TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI TP.HCM
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh XUẤT KHẨU GẠO VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC Họ và tên sinh viên: Lưu Thành Nhân
Mã sinh viên: 1001025505
Lớp: A3
Khóa: K49A
Người hướng dẫn khoa học: Trần Văn Hoàng Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2013 NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.2. Giới thiệu về gạo Việt Nam 10
1.2.1. Chủng loại 10
1.2.2. Diện tích 11
1.2.3. Chất lượng sản phẩm 11
1.2.4. Hệ thống chế biến 12
1.3. Thị trường Trung Quốc và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giai đoạn 2004-2013 12
1.3.1. Tổng quan về thị trường Trung Quốc 12
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam sang
thị trường Trung Quốc 14
1.4. Tầm quan trọng của xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc 17
1.4.1. Về lợi ích kinh tế 18
1.4.2. Về xã hội 19
1.4.3. Về hội nhập quốc tế 19
1.4.4. Về sự phát triển ngành nông nghiệp nói chung và ngành gạo nói riêng
của Việt Nam 19
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN
2004-2013 21
2.1. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giai
đoạn 2004 – 2013 21
2.1.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu 21 2.1.2. Chất lượng và cơ cấu sản phẩm 32
2.1.3. Giá cả 32
2.1.4. Kênh phân phối 37
2.1.5. Hình thức xuất khẩu và phương thức thanh toán 37
2.2. Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Việt
Diễn nghĩa từ bằng tiếng Anh
Diễn nghĩa từ bằng tiếng Việt
APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á-Thái Bình Dương
ASEAN
Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông
Nam Á
Bộ
NN & PTNT
Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
ĐNB
Đông Nam Bộ
EU
European Union
Liên minh châu Âu
GAC
Vietnamese Good Agricultural
Practices
Thực hành sản xuất nông nghiệp
tốt ở Việt Nam
XK
Xuất khẩu
WTO
World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng biểu
Tên bảng biểu
Trang
Bảng 1.1
Giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam sang
một số thị trường trên thế giới
18
Bảng 2.1
Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung
Quốc giai đoạn 2004 – 8/2013
21
Bảng 2.2
Xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc năm 2010
23
Bảng 2.3
Giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam sang Trung Quốc năm
giai đoạn 2006-2013
41 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền nông nghiệp đã tồn tại từ những ngày đầu của nước Việt Nam. Nhờ có
điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ thống sông ngòi dày đặc, nông nghiệp ở nước ta
phát triển trên phạm vi cả nước. Một trong những sản phẩm nông nghiệp điển hình
ở Việt Nam được cả thế giới biết đến đó là gạo. Hoạt động xuất khẩu gạo đang được
Việt Nam duy trì cũng như phát triển mạnh về qui mô cũng như chất lượng trên
phạm vi thế giới. Trong những năm gần đây, một trong những thị trường tiêu thụ
gạo lớn của thế giới và đầy tiềm năng đã gia nhập thị trường nhập khẩu gạo của
Việt Nam là Trung Quốc.
Mối quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc đã có từ rất lâu, có nhiều nét tương
đồng và hiểu nhau rất rõ. Với dân số hơn 1,3 tỷ người, thị trường Trung Quốc luôn
là thị trường đầy tiềm năng đối với bất kỳ sản phẩm lương thực nào trên thế giới.
Tuy là một nước sản xuất gạo hàng đầu thế giới, nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung
Quốc trong khoảng 2 năm trở lại đây có xu hướng tăng khá nhanh và thị trường
Việt Nam đang là thị trường nhập khẩu gạo số một của Trung Quốc – theo các số
liệu thống kê. Điều này giúp Việt Nam có cơ hội mở rộng kim ngạch xuất khẩu và
tăng thêm nguồn ngoại tệ cho nền kinh tế, phát triển bền vững nền nông nghiệp
trong nước.
Trong tình hình hiện tại, việc nghiên cứu, phân tích thực trạng xuất khẩu mặt
hàng này sang Trung Quốc là rất cần thiết. Các phân tích cụ thể sẽ giúp đề ra giải
pháp phù hợp có tính chiến lược lâu dài để giải quyết những khó khăn, tồn tại mà
ngành gạo của Việt Nam đang gặp phải. Đây là lý do tác giả chọn đề tài “Xuất khẩu
gạo của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Kết
đến cán bộ, giảng viên trường Đại học Ngoại Thương Cơ sở II tại thành phố Hồ Chí
Minh, đặc biệt là giáo viên hướng dẫn khoa học Trần Văn Hoàng, người đã tận tình
hướng dẫn tác giả trong quá trình viết khóa luận này.
Do giới hạn về thời gian, dung lượng của khóa luận, kinh nghiệm và kiến thức
của người viết nên nội dung của khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, khiếm
khuyết. Rất mong sự đóng góp của thầy cô, các bạn sinh viên và những người quan
tâm để xây dựng khóa luận tốt hơn. Xin chân thành cám ơn. 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TẦM QUAN
TRỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM
SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
1.1. Tổng quan về xuất khẩu
Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh doanh quan trọng của ngoại
thương, phản ánh mối quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong khu
vực và trên thế giới. Hoạt động xuất khẩu hiện nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu,
trong tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền kinh tế, từ vật phẩm tiêu dùng đến tư
liệu sản xuất, từ các chi tiết linh kiện nhỏ nhất đến các loại máy móc phức tạp, các
loại công nghệ kỹ thuật cao, không chỉ có hàng hóa hữu hình mà cả hàng hoá vô
hình và với tỷ trọng ngày càng lớn.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm
Xuất khẩu hàng hóa là việc bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các quốc gia
khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, trong đó có sự chuyển dịch
hàng hóa ra khỏi biên giới hải quan. Hoạt động xuất khẩu không chỉ đơn thuần
mang lại lợi nhuận cho các bên chủ thể tham gia vào hoạt động này mà còn có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Hoạt động xuất khẩu mang
lại nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực sản xuất
những rào cản, khó khăn và thu về lợi nhuận cao. Đây là một điều tất yếu quan
trọng trong suốt hoạt động xuất khẩu, từ nghiên cứu, định hướng thị trường, đối
tượng tiêu dùng đến các hoạt động vận chuyển, phân phối, thanh toán hàng hóa,
dịch vụ.
Hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và Nhà
nước. Nó thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp về quy mô sản xuất và quy mô
hoạt động, tạo điều kiện cho đất nước rút ngắn thời gian thực hiện việc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nhờ các khoản thu ngoại tệ, các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
cho hoạt động sản xuất trong nước, đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế với các nước
và tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới.
1.1.2. Phân loại
1.1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu từ nước người bán (nước xuất
khẩu) sang trực tiếp nước người mua (nước nhập khẩu) không thông qua nước thứ
ba (nước trung gian). Theo hình thức này, nhà sản xuất trực tiếp bán sản phẩm cho
5
khách hàng nước ngoài ở khu vực thị trường nước ngoài thông qua tổ chức, chi
nhánh của mình, có thể là công ty con hoặc chi nhánh bán hàng tại nước ngoài và
thu lại lợi nhuận.
Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm là các nhà xuất khẩu tiếp xúc trực tiếp thị
trường và khách hàng, nắm bắt tình hình chính trị, văn hóa, pháp luật, xã hội của thị
trường rõ ràng và cụ thể, kiểm soát được nhiều hơn tiến trình xuất khẩu. Nhờ đó,
hoạt động xuất khẩu thực hiện nhanh, chất lượng sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu
của khách hàng. Các doanh nghiệp xuất khẩu không phải chia sẻ quyền lợi của mình
với các tổ chức trung gian nên lợi nhuận cao hơn và có điều kiện tiếp thu kinh
nghiệm xuất khẩu sang môi trường quốc tế.
Tuy nhiên, hạn chế của hình thức này là doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải chịu
rủi ro lớn, tốn nhiều thời gian, chi phí để tìm hiểu, mở rộng thị trường và tự tổ chức
hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp nhỏ khó có cơ hội để thâm
biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, tiết kiệm được ngoại tệ.
1.1.2.4. Tái xuất
Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hoá
từ bên ngoài vào, sau đó lại xuất khẩu sang một thị trường thứ ba.
