BÁO CÁO
Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới phân mảnh ruộng đât và các tác động tại Việt Nam
Nhóm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển (DERG)
Đại học Copenhagen (UoC)
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI)
Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp (CAP)
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD)
Thực hiện theo chương trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn (ARD),
Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam.
1
MỤC LỤC
1. Giới thiệu
Đất đai manh mún là một trong những vấn đề lớn của các nước đang phát triển trên
toàn thế giới, sự gia tăng dân số nông thôn một cách nhanh chóng đi kèm với chính
sách thừa kế hiện tại làm đất đai ngày càng bị chia nhỏ. Việt Nam hiện là một trong
những nước có mức độ manh mún đất đai rất cao theo tiêu chuẩn của thế giới, số liệu
thống kê năm 2004 cho thấy nước ta có khoảng 75 - 100 triệu mảnh đất (Hung .ccs
2004; World Bank 2003), trung bình một hộ sở hữu 5 mảnh khác nhau và khoảng
10% số mảnh đất có diện tích nhỏ hơn 100m
2
. Diện tích đất canh tác trung bình của
một hộ khác nhau giữa các vùng, tuy nhiên hầu hết các hộ nông thôn Việt Nam có
diện tích đất ít hơn 1 héc ta, một số tỉnh như Hà Tây cũ diện tích đất nông nghiệp
trung bình của một hộ chỉ là 2400m2.
Đất đai manh mún có tác động rất xấu lên năng suất và tăng trưởng nông nghiệp, nó
cản trở việc áp dụng các phương tiện cơ giới như máy cày hay máy gặt, đồng thời
làm giảm khả năng phát triển các loại cây trồng mà chỉ mang lại lợi nhuận ở quy mô
lớn nhất định. Bên cạnh đó nó cũng làm tăng nhu cầu về lao động do những hạn chế
về cơ giới hóa cũng như đòi hỏi thời gian di chuyển giữa các mảnh đất và thời gian
càng ảnh hưởng đến việc sản xuất của hộ, do việc phải di chuyển lao động và vật tư,
máy móc qua lại giữa các thửa, duy trì bờ bao giữa các thửa đất. Tuy nhiên, đất đai
phân tán trong một số trường hợp lại có tác dụng làm giảm các rủi ro khi mất mùa,
lũ lụt… Điều này cũng giúp các hộ nông dân yên tâm hơn khi thử trồng trọt một loại
cây mới và áp dụng các công nghệ mới từ đó làm tăng năng suất. Do đó tác động của
phân mảnh đất nói chung và phân mảnh đất của hộ là chưa rõ ràng và cần phải có
những phân tích thực nghiệm.
Đối với trường hợp của Việt Nam, một trong các yếu tố chính gây ra tình trạng manh
mún đất đai là các chính sách phân phối đất đai trong thời kỳ cải cách ruộng đất, khi
nhà nước muốn phân phối đất một cách công bằng. Cũng không thể không nhắc đến
áp lực của tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng và thói quen chia đều đất đai cho tất
cả con trai khi thừa kế. Quá trình giảm thiểu mức độ manh mún đất đai có thể được
thực hiện thông qua thị trường mua bán, cho thuê ruộng đất hoặc qua các chương
trình dồn điền đổi thửa của chính phủ hoặc cộng đồng. Do đó chúng tôi cũng đi vào
nghiên cứu tác động của thị trường đất đai cũng như các chương trình của chính phủ
vào việc giảm phân mảnh đất nói chung và phân mảnh đất của hộ.
Báo cáo này được sắp xếp theo trình tự: Phần 2 trình bày các số liệu được sử dụng,
các định nghĩa về biến độc lập, và mô tả thống kê. Phần 3 mô tả phân tích đa biến ở
cấp hộ gia đình về ảnh hưởng của manh mún đất đai đến kết quả đầu ra, đầu vào và
lợi nhuận trong nông nghiệp. Phần 4 thể hiện kết quả chính của phân tích. Phần 5
điều tra các yếu tố quyết định của liên phân mảnh và phân mảnh trong nội bộ nông
hộ. Phần 6 kết luận.
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Cải cách ruộng đất
Cải cách ruộng đất theo nghĩa hẹp có nghĩa là sự phân phối lại ruộng đất cho trang
trại và nông hộ quy mô nhỏ. Quan niệm truyền thống trong việc cải cách ruộng đất là
quan niệm về công công bằng và bền vững xã hội ở khu vực nông thôn. Chương
trình cải cách ruộng đất được thực hiện dựa trên ba hướng tác động gồm chính trị, xã
hội và kinh tế (Kinh 1974, Dorner 1972). Dorner (1977) nghĩ rằng mối quan hệ về sở
hữu và thị trường đất nông nghiệp không thể giải quyết được vấn đề về công bằng và
suy thoái đất đai.
Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn (1999),
70.36% hộ nông thôn có diện tích canh tác khoảng 0,5 ha trong đó chỉ có 3,46% số
hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3 ha. Từ năm 2004 đến 2006, tỉ lệ hộ có diện tích
lớn hơn 3,6 ha tăng lên 4.6 lần. Tỉ lệ các hộ có diện tích trung bình thấp hơn 0,5 ha
(94,2% trên khắp khu vực nông thôn) tập trung chủ yếu ở khu vực lưu vực sông
Hồng. Tình trạng manh mún và phân tán đất đai rất phổ biến ở khu vực này. Hộ gia
đình canh tác trên các mảnh đất nhỏ với số lượng trung bình khoảng 4,5 mảnh/hộ.
Nếu so sánh với con số 4,9 mảnh/hộ (Brandt,2004), sự chênh lệch này là không đáng
kể, đây là thách thức cho vùng lưu vực sông Hồng vì khu vực này có mật độ dân số
cao trên cả nước (1332,94 người/km2)
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tập trung và tích tụ ruộng đất
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tích tụ
và tập trung ruộng đất. Quyền được đặt ra bởi pháp luật. Quyền sở hữu dất không
chỉ là quyền sử dụng đất mà còn bao gồm tất cả các quyền khác được quy định trong
luật đất đai. Quyết định cuối cùng về sử dụng đất đai thuộc về chính phủ và bị hạn
chế bởi các chính sách về sử dụng nguồn đất nông nông nghiệp, bảo vệ môi trường
hoặc nhà nước có thể thu hồi lại đất cho các mục đích công cộng. Sự minh bạch
trong việc xây dựng quyền sử dụng đất đóng vai trò quan trọng trong hình thành và
phát triển vốn phát triển kinh tế. De Soto (2000) quả quyết rằng thành công của
những nền kinh tế phát triển phụ thuộc vào việc xác định rõ ràng các quyền sở hữu
về vốn và đất đai. Trái ngược với các nước phát triển, các nước đang phát triển có hệ
thống luật pháp quy định rõ ràng về quyền đối với tài sản như đất đai.
Một trong những lợi thế của bảo hộ quyền sử dụng đất là khuyến khích sự phát triển
của thị trường bất động sản. Quá trình phát triển dẫn đến nhu cầu thương mại bất
động sản, bảo hộ quyền sử dụng đất sẽ giảm các hậu quả của thông tin thiếu cân
xứng, và khuyến khích đầu tư vào đất đai, góp phần phân bổ hiệu quả đất cho nông
hộ. Bảo hộ quyền sử dụng đất cũng gia tăng tìn dụng từ các nguồn đầu tư chính thức.
Thiết lập quyền sử dụng đất đai được coi là một trong những vấn đề quan trọng trong
chính sách đất đai. Theo Deininger and Feder (1998), thiết lập quyền sử dụng đất đai
thu nhập cho hộ nông thôn. Thêm vào đó, thị trường đất góp phần chuyển đổi đất
cho người có kĩ năng quản lý tốt hơn và mang lại cơ hội cho người nông dân tham
gia vào các hoạt động phi nông nghiệp. Tuy nhiên, ở một số nước, quyền về đất đai
không được bảo hộ và bị giới hạn bởi hệ thống pháp luật. Điều này làm ảnh hưởng
đến hợp đồng giao dịch đất đai và phân bổ lao động không hiệu quả, gia tăng bất
bình đẳng trong tiếp cận đất đai. Hệ thống phúc lợi xã hội và tiếp cận tín dụng là cần
thiết để giảm mua bán đất đai giữa các nông dân khi có các cú sốc xảy ra.
2.4. Tác động của tích tụ và tập trung ruộng đất
Thứ nhất, tích tụ và tập trung đất đai ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Đất đai là một trong bốn yếu tố đầu vào quan trọng cho phát triển nông nghiệp. Áp
lực của gia tăng dân số, sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ cùng với quá
trình đô thị hóa làm giảm quỹ đất. Đặc biệt ở những nước đang phát triển, diện tích
canh tác giảm trở thành yếu tố cản trở sự phát triển bền vững của khu vực nông
nghiệp.
Có thể nhận thấy hệ thống quản lý và phương thức trồng trọt là những yếu tố quan
trọng trong việc đẩy mạnh năng suất ở các nước đang phát triển. Cơ cấu của ngành
nông nghiệp của mỗi nước đều rất khác nhau, nguyên nhân chính do lịch sử phát
triển, tuy nhiên, cơ cấu cũng có sự giống nhau ở chỗ hạn chế tăng năng suất. Ở nhiều
nước, quy mô canh tác rất nhỏ và đất đai manh mún. Tình trạng này có thể thấy rõ ở
các quốc gia Châu Á nơi có mật độ dân số cao với nhiều mảnh đất bị chia nhỏ; khi
số hộ gia tăng, đất đai sẽ được tiếp tục chia và điều này dẫn đến kém hiệu quả trong
sử dụng đất. Trái ngược với các quốc gia ở Châu Á, các nước Mỹ Latin lại có chủ
trương tập trung đất. Nhiều trang trại lớn được quản lý bởi một nhóm các nông dân
giàu có. Ở Brazil. 90% đất thuộc về 15% dân số. Trong trường hợp này, đất đai cũng
được sử dụng kém hiệu quả.
Hiện nay, có nhiều tranh cãi quanh mối quan hệ giữa tập trung ruộng đất và năng
suất. Tập trung ruộng đất sẽ tạo ra các trang trại lớn có thể tận dụng các lợi thế của
quy mô lớn như là thực hiện cơ giới hóa để tăng năng suất (Jensen 1977, Kislev and
Peterson 1982). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng càng tăng lương trong khu vực phi
nông nghiệp thì càng nhiều lao động chuyển từ khu vực nông nghiệp sang phi nông
của giáo dục trong đẩy mạnh tập trung ruộng đất là tạo ra cơ hội để thay đổi nghề
nghiệp và cải thiện thu nhập.
Benerjee và Iyer (2005) giả định rằng các nước có sự bất bình đẳng cao trong vấn đề
sở hữu đất đai, cơ cấu và phân bổ lại đất là giải pháp thiết yếu để giải quyết vấn đề.
Tuy nhiên, ở một số trường hợp, phân bổ lại đất đai không cẩn thận gây ra ảnh
hưởng tiêu cực. Đẩy chủ sở hữu đất ra khỏi mảnh đất của họ hoặc thay đổi mục đích
sử dụng trước khi có một khuôn khổ pháp lý tốt cho người sử dụng đất hoặc quốc
hữu hóa đất đai là nguyên nhân khiến cho người dân nghèo đi (Binswanger 1996 và
Deininger 1999). Nếu đất đai được phân bổ lại thông qua cải cách ruộng đất qua đó
nâng cao kĩ năng quản lý, áp dụng công nghệ cao, tiếp cận tín dụng là điều kiện cần
thiết để đảm bảo khả năng cạnh tranh của chủ sở hữu đất mới.
3. Phân tích định lượng
3.1. Bộ số liệu
Bộ số liệu được sử dụng trong báo cáo là bộ số liệu Điều tra tiếp cận nguồn lực của
hộ gia đình Việt Nam (VARHS) được tiến hành điều tra trên địa bàn 12 tỉnh của Việt
Nam trong khoảng thời gian từ 7 – 9/2008 đến 6-8/2010. Cuộc điều tra này điều tra
lại những hộ đã được chọn trong phiếu điều tra thu nhập và chi tiêu trong 2 năm
2002 và 2004 trong điều tra Mức sống hộ gia đình (VHLSS). Các tỉnh được chọn
dựa để đánh giá tác động của các chương trình hỗ trợ của Danida tại Việt Nam, 12
tỉnh được lựa chọn đều nằm trong diện BSPS (chương trình hỗ trợ thương mại) của
Danida, 5 tỉnh nằm trong chương trình ARD (Phát triển nông thôn). Những tỉnh
thuộc diện hỗ trợ phát triển nông thôn là những tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc và Tây
Nguyên, những tỉnh này đều là những tỉnh nghèo với dân cư thưa thớt. Mẫu được
chọn điều tra mang tính đại diện về mặt thống kê ở cấp tỉnh nhưng không ở mức
quốc gia.
Vòng điều tra năm 2008 của VARHS tiến hành điều tra 2278 hộ được chọn mẫu
trong VHLSS 2002 và 2004, trong đó có 2233 hộ được tiếp tục điều tra trong năm
2010 (tỷ lệ sai số là 2%). Trong số đó có 2113 hộ sở hữu hoặc đang canh tác đất
nông nghiệp. Điều tra hộ thu thập thông tin chi tiết về diện tích đất nông nghiệp, số
mảnh đất, các đặc điểm của đất, đầu vào và đầu ra của nông nghiệp, hoạt động mua
i
s
=
−
∑
, trong đó s
i
là tỷ lệ diện
tích mảnh thứ i trong tổng diện tích đất canh tác và N là tổng số mảnh đất mà hộ
đang canh tác, giá trị Simpson càng cao thì mức độ phân mảnh đất của hộ càng lớn.
