Thành phần thiên địch của sâu hại ngô, đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ cánh cộc (paederus fuscipes curtis) trên ngô năm 2013 2014 tại gia lâm, hà nội - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


HATSADA VIRACHACK
THÀNH PHẦN THIÊN ĐỊCH CỦA SÂU HẠI NGÔ,
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI CỦA BỌ CÁNH CỘC
(Paederus fuscipes Curtis)
TRÊN NGÔ NĂM 2013 - 2014
TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Hatsada VIRACHACK

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ,
hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi của các thầy, cô và cán bộ
của Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Ban Quản lý Đạo tạo, Ban Giám
hiệu; Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Trần Đình Chiến đã tận tình hướng dẫn,
chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện thành công đề tài
luận văn thạc sĩ này.
Trong thời gian học tập và nghiên cứu tôi cũng đã nhận được sự động viên,

1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
2.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
2.2.2. Những nghiên cứu về sâu hại ngô. 8
2.2.3. Những nghiên cứu về thành phần thiên địch trên ngô 9
2.2.4. Những nghiên cứu về loài Paederus fuscipes Curtis. 11
2.3. Những nghiên cứu trong nước 13
2.3.1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam. 13
2.3.2. Những nghiên cứu về sâu hại ngô. 16
2.3.3. Những nghiên cứu về thành phần thiên địch trên ngô 18
2.3.4. Những nghiên cứu về loài Paederus fuscipes Curtis. 21
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.2. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 23
3.2.1. Vật liệu 23
3.2.2. Dụng cụ nghiên cứu 23
3.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.3.1. Địa điểm 23
3.3.2. Thời gian nghiên cứu 24
3.4. Nội dung nghiên cứu 24
3.5. Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1. Điều tra xác định thành phần thiên địch của sâu hại trên ngô năm 2013
tại Gia Lâm, Hà Nội. 24

4.4.2. Sức ăn sâu đục thân ngô tuổi 1 của bọ cánh cộc Paederus fuscipes Curtis 61
5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1. Kết luận 62
5.2. Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 68 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

DANH MỤC BẢNG

Thứ tự Tên bảng TrangBảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới giai đoạn 1961-2010 6
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô của một số nước thế giới
năm 2010 7
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1975 – 2010 15
Bảng 4.1. Thành phần và mức độ phổ biến của sâu hại ngô vụ thu đông
năm 2013 tại Gia Lâm, Hà Nội 30
Bảng 4.2 Tỷ lệ các họ và loài sâu hại trên ruộng ngô vụ thu đông 2013
tại Gia Lâm, Hà Nội 32
Bảng 4.3. Thành phần thiên địch trên ngô 2013 tại Gia Lâm,Hà Nội 33
Bảng 4.4 Tỷ lệ các họ và loài thiên địch trên ruộng ngô 2013 tại Gia
Lâm, Hà Nội 35
Bảng 4.5. Diễn biến mật độ Bọ cánh cộc P. fuscipes tại 03 xã của huyện
Gia Lâm vụ thu đông 2013 38
Bảng 4.6. Tỷ lệ (%) lá bị nhiễm rệp muội Rhopalosiphum maydis Fitch, chỉ

Thứ tự Tên hình Trang

Hình 2.1. Các pha phát dục của bọ cánh cộc Paederus fuscipes Curtis 12
Hình 3.1. Bẫy hố thu bọ chân chạy 25
Hình 4.1. Một số hình ảnh về thiên địch trên ngô tại Gia Lâm, Hà Nội 37
Hình 4.2. Diễn biến mật độ Bọ cánh cộc tại 03 xã của huyện Gia Lâm
vụ thu đông 2013 39
Hình 4.3. Tỷ lệ (%) lá bị nhiễm rệp muội Rhopalosiphum maydis Fitch,
chỉ số rệp ngô tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội vụ thu đông 2013 41
Hình 4.4. Tỷ lệ (%) lá bị nhiễm rệp muội Rhopalosiphum maydis Fitch,
chỉ số rệp ngô tại xã Cổ Bi, Gia Lâm, Hà Nội vụ xuân 2014 43
Hình 4.5. So sánh mức độ hại của rệp muội vụ thu đông 2013 với vụ
xuân 2014 44
Hình 4.6. Mối tương quan giữa chỉ số rệp (%) với mật độ loài bọ cánh
cộc vụ thu đông 2013 46
Hình 4.7. Trứng bọ cánh cộc P. fuscipes 47
Hình 4.8. Ấu trùng tuổi 1 bọ cánh cộc P. fuscipes 48
Hình 4.9. Ấu trùng tuổi 2 bọ cánh cộc P. fuscipes 49
Hình 4.10. Pha nhộng bọ cánh cộc P. fuscipes 49
Hình 4.11. Trưởng thành đực và cái của bọ cánh cộc P. fuscipes 50
Hình 4.12. Nhịp điệu đẻ trứng của bọ cánh cộc P. fuscipes 54
Hình 4.13. Tỷ lệ trứng nở của bọ cánh cộc P. fuscipes 55
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô có tên khoa học là (Zea mays L.) là loại ngũ cốc quan trọng thứ
3 trên thế giới, cung cấp chất dinh dưỡng cho con người và động vật, đồng

nhưng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh các giống
ngô lai kém hơn so với giống cũ của địa phương đã trải qua quá trình chọn lọc
tự nhiên. Mặt khác nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đây là điều kiện
thuận lợi của một số loài sâu bệnh gây hại nặng cho cây Ngô nói riêng và cho
ngành nông nghiệp nước ta nói chung.
Ngày nay cùng với sự thâm canh cao và việc sử dụng nhiều loại thuốc hóa
học làm thay đổi cân bằng tự nhiên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến
các loài sâu hại trên ngô ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất
và chất lượng ngô. Trong các nguyên nhân đó không thể không nhắc tới các loài
sâu hại: sâu cắn lá ngô, sâu đục thân ngô, sâu xám, rệp ngô… Tuy nhiên phương
pháp mà người nông dân lưạ chọn không ngần ngại để phong trừ là phun thuốc hóa
học. Nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới một nền nông nghiệp sạch, bền vững,
trong đó biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là nòng cốt.Việc sử dụng các
loài thiên địch sẽ mở ra một hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp. Do đó
nghiên cứu các loài thiên địch của sâu hại ngô ngày càng được quan tâm và chú
trọng, để từ đó đề xuất các biện pháp bảo vệ, khích lệ sự gia tăng của các loài thiên
địch trên đồng ruộng cũng như phát huy tối đa được hiệu quả phòng trừ của chúng
ngoài đồng ruộng. Thành phần thiên địch của sâu hại ngô có khá phong phú, loài có
vai trò quan trọng và chiếm ưu thế trên ruộng ngô là bọ cánh cộc Paederus fuscipes
Curtis. Được sự đồng ý của Bộ môn Côn trùng – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
chúng tôi thực hiện đề tài: “Thành phần thiên địch của sâu hại ngô, đặc điểm
sinh học, sinh thái của bọ cánh cộc (Paederus fuscipes Curtis) trên ngô năm
2013 - 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội’’. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

1.2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích


2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Các giải pháp phòng chống sâu hại ngô theo hướng bền vững phải được
xây dựng trên cơ sở hiểu biết một cách khoa học về thành phần, số lượng và
các yếu tố ảnh hưởng đến tập hợp nhiều sinh vật chứ không phải của từng loài
sinh vật gây hại riêng rẽ. Những nghiên cứu về quần xã côn trùng trên cây
trồng nói chung và tập hợp thiên địch-sâu hại nói riêng trong sinh quần ruộng
ngô là rất quan trọng để xây dựng biện pháp phòng chống các loài sâu hại.
Tất cả các loài cây trồng nói chung, cây ngô nói riêng đều bị nhiều loài
sinh vật khác nhau phá hại, đây gọi là sinh vật gây hại cây trồng. Khi chúng
sinh trưởng và phát triển với mật độ cao gây hại ảnh hưởng nghiêm trọng tới
cây trồng thì được gọi là dịch hại. Trong tự nhiên các sinh vật là kẻ thù của
dịch hại cây trồng thì được gọi là thiên địch, đây gọi là loài sinh vật sử dụng
dịch hại làm thức ăn vì vậy chúng không có hại đối với cây trồng. Trong sinh
quần nông nghiệp thì hai thành phần dịch hại và thiên địch luôn song song tồn
tại và không thể thiếu được, khi một trong hai thành phần này mất đi thì sẽ
gây mất cân bằng sinh thái đồng ruộng. Khả năng phát triển số lượng cá thể
trong quần thể từng loài cũng không giống nhau ngay cả trong cùng một loài
cũng khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào môi trường sinh thái mà chúng sinh
sống. Darwin (1859) đã viết: “ Số lượng trung bình của loài và ngay sự tồn tại
của loài đều phụ thuộc vào sự tác động của nhiều yếu tố môi trường” (dẫn
theo Phạm Văn Lầm, 1995).
Với xu thế phát triển của nền nông nghiệp bền vững, việc phòng trừ sâu
hại bằng biện pháp sinh học, nghiên cứu các loài thiên địch bắt mồi trên cây
trồng nói chung, trên cây ngô nói riêng, là đối tượng để các nhà khoa học
quan tâm và đi sâu nghiên cứu loài P. fuscipes Curtis là loài bắt mồi có tác
dụng trong việc hạn chế số lượng sâu hại trên ngô.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5



Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới giai đoạn 1961-2010
Năm
Ngô
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
1961 105,48 19,4 205,00
2004 147,44 49,48 729,21
2005

148,61

48,42

713,91

2006 148,61 47,53 706,31
2007 158,61 49,69 788,11
2008 161,01 51,09 822,71
2009 155,7 51,9 809,02
2010 162,32 51,55 820,62
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2010)
Qua bảng số liệu trên cho thấy, năn 1961, năng suất ngô trung bình của
thế giới chỉ đạt sấp xỉ 20 tạ/ha nhưng đến năm 2004 năng suất ngô trên thế
giới đã đạt 49,48 tạ/ha. Năm 2010, diện tích trồng ngô gieo trồng với 162,32
triệu ha, năng suất đạt 51,55 tạ/ha, và sản lượng đạt 820,62 triệu tấn

(1000tấn)
Mỹ 32,21 10,34 333,010
Trung Quốc 30,48 5,35 163,118
Brazin 13,79 3,72 51,232
Mexico 7.20 2,81 20,202
Ấn Độ 8,40 2,06 17,300
Ý 0,92 8,60 7,877
Đức 0,46 9,75 4,527
Hy Lạp 0,24 9,80 2,352
Israel 0,005 16,22 81
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2010)
Theo FAO, việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất
cân đối giữa cung và cầu đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần,
các nước xuất khẩu ngô giảm dần từ nay đến những năm đầu thế kỷ XXI.
Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như
Mỹ, Trung Quốc, Achentina, Hungari…(Ngô Hữu Tình, 2003).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

Trung Quốc được xem là vương quốc đứng thứ hai trên thế giới sau
Mỹ và đứng thứ nhất trong khu vực châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai
với tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng. Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai
quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các
quốc gia khác trên thế giới. Các nước khác như Ý, Đức, Israel,…… mặc dù
năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa
được mở rộng.
2.2.2. Những nghiên cứu về sâu hại ngô.
Trên cây ngô các loài sâu hại chính như: Sâu cắn lá ngô, sâu keo, sâu
đục thân, cánh cứng ăn lá; riêng sâu đục thân có 6 loài sâu ăn hạt, ăn lá có 6
loài (Hill và Waller, 1988).

nhiên đối với mỗi loài sâu hại thì có những biện pháp phòng trừ khác nhau,
bao gồm các biện pháp: canh tác, cơ giới, hóa học , dùng giống kháng và
phòng trừ tự nhiên. Ngày nay, với việc hướng tới một nền nông nghiệp bền
vững thì biện pháp phòng trừ tự nhiên rất được quan tâm, việc sử dụng thiên
địch ngày càng được chú trọng, khích lệ.
Thiên địch sâu hại ngô có vai trò khá quan trọng trong hạn chế sự gia
tăng của các loài sâu hại, chúng đã được khá nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Ở Triều Tiên đã ghi nhận được 2 loài, trong đó loài ong mắt đỏ
Trichogramma evanescens có thể tiêu diệt được 63,8% số trứng vật mồi. Ở
Malaysia ghi nhận được 2 loài ký sinh nhộng sâu hại ngô và loài bắt mồi ăn
thịt. Ở Phillippine đã phát hiện được 3 loài bắt mồi và 1 loài ký sinh trứng sâu
hại ngô (Hussein et al., 1983; Lee et al., 1982)
Loài bọ rùa 6 vệt đen Chilomenus sexmacalata khi nghiên cứu ở
Malaysia có vòng đời trung bình 17,6 ngày, còn ở Nhật Bản cho kết quả vòng
đời trung bình 25,3 - 26,7 ngày. Thí nghiệm nuôi bọ rùa bằng các loại rệp
muội khác nhau, kết quả cho thấy khi thức ăn là rệp muội loài Aphis
craccivora hay Myzus persicae thì bọ rùa có thời gian phát dục ngắn, 1 cá thể
bọ rùa cái đẻ trứng trong 10 ngày đầu có thể tới 172 trứng. Nếu nuôi bằng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

các loài rệp khác như Aulacorthum solani, Sitobion akebiea thì bọ rùa có
vòng đời dài hơn, số trứng đẻ trong 10 ngày đầu của 1 cá thể cái chỉ đạt 99
trứng. (Hussein et al., 1990; Sugiur et al., 1998)
Patro Sontakke (1996) nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và khả năng
ăn mồi của bọ rùa hình chữ nhân Coccinella transversalis ở Ấn Độ cho kết
quả trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 28,3 ± 1,1
0
C và ẩm độ 57,9 ±
10,4%, nuôi bọ rùa bằng loài rệp muội Aphis craccivora, các pha trứng, tiền

bệnh là một trong những yếu tố làm năng suất ngô giảm. Kết quả ghi nhận có
hơn 50 loài côn trùng hại ngô và tấn công ở tất cả các giai đoạn tăng trưởng của
cây ngô. Một trong các loài gây hại nhất trên ngô là sâu đục thân ngô (Ostrinia
furnacalis Guenee). Kiểm soát sâu đục thân một mối quan tâm lớn của người
trồng ngô, đặc biệt là trồng ngô ngọt. Sâu đục thân ngô (Ostrinia furnacalis
Guenee) làm giảm năng suất tiềm năng bình quân 52%. Hiện tại nông dân chủ
yếu là áp dụng các loại thuốc trừ sâu hóa học. Tuy nhiên, việc sử dụng liên tục
thuốc trừ sâu sẽ dẫn tới sâu kháng thuốc. Do đó cần thiết xác định kẻ thù tự
nhiên tiềm năng của sâu đục thân ngô như các biện pháp kiểm soát sinh học.
2.2.4. Những nghiên cứu về loài Paederus fuscipes Curtis.
Loài P. fuscipes phân bố rộng trên thế giới, ở châu Á, châu Âu, châu
Phi, New Guinea, Úc và Ấn Độ. Chúng thường thấy trên nhiều loài cây trồng
như lúa, ngô, bông, rau, với vai trò là thiên địch của nhiều loài sâu hại như
Adelphocoris, Laodelphax, Cnaphalocrocis, Omiodes indicata (Devi et
al.,2003; G. V. Manley, 1977)
Ở Malaysia, P. fuscipes là một trong những kẻ săn mồi côn trùng phổ
biến nhất được tìm thấy trên ruộng lúa, chúng xuất hiện ngay sau khi cấy lúa
và duy trì trong suốt vụ. Môi trường sống của chúng chủ yếu là nơi ẩm ướt,
nhưng vào mùa mưa chúng sẽ di chuyển đến nơi khô ráo hơn (Manley, 1977).
Ở Indonesia, Kilin (1994) đã phát hiện P. fuscipes là một trong những kẻ
săn mồi làm giảm đáng kể số lượng rầy nâu (Nilaparvata lugens) hại lúa, một
con P. fuscipes trưởng thành có thể ăn từ 2,3 đến 7,3 con rầy nâu.
Theo Killin (1994), loài P. fuscipes có vòng đời là 18 ngày. Thời gian pha
trứng là 4 ngày, ấu trùng 9,2 ngày và nhộng là 3,8 ngày. Thời gian sống trung
bình của con cái là 113,8 ngày và con đực 109,2 ngày. Một con cái có khả năng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

đẻ tới 106 quả trứng, với tỷ lệ nở trứng là 90,2%. Trưởng thành của bọ cánh cộc
P. fuscipes là loài ăn tạp, thức ăn chủ yếu là côn trùng, nhện và tuyến trùng đất,

đen, cuối các đốt bụng có hai gai màu đen.
Ở tỉnh Henan (Trung Quốc) năm 1984, loài P. fuscipes đã được biết
đến là loài côn trùng ăn thịt quan trọng của côn trùng gây hại Nông Nghiệp
(Zhu, 1984) . Năm 2006, tại tỉnh Anhui (Trung Quốc), đã xác định có 12 loài
côn trùng gây hại và 16 loài kẻ thù ăn thịt trên lúa trong đó P. fuscipes được
tìm thấy là kẻ săn mồi phổ biến nhất trên ruộng lúa (Li Peng et al., 2007).
2.3. Những nghiên cứu trong nước
2.3.1.Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam.
Ở nước ta, ngô là cây trồng nhập nội được đưa vào Việt Nam khoảng
300 năm và trở thành một trong những cây trồng quan trọng hệ thống cây
lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 1997). Cây ngô đã khẳng
định vị trí trong sản xuất nông nghiệp và trở thành cây lương thực quan
trọng đứng thứ hai sau cây lúa đồng thời là cây màu số một, góp phần đáng
kể trong việc giải quyết lương thực tại chỗ cho người dân Việt Nam, nhờ
những đặc tính sinh học ưu việt như khả năng thích ứng rộng, chịu thâm
canh, đứng đầu về năng suất, trồng được ở nhiều vùng sinh thái và ở các vụ
khác nhau trong năm, từ đó diện tích trồng ngô nhanh chóng được mở rộng
ra khắp cả nước đặc biệt là vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Trong hơn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

mười năm trở lại đây, những thành công trong công tác nghiên cứu và sử
dụng các giống ngô lai được coi là cuộc cách mạng thực sự trong ngành sản
xuất ở Việt Nam. Những thành tựu nghiên cứu về cây ngô đã thay đổi sâu
sắc tập quán trồng ngô ở Việt Nam và đã có những đóng góp nhất định cho
mục tiêu phát triển cây ngô ở nước ta.
Ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt từ
đầu những năm 1991, diện tích trồng ngô lai ở nước ta chỉ đạt 1% tổng diện
tích trồng ngô, nhưng đến năm 2007, giống ngô lai đã chiếm khoảng 95%
trong tổng số hơn 1 triệu ha trồng ngô. Năm 2008, diện tích trồng ngô của cả

Giang, Trà Vinh, Bà Rịa-Vùng Tàu, Sơn La, Hà Tây, Vĩnh Phúc,…
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất ngô Việt Nam giai đoạn 1975 – 2010
Năm
Diện tích
(Nghìn ha)
Năng suất
Tạ/ha
Sản lượng
(Nghìn tấn)
1975

276,6

10,42

278,4

1980 389,6 11,00 428,8
1985

3
92,2

14,90

584,9

1990 431 15,50 671,0
1995


40,80

4.431,8

2010 1.126,9 40,90 4.606,8
(Nguồn: Số liệu thống kê của FAO, 2011)
Sự phát triển ngô lại ở Việt Nam đã được CIMMYT và FAO cũng
như các nước trong khu vực đánh giá cao. Việt Nam đã đuổi kịp các nước
trong khu vực về trình độ nghiên cứu tạo giống ngô lai và đang ở giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status