Hình thức này được áp dụng khi một doanh nghiệp không sản xuất được hay
sản xuất được nhưng với khối lượng ít, không đủ để xuất khẩu nên phải nhập vào để
sau đó tái xuất.
Hoạt động giao dịch tái xuất bao gồm hai hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu
với mục đích thu về một khoản ngoại tệ lớn hơn lúc ban đầu bỏ ra. Các bên tham
gia gồm có: nước xuất khẩu, nước tái xuất khẩu và nước nhập khẩu.
1.1.2.5. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là hình thức xuất khẩu mà hàng hoá và dịch vụ chưa vượt qua ngoài biên
giới hải quan nhưng hoạt động xuất khẩu vẫn được thực hiện. Theo đó, một người
mua ở nước ngoài, sau khi kí hợp đồng nhập khẩu hàng hóa của một doanh nghiệp
tại một nước, sẽ chỉ định giao hàng hóa cho một khách hàng khác, đã có thỏa thuận
với người mua, ngay tại nước đó.
Hoạt động này có thể đạt được hiệu quả cao do hàng hoá không cần phải vượt
qua biên giới quốc gia nên doanh nghiệp tránh được một số thủ tục rắc rối của hải
quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm hàng hoá trong khi
vẫn có thể thu được ngoại tệ. Do đó, giảm được một lượng chi phí khá lớn.
1.1.2.6. Gia công xuất khẩu
7
Gia công quốc tế là một hình thức kinh doanh trong đó một bên (nhận gia
công) nhập khẩu nguyên liệu hay bán thành phẩm của bên khác (bên đặt gia công)
để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao gia công
(phí gia công).
Hình thức xuất khẩu gia công quốc tế đang phát triển mạnh mẽ và được nhiều
quốc gia, trong đó đặc biệt là quốc gia có nguồn lao động dồi dào, tài nguyên phong
phú, áp dụng rộng rãi vì thông qua hình thức gia công, ngoài việc tạo việc làm và
Chính phủ không phụ thuộc vào những ràng buộc, thỏa thuận từ các nguồn đầu tư,
tài trợ bên ngoài. Do đó, xuất khẩu là một phương cách tích lũy ngoại tệ hữu hiệu
cho quốc gia, tránh tạo ra tình trạng nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thương mại.
1.1.3.2. Hoạt động xuất khẩu là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Xuất khẩu đóng góp tích cực vào sự phát triển của quốc gia nhờ vào các tác
động tích cực của xuất khẩu đến nguồn nhân lực, quy mô hoạt động, sự phát triển
của các doanh nghiệp và nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường thương mại
thế giới.
Thứ nhất, các nguồn lực trong nước sử dụng hiệu quả hơn nhờ vào xuất khẩu.
Trước khi xuất khẩu, các quốc gia sẽ bị hạn chế rất nhiều về thị trường tiêu thụ nên
các hoạt động sản xuất thường chỉ ở mức trung bình, trình độ công nghệ, kĩ thuật
lúc này chưa cao. Từ khi đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, nguồn lực về vốn, trí tuệ,
kĩ thuật, nguyên liệu phục vụ cho sản xuất được nâng cao, hiện đại hóa hơn, mở ra
những hướng đi đầy triển vọng cho sản xuất trong nước
Thứ hai, việc mở rộng quy mô xuất khẩu tạo ra sự phân công lao động hợp lý
và có hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau. Đây
là điểm quan trọng đối với các đơn vị kinh tế tham gia chính vào hoạt động xuất
khẩu hàng hoá và dịch vụ. Dựa vào sự phân công lao động, các lợi thế so sánh của
quốc gia được phát huy hơn nữa, góp phần vào sự chuyên môn hóa, phân công lao
động quốc tế ngày càng chuyên nghiệp, thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển theo
kịp sự phát triển của thế giới.
Thứ ba, xuất khẩu là phương thức tồn tại và phát triển của nhiều doanh nghiệp,
mang lại lợi ích cho quốc gia, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa hiện này. Để có thể
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và không ngừng nâng cao tỷ trọng kim ngạch xuất
khẩu, các nhà sản xuất phải biết tận dụng các lợi thế của mình đồng thời luôn đổi
mới công nghệ, trang thiết bị phục vụ sản xuất, nắm bắt nhanh biến động thị trường
và phản ứng linh hoạt để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao thì mới tăng
9
được khả năng cạnh tranh hàng hoá của trên thị trường thế giới. Chính sự đầu tư đó,
10
tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao
của người dân.