Cách tính này có xem xét đến sự khác biệt về diện tích các mảnh nhưng không tính
đến khoảng cách địa lý giữa các mảnh. Cách đo lường cuối cùng là tính tổng khoảng
cách từ nhà tới các mảnh, cách này không tính đến diện tích từng mảnh nhưng phản
ánh được khoảng cách địa lý giữa các mảnh.
Quan tâm chính của đề tài là những tác động của phân mảnh đất đến năng suất nông
nghiệp. Để chỉ ra được điều này chúng ta cần phải định nghĩa rõ ràng về năng suất
nông nghiệp. Nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng giá trị đầu ra trên một héc ta, thu
nhập trên 1 héc ta và lợi nhuận trên 1 héc ta để đo lường năng suất. “Thu nhập” ở
đây được hiểu là giá trị sản phẩm đầu ra trừ giá trị đầu vào, trong khi đó “lợi nhuận”
được định nghĩa là giá trị sản phẩm đầu ra trừ giá trị sản phẩm đầu vào và chi phí lao
động gia đình. Kết quả dưới đây cho thấy rõ tác động của phân mảnh đất đối với
từng cách đo lường trên là rất khác nhau. Theo kinh tế học thì lợi nhuận dường như
là phương pháp đo lường hiệu quả tốt nhất, năng suất, sản lượng đầu ra hay thu nhập
đều chưa phản ánh đầy đủ về năng suất vì nó không phải ánh được chi phí đầu vào
của sản xuất. Tuy nhiên có nhiều trường hợp các nghiên cứu lại không sử dụng lợi
nhuận để đo lường năng suất vì chỉ tiêu lợi nhuận rất khó tính toán. Thông thường
các trang trại hay nông hộ ở các nước đang phát triển – trong đó có Việt Nam – sử
dụng lao động gia đình là chính. Để ước tính được giá trị lao động gia đình là khá
khó khăn, cách thường được sử dụng là tính ngày công lao động gia đình nhân với
lương lao động phổ thông trong nông nghiệp trên địa bàn. Tuy nhiên cách tính này
thể bóc tách được tác động của yếu tố này chúng tôi chia 12 tỉnh được điều tra trong
VARHS ra làm 4 nhóm vùng, lần lượt là Đồng bằng phía Bắc (bao gồm Hà Tây cũ,
Phú Thọ và Nghệ An); Miền núi phía Bắc (bao gồm Lào Cai, Điện Biên và Lai
Châu); Tây Nguyên (bao gồm Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) và Đồng bằng
phía Nam (bao gồm Quảng Nam, Khánh Hòa và Long An). Việc phân vùng này
mang nhiều tính giả định vì một số tỉnh như Nghệ An hay Phú Thọ đều có cả khu
vực đồng bằng và miền núi, nhưng hầu hết dân số của 2 tỉnh này đều sống ở đồng
bằng nên chúng tôi xếp vào khu vực Đồng bằng phía Bắc. Ngoài ra thì cách phân
chia này đã phản ánh khá rõ những đặc điểm quan trọng nhất của phía bắc – phía
nam và miền núi – đồng bằng. Hầu hết các phân tích trong bài đều chia rõ từng khu
vực để thấy được sự khác biệt.
3.4. Số liệu thống kê mô tả
Bảng 1 thể hiện các số liệu thống kê mô tả về tình trạng phân mảnh đất quy mô
chung và quy mô hộ trong năm 2010 chia theo tỉnh và vùng. Chúng ta có thể thấy rõ
sự phân mảnh đất nghiêm trọng ở Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực phía Bắc. Ở khu
vực Đồng bằng Bắc bộ, trung bình một hộ dân chỉ có khoảng ¼ héc ta đất canh tác,
diện tích đất đó bị chia làm 5,5 mảnh khác nhau. Tình trạng phân mảnh đất của các
hộ ở Miền núi phía Bắc thậm chí còn nghiêm trọng hơn do đặc thù địa hình đồi núi.
Đất đai ở khu vực phía Nam ít phân mảnh hơn, diện tích trung bình của các trang trại
vừa nhỏ hơn lại ít bị chia nhỏ. Điều này chủ yếu là do đặc thù về địa lý và lịch sử.
Do đặc thù về mật độ dân số nên đất đai ở khu vực phía Bắc manh mún hơn rất nhiều
so với khu vực phía Nam (Gourou 1936, Popkin 1979). Tuy nhiên, như đã được đề
cập ở phần giới thiệu thì nguyên nhân chính của tình trạng manh mún đất đai lại là
nguyên nhân về lịch sử khi nhà nước tiến hành cải cách ruộng đất tại chương trình
Khoán 10 năm 1988. Nguyên tắc phân chia đất trong thời kỳ này là công bằng với
mọi người, do đó mỗi người đều sở hữu nhiều mảnh đất khác nhau trong đó có tốt,
có xấu, có gần, có xa … Do chương trình này thực hiện mạnh nhất ở khu vực phía
Bắc nên khu vực này bị ảnh hưởng nhiều nhất (Ravallion and De Walle 2008a). Bên
cạnh đó những lý do về chính sách thừa kế cũng như hoạt động của thị trường đất đai
cũng một phần gây ra tình trạng manh mún, chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề này ở
mối liên hệ chặt chẽ với đa dạng hóa mùa vụ (dĩ nhiên trong một số trường hợp đất
bắt buộc trồng lúa thì hộ nông dân không có quyền thay đổi (Markussen, Tarp and
Van den Broeck 2011). Những trang trại quy mô nhỏ thì có xu hướng trồng lúa nhiều
hơn các loại cây lâu năm.
Bảng 3 thể hiện các số liệu thống kê tương tự như bảng 2 nhưng các hộ được phân
nhóm theo mức độ phân mảnh đất của hộ chứ không phải quy mô. Bảng 3 là kết quả
phân tích theo vùng, đây là phân tích đầu tiên trong quá trình phân tích phân mảnh
đất quy mô hộ, ở đây được đo lường bằng số mảnh đất canh tác của hộ. Trừ yếu tố
đa dạng hóa mùa vụ thì phân mảnh đất không có ảnh hưởng mạnh như diện tích đất
ở trong bảng 2. Bên cạnh đó, tác động của phân mảnh đất quy mô hộ trong một số
trường hợp có thay đổi. Giá trị sản phẩm đầu ra trên một héc ta là thấp nhất đối với
các hộ chỉ có một mảnh đất, cao nhất đối với các hộ có hai mảnh đất và giảm dần khi
số mảnh đất tăng lên. Xu hướng thay đổi của đầu vào phi lao động và lợi nhuận trên
một héc ta cũng diễn ra tương tự. Lợi nhuận trên một héc ta tăng lên đối với các hộ
có trên 4 mảnh đất, những hộ có 1 mảnh cũng là những hộ sử dụng nhiều lao động
nhất, các hộ sử dụng lao động nhiều thứ hai lại là những hộ có từ 9 mảnh đất trở lên.
Trong khoảng còn lại thì nhu cầu lao động có xu hướng tăng lên nhưng không tăng
liên tục, do đó, nếu bỏ qua các hộ chỉ có một mảnh đất – thường có diện tích rất nhỏ
- thì chúng ta có thể kết luận phân mảnh đất của hộ sẽ dẫn đến yêu cầu về lao động
nhiều hơn và năng suất sẽ giảm xuống. Mối quan hệ giữa số mảnh đất và khả năng
sở hữu máy cày không cố dịnh, hộ sở hữu càng nhiều mảnh đất thì tỷ lệ sở hữu máy
gặt càng nhiều, điều này không nói lên nhiều điều, tuy nhiên chúng ta cần phải cân
nhắc trước khi đưa ra những kết luận chỉ từ các số liệu thống kê mô tả.
Phân mảnh đất quy mô hộ có tương quan chặt và thuận chiều với việc trồng lúa.
Ngược lại, các hộ có đất đai manh mún có xu hướng ít trồng các loại cây lâu năm
hơn so với các hộ ít manh mún.
3.5. Phân tích hồi quy đa biến tác động của phân mảnh đất
Để kiểm soát được ảnh hưởng của biến thứ ba làm sai lệch các nhận định về tác động
của phân mảnh đất, chúng tôi sử dụng mô hình đa hồi quy sử dụng bộ số liệu thời
gian VARHS 2008-2010. Trong phần này, chúng tôi tiến hành hồi quy cấp hộ đối với
các vùng. Hai trong ba cách tính mức độ phân mảnh đều cho kết quả thuận chiều của
phân mảnh đất lên giá trị sản phẩm đầu ra.
Bảng 6 là kết quả hồi quy đối với giá trị đầu vào phi lao động, trái với kết quả ở bảng
2, kết quả hồi quy lại cho thấy diện tích trang trại có tác động nghịch và có ý nghĩa
đến chi phí đầu vào, trong khi đó mức độ phân mảnh đất của hộ cũng có ý nghĩa
nhưng tác động là thuận chiều. Do đó, chi phí đầu vào phi lao động có thể là lý do
các trang trại quy mô lớn có lợi nhuận lớn hơn các trang trại quy mô nhỏ.
Bảng 7 là kết quả hồi quy đối với đầu vào lao động, tương tự như kết luận tại bảng 2,
bảng 7 cũng cho thấy mối tương quan mạnh và ngược chiều của diện tích trang trại
đến đầu vào lao động ở tất cả các vùng. Mức độ phân mảnh đất cũng có tác động
mạnh và thuận chiều đến lượng đầu vào lao động ở 2 trên 3 cách đo lường mức độ
phân mảnh, kết quả này cũng tương tự với kết luận từ bảng 3 là các trang trại càng
manh mún thì càng cần nhiều lao động hơn.
Kết luận quan trọng nhất chúng ta rút ra được từ những phân tích trên là phân mảnh
đất của hộ cũng như phân mảnh đất nói chung đều có tác động mạnh đến đòi hỏi về
lao động trong nông nghiệp, và phân mảnh đất quy mô chung có tác động ngược
chiều đến lợi nhuận. Nói cách khác, trang trại có quy mô càng lớn thì năng suất càng
cao, tuy nhiên các trang trại bị chia làm nhiều mảnh lại có xu hướng có lợi nhuận cao
hơn so với các trang trại ít bị manh mún.
3.6. Phân tích ở cấp mảnh đất
Bộ số liệu điều tra VARHS được sử dụng trong báo cáo là bộ số liệu duy nhất ở Việt
Nam có các số liệu chi tiết không chỉ ở cấp hộ mà còn đến từng mảnh đất. Trong báo
cáo chúng tôi sử dụng những số liệu này để tính toán chi tiết ảnh hưởng của phân
mảnh đất của hộ. Đối với 5 mảnh đất lớn nhất của hộ chúng tôi có dữ liệu về sử dụng
các đầu vào phi lao động đến từng mảnh, tuy nhiên chỉ là tình trạng sử dụng của hộ,
không có số lượng chi tiết, số liệu về đầu vào lao động cũng không chi tiết đến dừng
mảnh. Do đó chúng tôi sử dụng sản lượng để làm biến đầu ra. Trước tiên chúng tôi
tính toán giá trị tổng sản lượng trên một m2, sau đó chúng tôi tập trung vào những
mảnh đất trồng lúa và tính toán sản lượng lúa trên 1 m2, các biến này đều có các đột
biến (có lẽ chủ yếu là sai sót trong quá trình thu thập và nhập liệu) do đó chúng tôi
rệt, những mảnh đất ở xa nơi ở của hộ có năng suất thấp hơn hẳn so với những mảnh
còn lại. Biến giả các mảnh đất giáp nhau không có ý nghĩa thống kê. Gợi ý chính
sách rõ rệt nhất chúng ta có thể rút ra được từ kết quả trên đó là việc thực hiện các
chương trình dồn điền đồi thửa nên tập trung vào việc giảm thời gian di chuyển tới
các mảnh đất hơn là tập trung vào dồn các mảnh nhỏ thành một mảnh lớn.
Kết quả đối với các biến kiểm soát cũng khá thú vị, mô hình cho thấy việc sở hữu
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) có ý nghĩa thống kê và tác động thuận
chiều, trong khi hạn chế về mùa vụ cũng có ý nghĩa thống kê nhưng tác động lại là
ngược chiều (Markussen, Tarp & Van den Broeck). Kết luận này khẳng định lại tầm
quan trọng của quyền sở hữu tài sản đất đối với việc tăng năng suất.
Qua phân tích hồi quy theo mảnh đất, chúng ta có được cái nhìn chi tiết hơn so với
mô hình hồi quy cấp hộ về tác động của đất đai manh mún. Kết luận chung nhất
chúng ta rút ra được là không có bằng chứng nào cho thấy các mảnh đất nhỏ hơn có
năng suất thấp hơn (thậm chí kết quả còn cho thấy bằng chứng ngược lại), trong khi
các mảnh ở xa hơn lại có năng suất thấp hơn hẳn so với các mảnh ở gần.
3.7. Các nhân tố tác động đến phân mảnh đất
Sau khi nghiên cứu tác động của phân mảnh đất, chúng ta tiếp tục đi sâu nghiên cứu
các nguyên nhân dẫn đến phân mảnh đất ở Việt Nam. Một luận điểm quan trọng cần
được nêu ra là liệu việc phát triển thị trường mua bán và cho thuê đất đai có thể thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất hay không. Một câu hỏi quan trọng khác
là liệu quá trình cải tổ đất đai của nhà nước có hiệu quả hay không. Vì mục tiêu
chính của việc cải tổ đất đai là biến các trang trại quy mô nhỏ thành các trang trại có
quy mô lớn và trên thực tế đã có nhiều chương trình dồn điền đổi thửa được thực
hiện ở nhiều tỉnh, huyện, xã … và mục tiêu của phân tích chúng tôi là đánh giá tác
động của những chương trình này.
Phân mảnh đất nói chung
Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến các chương trình tích tụ ruộng đất chúng
tôi sử dụng bộ số liệu phỏng vấn xã trong 2 năm 2008 và 2010. Bảng hỏi cấp xã của
VARHS thu thập các thông tin của xã về phân bổ đất, hoạt động của thị trường mua
bán đất và các đặc điểm chung của xã. Báo cáo sử dụng tỷ lệ hộ sở hữu diện tích đất
Đất đai manh mún ở cấp hộ
Để đánh giác các nhân tố gây ra phân mảnh đất của hộ, chúng tôi tiếp tục sử dụng
mô hình hồi quy cấp hộ và sử dụng biến chỉ số Simpson làm chỉ số đo lường mức độ
manh mún đất đai của hộ và xem xét xem liệu các chương trình dồn điền đổi thửa
hay việc phát triển thị trường mua bán đất ảnh hưởng như thế nào lên biến này. Để
giảm ảnh hưởng của các biến nội sinh nên chúng tôi tiếp tục sử dụng mô hình hồi
quy nhân tố cố định. Đặc biệt là các chương trình dồn điền đổi thửa được thực hiện
mạnh ở các xã có tình trạng đất đai manh mún nghiêm trọng, làm cho tương quan
giữa 2 biến này lại trở thành thuận chiều. Do đó mô hình hồi quy theo chỉ số
Simpson bao gồm cả các nhân tố cố định cấp hộ. Việc đánh giá tác động của thị
trường đất đai cũng khá phức tạp, rõ ràng là khi các hộ nông dân cho thuê hoặc đi
thuê đất thì họ sẽ có thêm một mảnh đất mới và mức độ manh mún đất đai lại tăng
thêm. Nhưng ngược lại việc mua bán cũng làm giảm phân mảnh đất trong trường
hợp mảnh đất được thuê/mua liền kề với một mảnh đất khác của hộ hoặc nó nằm ở
gần nơi ở của hộ, do đó mô hình sẽ có biến chỉ số phản ánh việc mua hoặc bán đất
của hộ trong 2 năm vừa qua. Để xác định được chính xác tác động của giao dịch mua
bán đất đai lên tình trạng manh mún, chúng tôi kiểm định tổng hệ số của biến mua &
bán (cho thuê và đi thuê) đất, nếu tổng hệ số này là dương có nghĩa là thị trường mua
bán đất làm gia tăng mức độ manh mún, và nếu là âm thì chúng ta có thể kết luận nó
làm thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất.
Kết quả ở bảng 10 cho thấy đúng như dự đoán, các chương trình dồn điền đổi thửa
có tác dụng làm giảm chỉ số Simpson. Tuy nhiên đối với mô hình hồi quy đối với tất
cả các vùng thì tác động này lại không có ý nghĩa thống kê, chỉ trừ ở khu vực Đồng
bằng phía Bắc, ở 3 vùng còn lại thì biến này đều không có ý nghĩa thống kê. Nếu xét
tổng thể thì tác động của các chương trình dồn điền đổi thửa là không lớn, tuy nhiên
xét riêng ở khu vực đồng bằng phía Bắc – nơi có đất đai manh mún nhất cả nước –
thì các chương trình này đã có hiệu quả.
Đối với thị trường mua bán và cho thuê đất, kết quả cũng thể hiện đúng như dự đoán
về tác động ngược chiều của việc cho thuê và bán đất đến tình trạng manh mún đất
đai, trong khi đó việc đi mua hoặc thuê đất có tác động thuận. Tác động nghịch của
nhiều, do đó nhà nước cần tập trung đẩy mạnh hoạt động của thị trường đất đai khu
vực phía Nam. Tuy nhiên dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai không chỉ phụ thuộc
vào thị trường đất, để khuyến khích các hộ nông dân bán đất của mình thì nhà nước
cần tự do hóa thị trường lao động và cải thiện các chế độ về bảo hiểm, nhà ở, việc
làm cho các hộ dân này, vì trong nhiều trường hợp có rất nhiều hộ nông dân quyết
định giữ đất như là một cách bảo hiểm rủi ro. Đối với tình trạng manh mún đất đai
của các hộ thì kết quả của các chương trình dồn điền đổi thửa của nhà nước vẫn còn
rất hạn chế. Tuy nhiên đối với khu vực phía Bắc – nơi tình trạng đất đai manh mún
diễn ra nghiêm trọng nhất – thì các chương trình này lại khá hiệu quả. Nói cách khác,
không có bằng chứng rõ ràng về tác động của thị trường mua bán, cho thuê đất đai
lên tình trạng đất đai manh mún của hộ, nhưng có một số kết quả cho thấy thị trường
cho thuê đất cũng có tác dụng trong việc giảm sự manh mún.
Nhìn chung, các chương trình dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai là cách hữu hiệu để
giảm sử dụng lao động và tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Thị trường đất đai có
khả năng sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai nhưng trong hiện tại nó chỉ có tác dụng
ở khu vực phía Nam. Giảm tình trạng manh mún đất đai của hộ thì không quan trọng
bằng việc tăng diện tích đất canh tác bình quân của hộ. Mặt khác, nếu đặt mục tiêu
giảm nhu cầu về lao động và đa dạng hóa mùa vụ thì dồn điền đổi thửa sẽ là một
cách hợp lý. Các chương trình dồn điền đổi thửa có vai trò khá quan trọng, mặc dù
chi phí cho các chương trình này là khá lớn so với lợi ích nó mang lại. Đề xuất chính
của chúng tôi là nhà nước nên tập trung vào việc giảm khoảng cách từ hộ dân tới các
mảnh đất hơn là gộp các mảnh đất nhỏ thành một mảnh đất lớn.
4.2. Gợi ý chính sách
Thay đổi tư duy: rút mạnh lao động ra khỏi nông nghiệp phục vụ cho phát triển các
hoạt động phi nông nghiệp nông thôn. Phát triển kinh tế dịch vụ nông thôn.
Các giải pháp dành cho các lao động chuyển khỏi nông nghiệp bao gồm: xây
dựng và điều chỉnh các khung chế độ bảo hiểm lao động để đảm bảo họ được chăm
sóc sức khỏe khi gặp rủi ro, bảo hiểm xã hội để đảm bảo họ được nhận lương hưu
khi về già, thành lập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi cho họ trong trường hợp
xảy ra tranh chấp, từng bước nới lỏng chế độ hộ khẩu để những lao động có khả
chính thức giao nhiệm vụ cho các cộng đồng nông thôn những nơi chính quyền địa
phương có khả năng và nhu cầu dồn điền đổi thửa. Để cho các địa phương bàn bạc,
xây dựng giải pháp và thực hiện công tác dồn đổi ruộng cho nhau. Sau khi đã thực
hiện xòn việc dồn điền đổi thửa, Nhà nước sẽ tổ chức đăng kí và hỗ trợ cấp giấy
chứng nhận lại cho các “chủ đất”. Hỗ trợ bằng kinh phí, khoa học kỹ thuật, xây dựng
cơ sở hạ tầng nông nghiệp như mương máng, đướng xá, lưới điện nhằm giúp các
cộng đồng nông thôn hoàn thành dự án chuyển đổi của họ. Một trong những mô hình
dồn điền đổi thửa hình thành được vùng sản xuất lớn là vùng trồng vải tại huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Vào năm 1993, người nông dân tại địa phương khi nhận
thấy trồng vải thu được lợi nhuận cao, họ đã tự bàn bạc vận động nhau để trao đổi
các mảnh đất. Sau khi việc trao đổi đất đai giữa các hộ hoàn tất, chính quyền địa
phương đã đứng ra xác nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho các
hộ. Kết quả quả quá trình này là việc hình thành nên một vùng sản xuất vải thiều
hàng hóa nổi tiếng trong những năm vừa qua.
Thừa kế đất chỉ giao cho một người hoặc đánh thuế lũy tiến theo số người được
hưởng thừa kế
Pháp luật thừa kế được quy định trong Chương XXII, XXIII, XXIV, XXV (Phần thứ
tư: Thừa kế), Chương XXXII (Phần thứ năm: Quy định về chuyển quyền sử dụng
đất) - Bộ luật dân sự 2005 và Pháp lệnh thừa kế. Chương 13 của Luật dân sự được
dành riêng để nói về thừa kế quyền sử dụng đất, theo đó luật không có quy định nào
về giới hạn số người được thừa kế, do đó cần phải bổ sung điều khoản đối với đất
nông nghiệp chỉ cho phép một người được nhận thừa kế hoặc đánh thuế lũy tiến theo
số người được hưởng thừa kế để hạn chế tình trạng đất đai ngày càng phân mảnh.
Bỏ hạn điền
Hạn điền là một trong những chính sách của nhà nước làm cản trở tiến trình tích tụ
và tập trung ruộng đất, để có thể phát triển nền nông nghiệp hàng hóa chúng ta cần
nới lỏng hạn điền cho cả đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm và đất rừng, hạn điền
hợp lý đối với đất trồng cây hàng năm là vào khoảng từ 6- 8 ha.
Bỏ quy định duy trì đất lúa
Nền nông nghiệp nước ta hiện nay đã khá phát triển và thị trường nông sản quốc tế