Thành phần thiên địch của sâu hại rau họ hoa thập tự vụ thu đông 2007 và biện pháp phòng chống sâu tơ, bọ nhảy bằng bọ xít bắt mồi (Orius sp.) và nấm Metarhizium sp. tại Đặng Xá Gia Lâm Hà Nội - Pdf 22


1
Phần 1. Mở đầu

1.1. Đặt vấn đề
Rau họ hoa thập tự (Brassiceae) là nhóm cây thực phẩm quan trọng cho
loài ngời. Một trong những khó khăn lớn nhất cho nghề trồng rau cải là sự
phá hoại nghiêm trọng của sâu tơ, bọ nhảy. Từ lâu sâu tơ (Plutella xylostella),
bọ nhảy (Phyllotreta striolata) đã trở thành thách thức lớn trong việc phòng
trừ dịch hại trên rau họ hoa thập tự. Mức độ tàn phá ghê ghớm của chúng đã
dặt ra không ít những bài toán khó cho nguời sản xuất và các nhà khoa học.
Thiệt hại hàng năm do sâu tơ gây ra khoảng 30-50% năng suất, chi phí cho
việc phòng trừ chiếm 20-40% tổng chi phí cho cây cải bắp [7].
Sâu tơ từ lâu đợc coi là điển hình về khả năng quen thuốc và kháng
thuốc, cùng với đặc điểm sinh học phức tạp của bọ nhảy (sâu non, nhộng sống
trong dất), khả năng sinh sản lớn, vòng đời ngắncùng với việc thâm canh và
chuyên canh cao càng tạo điều kiện cho sự bùng phát lớn về số lợng và gây
ra những thiệt hại nặng nề về năng suất và chất lợng rau, vì vậy ngời sản
xuất không ngừng tăng cờng việc sử dụng biện pháp hoá học giảm thiểu thiệt
hại bất chấp những nguy cơ tiềm tàng của nó đồng thời cùng với sự thiếu hiểu
biết, chạy theo lợi nhuận đã gây ra những hậu quả đáng lo ngại: ô nhiễm môi
trờng, mất cân bằng sinh thái, tiêu diệt các loài thiên địch, hình thành tính
kháng thuốc của dịch hại Và quan trọng hơn là chúng ảnh hởng trực tiếp
tới con ngời và tiềm ẩn những nguy cơ về sau. Theo thống kê cha đầy đủ
của Cục Vệ sinh An toàn Thực phẩm, trong 6 tháng đầu năm, cả nớc xảy ra
116 vụ ngộ độc thực phẩm, trong đó 15 vụ ngộ độc hàng loạt với 3.020 nạn
nhân, làm chết 25 ngời. Phân tích nguyên nhân cho thấy có 4 vụ do d lợng
hoá chất BVTV. Theo bác sĩ Nguyễn Thị Dụ, Giám đốc Trung tâm Chống
độc, mỗi năm Trung tâm tiếp nhận khoảng 1.800 ca ngộ độc các loại, trong đó
1/3 là ngộ độc thực phẩm do hoá chất gây ra [23]. Theo đánh giá của bệnh


3
1.2. Mục đích v yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Trên c s iu tra thnh phn hại v thiên ch ca chúng trên rau thuc
h hoa thp t ti khu vc Gia Lâm- H Ni; nm c vai trò iu ho s
lng ca các loi thiên ch i vi sâu t, b nhy t ó ra biện pháp
phòng chng sâu hi thích hp, an ton, có hiu qu kinh t v hớng theo
phát trin nông nghip bn vng.
1.2.2. Yêu cầu
- iu tra thnh phn sâu hại và thiên ch ca chúng trên rau h hoa thp
t v thu đông 2007.
- iu tra din bin s lng sâu t, b nhy hi rau họ hoa thập tự v thu
đông 2007.
- Điều tra diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi Orius sauteri .
- Mô t hình thái, c tính sinh hc một số thiên địch của sâu hại rau h
hoa thp t.
- Xác nh hiu qu ca bin pháp sinh hc s dng b xít bt mi v nm
Metarhizium sp. phòng tr sâu t, b nhy.

4
Phần 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
trong và ngoài nớc

2.1. Một số nghiên cứu về thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự
Viện BVTV (1967-1968) đã điều tra ở các tỉnh phía Bắc xác định trên
rau họ hoa thập tự có 23 loài sâu hại thuộc 13 họ và 6 bộ. Trong 23 loài phát
hiện thì chỉ có 14 loài gây hại rõ rệt . Theo Nguyễn Quý Hùng (1995) trên cải

tiên đợc báo cáo ở Bắc Mỹ bang Illinois năm 1854 và từ phía tây Canada
năm 1885 (Harcourt,1962). Hiện nay nó có mặt trên khắp nớc Mỹ và
Canada. ở Hawaii, lần đầu tiên xuất hiện năm 1892 và hiện nay có mặt trên
khắp các hòn đảo [36].
Về sự gây hại, ở Châu Âu đặc biệt ở Anh, sâu tơ có lịch sử phá hoại gần
160 năm nay, nhng ở các nớc khác thuộc Châu á và Châu Mỹ mới chỉ ghi
nhận sự phá hoại của sâu tơ ở đầu thế kỷ 20. ở Argentina, Australia, New
Zealand và Nam Phi sâu tơ trở thành dịch hại nguy hiểm từ trớc năm 1930, từ
đó đến năm 1939 sâu gây hại nghiêm trọng ở các nớc Chile, Columbia,
Jamaica, Và sau đó là gây hại tại Brazil(1981), Bulgaria(1957), Hong Kong
(1960), India (1968), Indonesia (1950) Tổng kết đến năm 1972 tối thiểu đã
có 128 nớc ghi nhận sự phá hoại của nó (Dẫn theo Nguyễn Quý Hùng) [7].
Do sự khác nhau về địa lý nên những nghiên cứu về đặc điểm sinh học
cũng khác nhau và đặc trng cho từng vùng đó. Điều đó cũng thể hiện sự thích
nghi rộng rãi ở nhiều vùng sinh thái của sâu tơ.
ở Canada, vòng đời sâu khoảng 14 - 21 ngày, Hồng Kông 22- 37 ngày,
Malaysia 10,8 - 27 ngày. ở nhiệt độ 20
0
C thì vòng đời sâu là 23 ngày nhng
khi nhiệt độ 25
0
C thì vòng đời rút ngắn lại 16 ngày (Koshihara, 1985) [28].
Phạm vi nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển của sâu tơ dao động trong

6
khoảng 17,5
0
C - 27,5
0
C [2]. Tuy nhiên, sâu vẫn sống và phát triển đợc trong

Chen và Su (1986) đã chỉ ra ma lớn là yếu tố chính làm giảm số lợng sâu tơ
trong mùa hè. Ma không những rửa trôi trứng và sâu non trên lá mà còn hạn
chế hoạt động bay và đẻ trứng của bớm. ở bắc Thái Lan và vùng cao nguyên
thờng sâu tơ phát sinh và phá hoại nhiều từ tháng 2 - 4 khi điều kiện khí hậu
thích hợp và thức ăn đầy đủ. ở Đài Loan, cây họ hoa thập tự có thể thấy quanh
năm ngoài ruộng, đó là nguồn thức ăn lý tởng để sâu tơ tồn tại và phát triển
liên tục (Chang 1960, Wang 1984, Lew và Lee1984, Talekar và Lee 1985).
Những thực nghiệm của Talekar và ctv (1986) sử dụng tới phun ma đã hạn
chế đợc sự phá hoại của sâu tơ và cho rằng hệ thống tới phun này ảnh hởng
tới hoạt động của bớm và sự đẻ trứng (Dