều ngành nghề khác
nên trong năm 2001 và nhất là năm 2002 số trại giống đã tăng lên đáng kể, đa phần
là tự phát nên chính quyền đòa phương không nắm hết được toàn bộ số liệu thống kê
về diện tích trại sản xuất giống, chiếm đa số là khu vực Khánh Nhơn, Mỹ Tường
thuộc xã Nhơn Hải.
Sau bảy năm hình thành và phát triển, trên đòa bàn huyện Ninh Hải đã phát
triển khá nhanh về số lượng trại, khi mới hình thành (năm 1995) toàn huyện chỉ có 12
trại nhưng đến năm 2002 số lượng trại đã tăng lên 723 trại (tăng 60,25 lần) và sản
lượng tôm Post sản xuất ra cũng được tăng lên từ 48 triệu con (năm 1995) lên 900
triệu con (năm 2002) tăng gần 19 lần.
2%
5%
25%
27%
41%
0%
10%
20%
30%
40%
50%
Đất ở Chuyên
dùng
Nông
Toàn huyện 723 715 8 0
(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Ninh Hải, 2005)
Trong những năm từ 2002 – 2004 đã có sự phân bố về số lượng trại giống ở
các đòa phương trong huyện có sự thay đổi rõ rệt.
Do điều kiện trại sản xuất nằm trong vùng dân cư như ở xã Khánh Hải (phần
lớn là ngư dân khai thác biển) nên quy mô trại không lớn, ngoài ra còn bò ảnh hưởng
bởi hoạt động đời sống dân cư ở đây nên trong giai đoạn khó khăn này đã có nhiều
trại không đủ sức để đứng vững nên đã phải chuyển đổi hình thức kinh doanh hoặc
sát nhập với những trại khác có uy tín hơn,…
Có thể nói Nhơn Hải là một xã có nghề sản xuất giống tôm sú ra đời sau các
xã khác trong huyện như Khánh Hải, Tri Hải nhưng nhờ có điều kiện tự nhiên ưu đãi
như có bờ biển dài hơn các xã khác, bờ biển ở đây không nằm trong khu vực có đông
dân cư sinh sống nên không bò ảnh hưởng bởi chất thải sinh hoạt,… nên chỉ mới ra
đời cách đây không lâu nhưng số lượng trại đã lên đến 526 trại (nhiều hơn các xã
khác).
Khu vực sản xuất giống của xã Tri Hải nằm trong vùng có đòa hình và điều
kiện tương đối thích hợp cho hoạt động của nghề sản xuất giống, tuy nhiên ở đây
chưa phát huy được ưu điểm của vùng. Để phát huy được các điều kiện mà thiên
nhiên ưu đãi này và để cho nghề sản xuất giống nơi đây phát triển cả về chiều sâu
và chiều rộng thì cần phải có chương trình quy hoạch cụ thể – phát triển bền vững. Bảng 4.3 Quy mô diện tích trại sản xuất giống