Có thể thấy rằng, hoạt động xuất khẩu đã đóng góp rất lớn vào việc đẩy mạnh
hoạt động thương mại giữa các nước với nhau, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ, tạo nguồn vốn để phục vụ cho các hoạt động nhập khẩu, đầu tư quy mô,
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh, góp phần nâng cao đời sống
của nhân dân và tạo những điều kiện thuận lợi đối với quá trình phát triển kinh tế
của một quốc gia. Trong xu thế thế giới hiện nay đang đẩy mạnh khu vực hóa, toàn
cầu hoá, các quốc gia ngày coi trọng phát triển thương mại quốc tế nói chung và
hoạt động xuất khẩu nói riêng.tranh của các doanh nghiệp kinh doanh, góp phần
nâng cao đời sống của nhân dân và tạo những điều kiện thuận lợi đối với quá trình
phát triển kinh tế của một quốc gia. Trong xu thế thế giới hiện nay đang đẩy mạnh
khu vực hóa, toàn cầu hoá, các quốc gia ngày coi trọng phát triển thương mại quốc
tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
1.2. Giới thiệu về gạo Việt Nam
Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía bắc
và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Hàng năm sản lượng của cả nước đạt
33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu
tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự
trữ quốc gia.
1.2.1. Chủng loại
Ở mỗi miền Việt Nam có các giống lúa khác nhau. Có thể nói gạo Việt Nam
rất đa dạng về chủng loại. Ở miền Bắc, các giống lúa được chia làm 3 loại chính
gồm: giống lúa thuần Trung Quốc như Q5, Khang Dân 18, Ải 32, Bắc Thơm 7, Kim
Cương 90; giống lúa lại Trung Quốc như Nhị Ưu 838, D-Ưu 527; giống lúa thuần
Việt Nam như U17, XI 23, C70, CR 203, IR 64. Ngoài ra có thể kể đến một số loại
lúa cổ truyền của Việt Nam như Nếp Cái Hoa Vàng, Tám Xoan…Ở miền Nam nổi
bật có các giống lúa OM 576-18, IR 50404, OMCS 95-5, IR 62032, VND 95-20,
1.2.3. Chất lượng sản phẩm
Trong những năm qua, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tuy đã được
cải thiện song vẫn ở mức thấp hơn so với các nước xuất khẩu gạo khác của thế giới.
Hiện các loại gạo phẩm cấp cao của Việt Nam không nhiều và chủ yếu vẫn là loại
gạo phẩm cấp trung bình. Trong tỷ trọng xuất khẩu gạo 2001 thì gạo chất lượng cao
5% tấm chiếm 25%, gạo tấm 25% chiểm 32%, gạo 100% tấm chiếm 5%. Đến năm
12
2010 tỷ trọng gạo 5% tấm cũng chỉ tăng lên khoảng 30%, gạo 7-10% tấm chiếm
khoảng 8%, các loại gạo 15% tấm và 25% tấm chiếm tỉ trọng lớn nhất tới trên 55%
kim ngạch xuất khẩu. Năm 2012, trong cơ cấu gạo xuất khẩu của nước ta, chất
lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam còn kém, các loại gạo phẩm cấp cao như gạo 5%
tấm, gạo nếp, gạo thơm mới chiếm khoảng 50%.
Chất lượng gạo xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2013 qua như sau: gạo trắng cao
cấp chiếm tỷ trọng 35,9%; loại trung bình 21,8%; loại cấp thấp 16,6%; tấm 5,1%;
gạo thơm 12,9%; nếp 5,1%; gạo đồ 1,6%; gạo lứt 0,4% và lúa 0,4%. So với cùng kỳ
năm 2012, tỷ lệ gạo trắng xuất khẩu đã giảm mạnh đến 32,1%; loại trung bình tăng
4% và loại gạo cấp thấp tăng 26,6%; đặc biệt loại gạo thơm tăng mạnh đến 78,2%.
1.2.4. Hệ thống chế biến
Thông thường xay xát gạo gồm 6 bước: phơi khô, làm sạch, bỏ lớp vỏ trấu bên
ngoài, bỏ lớp cám, làm bóng và phân loại.
1.3. Thị trường Trung Quốc và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc giai đoạn 2004-2013
1.3.1. Tổng quan về thị trường Trung Quốc
Trung Quốc nằm ở phía đông châu Á, bờ tây Thái Bình Dương. Biên giới đất
liền của Trung Quốc dài hơn 20.000km, phía đông giáp Triều Tiên, phía đông bắc
giáp Nga, phía bắc giáp Mông Cổ, phía tây bắc giáp Nga, Kazakhstan, phía tây giáp
Kyrgyzstan, Tajikistan, Afganistan, Pakistan, phía tây nam giáp Ấn Độ, Nepal,
Bhutan, phía nam giáp Myanmar, Lào và Việt Nam. Đông và đông nam trông ra
biển. Trung Quốc là quốc gia lớn thứ 3 thế giới về tổng diện tích (sau Nga và Hoa
Trung Quốc kết thúc thời gian quá độ sau khi gia nhập WTO; tổng kim ngạch
thương mại đạt 1422 tỷ USD, tăng 23,2%, xếp thứ 3 trên thế giới (gấp 60 lần so với
năm 1978); dự trữ ngoại tê đạt 941 tỷ USD, đứng đầu thế giới. Kể từ năm 2003,
Trung Quốc đã vượt qua Mỹ trở thành nước thu hút đầu tư nước ngoài FDI lớn nhất
thế giới; năm 2005 FDI thực thế đạt 60,3 tỷ USD, đưa tổng số vốn đầu tư thực tế
vượt 620 tỷ USD. Năm 2009 tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đạt 2% với mức dự
trữ ngoại tệ đạt 2.399,152 tỷ USD. Năm 2011, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc
đạt 9,5%, tương đương tăng trưởng GDP 6.989 tỷ USD. (Phòng thương mại và công
nghiệp, 2013)
Năm 2012, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chỉ sau Mỹ, là thành
viên của WTO, APEC và G-20. GDP năm 2012 của Trung Quốc là 8.358 nghìn tỷ
USD, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2012 đạt 7,8%. Ngành là nông nghiệp 10,1%
trong cơ cấu GDP của Trung Quốc, trong khi công nghiệp chiếm 45,3%, dịch vụ
chiếm 44,6%. Tỷ lệ lạm phát công bố tháng 12/2012 là 2,5%. Tỉ lệ thất nghiệp là
vào quý IV 2012 là 4,1%. Nợ công là 22,15%, tương đối cao so với thế giới.
Trong lĩnh vực đối ngoại, năm 2012, xuất khẩu của Trung Quốc đạt 2.021
14
nghìn tỉ USD, chiếm 27,3% tổng giá trị GDP, trong đó giá trị xuất sang các thị
trường lớn là Mỹ 17,2%, Hồng Kông 15,8%, Nhật Bản 7,4% và Hàn Quốc 4,3%.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: máy móc thiết bị điện, máy móc gia công,
chế biến, sắt thép, dụng cụ y tế. Về nhập khẩu, tổng giá trị năm 2012 là 1.78 nghìn
tỷ USD, chiếm 24,5% tổng giá trị GDP, trong đó tỉ lệ các thị trường trọng yếu là
Nhật Bản 9,8%, Hàn Quốc 9,2%, Mỹ 7,1%, Đức 5,1% và Australia 4,3%. Các sản
phẩm nhập khẩu chủ yếu gồm: máy móc thiết bị điện, nhiên liệu, thiết bị y tế, quặng
kim loại, chất dẻo.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc năm 2012 là 253,4 tỉ USD,
tăng 10,84% so với năm 2011, trong đó quý I chiếm 25,09%, quý II chiếm 21,46%,
quý III chiếm 20,62%, quý IV chiếm 32,83%. Đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Trung Quốc năm 2012 là 62,4 tỉ USD, tăng 28,9% (tổng hợp từ Wikipedia 2012 và
bình quân hàng năm cao (26,9
o
C) và ít biến động; không có mùa đông giá lạnh và
đầy ánh sáng; mùa khô thường khô hơn; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 7, lượng
mưa hàng năm 1500 - 2000 mm; độ ẩm không khí bình quân 82%. Nước ta còn có
hệ thống sông ngòi dày đặc, đất đai màu mỡ, 2 vùng đồng bằng chính là sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long được phù sa bồi đắp hàng năm, diện tích rộng lớn,
bằng phẳng, rất thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Tuy nhiên, bên
cạnh những thuận lợi về đất đai, thổ nhưỡng, ảnh hưởng của thời tiết theo từng vùng
miền cũng tạo ra áp lực lớn đối với việc trồng lúa, nhất là khi nước ta thường xuyên
chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, hạn hán kéo dài làm giảm năng suất, gây
thiệt hại cho nông dân và mất đi cơ hội xuất khẩu.
- Nguồn nhân lực: Nhân lực ở đây bao gồm nguồn nhân lực trong hoạt động
nông nghiệp, bao gồm nông dân, nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp, các chuyên
viên nghiên cứu, phát triển nông nghiệp. Hiện tại, lực lượng lao động trực tiếp trồng
trọt chiếm tỷ lệ lớn trong lao động cả nước, khoảng 75% lực lượng lao động của cả
nước, đặc biệt người nông dân Việt Nam có kinh nghiệm trồng lúa từ lâu đời. Bên
cạnh đó, các hoạt động nghiên cứu về giống, các biện pháp bảo vệ cây trồng ảnh
hưởng rất lớn đến việc chăm sóc và thu hoạch lúa gạo để xuất khẩu. Các kĩ sư tại
các cơ sở nghiên cứu giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay các thiết bị máy
móc hỗ trợ cho công việc chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch đang
đóng vai trò không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả của ngành lúa gạo Việt Nam,
tạo điều kiện nâng cao giá trị của hoạt động xuất khẩu. Ngoài ra, nguồn nhân lực tại
các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu cũng ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị
16
xuất khẩu lúa gạo thông qua các hoạt động chế biến, tìm kiếm thị trường và thỏa
thuận về giá cả cho lô hàng.
- Điều kiện cơ sở hạ tầng, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật: Hệ thống
kênh rạch, tưới tiêu, hệ thống dẫn điện chiếu sáng, đường sá trong những khu vực
toàn thực phẩm, dịch tễ, về hạn ngạch nhập khẩu, thuế, về yêu cầu giấy phép ảnh
hưởng trực tiếp đến việc xuất khẩu gạo của nước ta. Đây là một yếu tố mà các
doanh nghiệp cũng như Chính phủ cần thường xuyên theo dõi nhằm thực hiện đúng,
tạo điều kiện cho việc đẩy mạnh xuất khẩu gạo những năm sau.
- Nhu cầu và thị hiếu: Nhu cầu gạo của thế giới trong những năm gần đây đã
tác động mạnh vào sản lượng và giá cả gạo xuất khẩu của nước ta, đặc biệt là Trung
Quốc. Do các năm gần đây thiên tai trên thế giới nhiều hơn và mức độ thiệt hại
cũng cao hơn, nhu cầu về gạo để đảm bảo an ninh lương thực của các quốc gia cũng
tăng theo. Về phía Trung Quốc, do một số chính sách gần đây mà giá gạo trong
nước đã tăng lên đáng kể, vì thế nhu cầu gạo giá rẻ tăng lên đột biến. Việc trồng trọt
trong nước cần được phân công rõ để đảm bảo được nguồn cung, sẵn sàng đáp ứng
các đơn hàng lớn của đối tác nước ngoài, nhất là các nước đang có nhu cầu nhập
khẩu gạo của nước ta. Đây sẽ là cơ hội tốt cho hoạt động xuất khẩu sau này. Đồng
thời, doanh nghiệp trong nước cần nắm bắt diễn biến nhu cầu và giá cả để đạt được
những hợp đồng có giá trị cao, mở rộng thêm thị trường.
- Sự cạnh tranh: Gạo Việt Nam trên thị trường thế giới có lợi thế về giá so
với giá chung của thế giới, tuy nhiên lại kém về chất lượng. Có thể lấy ví dụ như
Gạo Khao Dawk Mali của Thái Lan được đánh giá là trắng và mềm cơm hơn so với
gạo Trắng Việt Nam, dễ nấu hơn và ngọt hơn so với gạo Việt. Tuy vậy, giá của loại
gạo Thái trên khoảng 50 000 VND/kg so với chỉ 38 000 VND/kg của gạo Việt. Yếu
tố địa ly cũng là một điểm mạnh của Việt Nam. Chúng ta có đường biên giới với
Trung Quốc vì thế xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Quốc có lợi thế hơn
trong việc vận chuyển và cũng điều đó cũng giúp giảm giá thành. Thương hiệu gạo
xuất khẩu cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự cạnh tranh, trong đó giá và chất
lượng là hai yếu tố thể hiện rõ nhất năng lực cạnh tranh nhất của các nước xuất khẩu
gạo. Thương hiệu của gạo quốc gia càng mạnh thì hoạt động xuất khẩu càng được
đảm bảo, kim ngạch xuất khẩu được duy trì và phát triển ổn định.
1.4. Tầm quan trọng của xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc
Gạo Việt Nam hiện tại xuất khẩu trên 28 nước trên thế giới. Các thị trường lớn
của chúng ta gồm Indonesia, Philippins, Malaysia, Bờ Biển Ngà… Cả năm 2012
2006
104.617
429.249
139.551
52.953
26.753
12.442
2007
378.980
468.157
116.684
40.042
25.912
15.958
2008
34.823
1.178.032
271.426
74.997
41.222
1.426
2009
7.214
917.227
272.193
136.969
134.936
8.297
2010
346.017
Tính đến hết 10 tháng/2013, lượng xuất khẩu gạo đạt 5,85 triệu tấn, trị giá 2,57 tỷ
USD. Trong 10 tháng năm 2013, Việt Nam xuất khẩu gạo thị trường Trung Quốc
tổng giá trị là 1,93 triệu tấn, bằng 25% kế hoạch năm.
19
1.4.2. Về xã hội
Nhờ vào việc đẩy mạnh xuất khẩu gạo, người nông dân áp dụng các giống cây
mới, các biện pháp chăm sóc và tiêu chuẩn về chất lượng, giúp cho năng suất sau
thu hoạch cao, giá xuất khẩu lại cao, từ đó nâng cao đời sống nhân dân. Thêm vào
đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang Trung Quốc sẽ giúp giải quyết việc làm cho
những người thất nghiệp, giúp người dân ở Việt Nam giảm chênh lệch về mức sống
và xã hội tăng trưởng ổn định hơn.
1.4.3. Về hội nhập quốc tế
Trung Quốc hiện tại là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của nước ta, vượt cả
những thị trường truyền thống trước đây như Indonesia, Malaysia và Philippins.
Việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc có thể giúp nước ta duy trì
cũng như tiếp tục nâng cao vị thế mặt hàng gạo trên thế giới nhờ việc không ngừng
khẳng định thương hiệu của nhiều loại gạo chất lượng của nước ta. Từ đó, hoạt
động xuất khẩu gạo có điều kiện mở rộng sang các nước lân cận và các nước lớn
trên thế giới, giúp việc xuất khẩu gạo phân tán bớt rủi ro khi có các biến động thị
trường toàn cầu. Việt Nam lại có thể xây dựng với quan hệ kinh tế, chính trị với các
nhiều nước khác trong quá trình hội nhập quốc tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế
trong nước. Ngoài ra, chúng ta sẽ có cơ hội thâm nhập nhiều hơn vào các thị trường
khó tính như Mỹ, EU và Nhật Bản.
1.4.4. Về sự phát triển ngành nông nghiệp nói chung và ngành gạo nói riêng
của Việt Nam
Nhờ vào xuất khẩu, các nguồn lực tiềm năng về khí hậu, thổ nhưỡng, khí hậu
được đẩy mạnh khai thác. Với khí hậu hoàn toàn phù hợp cho việc trồng lúa nước,
sự phân bổ về địa hình cùng với các vùng đất giàu dinh dưỡng, nhiều chủng loại
gạo năng suất cao và thâm canh 2-3 vụ/năm, gạo không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu