BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ BÚN, ĐẬU VIÊN TIÊU, XÃ TÂN HƯNG,
HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN THÀNH
Nguyễn Thị Phương Dung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số lý luận chung 3
1.1.1 Cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường 3
1.1.2 Cơ sở lý luận về làng nghề 6
1.2 Thực tiễn phát triển làng nghề và công tác bảo vệ môi trường 17
1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển làng nghề và BVMT 17
1.2.2 Kinh nghiệm của một số tỉnh về phát triển làng nghề và BVMT 23
1.3 Tình hình phát triển làng nghề truyền thống của Hưng Yên và vấn đề
bảo vệ môi trường 31
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 34
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 37
2.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu, phân tích hệ thống 37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
DANH MỤC BẢNG
STT Tên Bảng Trang
Bảng 1.1: Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam
11
Bảng 3.1: Khí tượng, thủy văn trung bình các năm 39
Bảng 3.2: Doanh thu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã Tân Hưng 42
Bảng 3.3: Phân loại nhóm hộ sản xuất bún, đậu tại làng nghề 55
Bảng 3.4: Hiệu quả kinh tế của sản xuất bún 57
Bảng 3.5: Nguyên liệu đầu vào, khối lượng nước sử dụng và khối lượng
nước thải ra 59
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của sản xuất đậu 60
Bảng 3.7: Nguyên liệu đầu vào và khối lượng nước sử dụng làm Đậu 61
Bảng 3.8: Khối lượng phế thải, nước thải trong sản xuất Đậu 62
Bảng 3.9: Khối lượng RTSH phát sinh tại xã Tân Hưng 64
Bảng 3.10: Thành phần chất thải sinh hoạt 65
Bảng 3.11 : Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất bún 68
Bảng 3.12: Ước tính lượng nước thải từ các công đoạn sản xuất đậu 69
Bảng 3.13: Bảng số liệu quan trắc, phân tích mẫu nước thải làng nghề bún,
đậu Viên Tiêu 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC HÌNH
STT Tên Hình Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT: Bảo vệ môi trường
CN: Công nghiệp
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
HĐND: Hội đồng nhân dân
HTX: Hợp tác xã
UBND: Ủy ban nhân dân
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
VSV: Vi sinh vật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở Việt Nam một số làng nghề ra đời từ rất sớm, đến nay Việt Nam có
khoảng hơn 2.000 làng nghề. Sự hình thành và phát triển các làng nghề trong
các năm qua đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
đất nước. Một số làng nghề tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho lao
động nông thôn; giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp ở khu vực nông thôn;
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước và góp phần bảo
tồn giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc,
Huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên là huyện nông nghiệp nằm trong vùng
đồng bằng sông Hồng, được bồi đắp phù sa bởi 2 con sông lớn là sông Hồng
và sông Luộc nên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Huyện có
nhiều làng nghề truyền thống lâu đời như làng nghề bún đậu Viên Tiêu, làng
nghề dệt thảm đay, Theo thời gian những làng nghề thủ công này luôn tồn
tại và phát triển trong môi trường nông nghiệp nông thôn. Nó không chỉ tạo
nên sắc thái văn hóa độc đáo riêng mang tính nghề nghiệp mà còn là nơi bảo
nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số lý luận chung
1.1.1 Cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường
1.1.1.1 Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường
Theo luật Bảo vệ môi trường, 2005:
“ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên, vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại phát triển của con
người và sinh vật”.
Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên hợp quốc
(UNESCO) thì Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự
nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán,
niềm tin, ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài
nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều
kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao
quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng.
Như vậy, môi trường là tổng hòa các mối quan hệ giữa tự nhiên và con
người trong đó bao gồm cả yếu tố vật chất nhân tạo, chúng tạo nên một thể
kinh tế xã hội vùng nông thôn ngày càng được khẳng định. Hàng năm các
làng nghề truyền thống đã tạo công ăn việc làm cho hàng vạn lao động với thu
nhập ổn định; làm tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế; đa
dạng hóa kinh tế nông thôn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng CNH – HĐH; bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Bên cạnh những
kết quả đạt được thì tình trạng ô nhiễm môi trường trong các làng nghề truyền
thống ngày càng trở thành những vẫn đề “nóng”, đáng báo động trong môi
trường nông thôn. Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
trọng như một số làng nghề sản xuất sắt thép, đúc đồng, sản xuất giấy, dệt
nhuộm, … Nguyên nhân gây nên tình trạng trên do:
Một là, những làng nghề truyền thống này đã hình thành và phát triển từ
lâu, khu vực sản xuất gắn liền với khu dân cư, không có sự quy hoạch, việc
sản xuất mang tính tự phát, đơn lẻ, cơ sở hạ tầng đã hư hỏng hoặc làm lại mới
nhưng lại là chắp vá. Người dân phải chịu trực tiếp, trọn vẹn những loại ô
nhiễm do quá trình sản xuất thải ra. Tại các làng nghề thường không có biện
pháp xử lý môi trường và quy hoạch môi trường mà thường thải trực tiếp ra
ngoài. Vì vậy, môi trường ngày càng bị ô nhiễm.
Hai là, do đây là các làng nghề truyền thống nên việc sản xuất còn sử
dụng các công cụ thô sơ, công nghệ sản xuất lạc hậu, việc sản xuất không gắn
với việc bảo vệ môi trường.
Ba là, người lao động ở đây vốn là những lao động thủ công, họ được kế
thừa nghề nghiệp từ đời này sang đời khác, việc sản xuất của họ chủ yếu dựa
vào thói quen. Nhận thức của người dân còn hạn chế, họ chỉ chú trọng chạy
theo lợi nhuận mà không mấy quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ môi trường,
họ ỷ vào nhà nước và chính quyền địa phương, đôi khi ý thức kém đã hình
thành nên tính ích kỷ, có những người chỉ quan tâm đến vệ sinh môi trường
khu vực mình ở, còn môi trường ngoài nhà họ bàng quan, “cha chung không
ai khóc”.
- Có nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề, nghệ nhân này được suy tôn
là tổ nghề.
- Từ một số cá nhân hay gia đình dòng họ có những kỹ năng và có sự
sáng tạo nhất định.
- Do những người đi nơi khác học sau đó truyền lại nghề.
- Do chủ trương của địa phương khuyến khích phát triển nghề phụ, phục
vụ cho đời sống xã hội và cải thiện đời sống nông dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
- Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng
nghề khác, tạo ra một cụm làng nghề, xã nghề ở vùng lân cận.
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ công truyền thống
và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hóa, văn minh dân tộc.
Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát triển của tiểu thủ công
nghiệp ở nông thôn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình, rồi đến cả
họ sau đó lan ra cả làng. Trải qua một thời gian dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc
suy, có những nghề được lưu giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và
có những nghề mới ra đời. Trong đó, có những nghề đạt tới trình độ công
nghệ tinh xảo với kỹ thuật điêu luyện và phân công lao động khá cao.
Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song
song với quá trình phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và nông nghiệp của cả
nước. Ví dụ như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển,
làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm, Nếu đi sâu tìm hiểu về
nguồn gốc của các sản phẩm từ làng nghề đó có thể thấy rằng hầu hết các sản
phẩm này ban đầu được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công
cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm lúc nông nhàn. Kỹ thuật, công
nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác. [Bạch Thị Lan Anh, 2010]
Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam đã trải qua những giai đoạn
khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử. Đặc biệt, từ giai
Làng nghề trước Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nó
được hình thành từ các nghề cũ và một số nghề mới được phát triển nhằm đáp
ứng thị trường luôn thay đổi phức tạp (nhìn chung không khác lắm so với các
nghề đương thời). Thời gian này, nghề dệt lụa (Hà Đông) đã có những bước
tiến xa hơn, trở thành nghề thủ công xuất khẩu và tạo công ăn việc làm cho số
lượng lao động lớn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, có thể chia lịch sử phát triển của
làng nghề thành các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát
triển công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp
tác xã. Tại một số làng nghề đã xuất hiện những Hợp tác xã tiểu thủ công
nghiệp, chủ yếu sản xuất các mặt hàng xuất khẩu sang các nước Xã hội chủ
nghĩa, với các hàng hóa chính là hàng thủ công mỹ nghệ. Do đó, chủng loại,
số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi đường lối, chính sách của
Nhà nước. Cũng chính trong giai đoạn này, nhiều làng nghề đã bị mai một.
- Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động,
cùng với sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm
vào giai đoạn khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Sự
suy sụp của hệ thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công
nghiệp buộc phải tìm đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát.
Nhiều làng nghề đã được khôi phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của
nhân dân.
- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát
triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý
bao cấp sang cơ chế thị trường. Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách
đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có
tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung
và với làng nghề nói riêng. Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống
(chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%). Các làng nghề thu hút hơn
10 triệu lao động, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đáng kể đời
sống cho một bộ phận dân cư khu vực nông thôn. [Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, 2010]
Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề
phát triển. Tuy nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái
do nhiều nguyên nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do
thiếu vốn để cải tiến sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, …). Để giải quyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
những khó khăn này, cần có cái nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực
trạng kinh tế xã hội trong nước và thế giới nói chung.
1.1.2.2 Những đóng góp tích cực của làng nghề trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội
Theo thống kê, hiện hàng hóa của các làng nghề nước ta đã có mặt ở hơn
100 nước trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng. Sự phát triển
của làng nghề đang góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các
địa phương. Tại nhiều làng nghề, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đạt
từ 60%- 80% và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20% - 40%. Hàng năm giá trị
kinh tế từ sản phẩm xuất khẩu của các làng nghề khoảng 600 triệu USD. Theo
ước tính, trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn Việt Nam đã có tốc độ
tăng trưởng nhanh, trung bình khoảng 8%/năm, tính theo giá trị đầu ra [Kỷ
yếu hội thảo bảo tồn và phát triển làng nghề. 2006]. Làng nghề thu hút
khoảng 20 triệu lao động, trong đó 30% số lao động thường xuyên còn lại là
lao động thời vụ. Chỉ trong năm 2011, ước tính đóng góp xuất khẩu từ mặt
hàng thủ công mỹ nghệ đạt gần 2,2 tỉ đồng[TS. Nguyễn Văn Hiến. 2012]. Các
ngành nghề chủ yếu được phát triển ở làng nghề như bảng sau:
Bảng 1.1: Phân bố các loại hình làng nghề
ở các vùng nông thôn Việt Nam
Miền Bắc Miền Trung Miền Nam Tổng cộng
thấy các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU là các thị trường có nhiều
tiềm năng cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.
[ />truong-tai-cac-lang-nghe-truyen-thong-cua-viet-nam.html]
Làng nghề đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
theo hướng công nghiệp hoá, đó là việc góp phần làm tăng tỉ trọng của công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỉ trọng của nông nghiệp,
chuyển lao động từ sản xuất công nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề
phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; Đồng thời, làng nghề đã góp phần quan
trọng trong giải quyết việc làm, thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và
lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do tăng thu nhập cho người lao động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
nông thôn. Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn
đang tăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu
từ các làng nghề cũng không ngừng tăng lên. Trung bình mỗi cơ sở doanh
nghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao động
thường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6
lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Đời sống của người lao động
tại các làng nghề này ổn định, thu nhập từ làng nghề cao hơn từ 4 – 5 lần so
với làm nông nghiệp. [Bộ công thương. 2008]
Bên cạnh đó, những điều kiện tự nhiên và nguyên liệu thô chỉ có giá
trị khi được khai thác sử dụng đúng mục đích, khi chúng thành những sản
phẩm hữu ích phục vụ cho con người. Làng nghề có vai trò lịch sử to lớn
trong vấn đề này, các làng nghề đã biến các nguyên liệu thô trở thành
những sản phẩm hữu ích phục vụ con người. Ngày nay, giá trị này không
đổi, mà ngược lại còn đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân nói
chung, góp phần làm thay đổi các vùng nông thôn nói riêng;
Như vậy, trong thời gian qua, các làng nghề đã tạo ra một lượng lớn
hàng hóa và đa dạng sản phẩm, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống của
nông dân, góp phần đáng kể vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và chuyển
Làng nghề Triều Khúc, xã Tân Triều, Hà Nội chuyên thu gom, tái chế
nhựa với 80% hộ trong làng tham gia sản xuất. Nước thải sản xuất và nước
thải sinh hoạt được đổ thẳng xuống cống thải chung của cả làng. Giải pháp
đưa ra phù hợp với điều kiện làng nghề là xử lý theo cụm gồm 6 – 7 hộ sản
xuất. Liên minh HTX Việt Nam đã xây dựng thành công mô hình thí điểm xử
lý nước thải tái chế nhựa có công suất 30m
3
/ ngày đêm. Phương án lựa chọn
để áp dụng cho làng nghề này dựa trên phương pháp vi sinh là chủ yếu, có hỗ
trợ của hóa chất. Đối với nước thải tại làng nghề Triều Khúc, nước thải có
chứa các hóa chất hoạt động bề mặt và hàm lượng kiềm cao do các chất tẩy
rửa mang lại. Vì vậy, để tạo điều kiện cho xử lý vi sinh cần nâng điều chỉnh pH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
đến nồng độ thích hợp và loại bỏ các chất hoạt động bề mặt có trong nước thải.
[TS.Phạm Tố Oanh, 2012]
* Mô hình sản xuất sạch hơn đối với làng nghề làm bún thôn Tiền Trong
và thôn Tiền Ngoài, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Mô hình này chú trọng vào các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu
lượng phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết
kiệm và hợp lý các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện
pháp quản lý và xử lý chất thải phù hợp (chú trọng tới biện pháp tái chế, tái sử
dụng) nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả. Để thực hiện tốt hướng này, các cơ
quan quản lý về khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường các địa
phương cần có kế hoạch trong việc hợp tác với các cơ quan nghiên cứu khoa
học công nghệ của Trung ương để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể ở địa
phương mình, trong đó chú trọng tới cải tiến công nghệ sản xuất và áp dụng
các công nghệ môi trường đơn giản, rẻ tiền, phù hợp với quy mô, trình độ của
các làng nghề và chú trọng tới các biện pháp tuyên truyền và quản lý chặt chẽ,
nhằm khuyến khích các hộ sản xuất tự nguyện sử dụng. Bên cạnh đó Nhà
HTX nông nghiệp Phù Đổng thành lập Tổ hợp tác thu gom xử lý chất thải
chăn nuôi (phân bò) để nuôi giun. Giun thành phẩm được sử dụng trong mô
hình nuôi ba ba, cá quả, lươn, gà, vịt, … và bán cho các địa phương. Phân
giun được sử dụng để trồng cây cảnh, trồng rau sạch trong và ngoài địa bàn.
Hiện nay, mô hình này đang được hoàn thiện và tuyên truyền nhân rộng với
mục tiêu phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho các hộ xã viên, đồng thời
giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề. [TS.Phạm Tố Oanh, 2012]
* Mô hình xử lý khí thải làng nghề tái chế kim loại màu
Nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường khu vực làng nghề trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh, năm 2009, với nguồn vốn hỗ trợ không hoàn lại của
Chính phủ Nhật Bản, Dự án "Hỗ trợ 6 mô hình trình diễn về xử lý ô nhiễm
môi trường không khí tại các làng nghề tái chế kim loại màu" đã được triển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
khai tại 6 HTX tái chế kim loại màu ở 3 xã Văn Môn (Yên Phong), Đại Bái
(Gia Bình), Quảng Bố (Lương Tài). Theo đánh giá của các cơ quan chuyên
môn, công nghệ xử lý khí thải được áp dụng trong các mô hình này là công
nghệ xử lý khí bằng phương pháp hấp thụ và khuếch tán tuần hoàn với thiết bị
lọc bụi kiểu ướt. Toàn bộ khí thải trong quá trình sản xuất bao gồm các thành
phần bụi, hơi nước, kim loại nặng và hỗn hợp khí CO
2
, SO
2
được hút theo
tháp dẫn nhờ sự chênh lệch áp suất tự nhiên và trên nóc của hệ thống tháp
được lắp đặt quả cầu hút. Sau khi qua tháp, kim loại nặng, khí độc sẽ lắng
xuống đáy bể có chứa dung dịch tuần hoàn, khí thoát ra môi trường là khí
sạch. Dung dịch hấp phụ được bom vận chuyển tuần hoàn trong tháp, sau chu
kỳ 2 tháng, hoạt động lượng bùn ở đáy bể sẽ được tháo ra ngoài. [TS.Phạm
Tố Oanh, 2012]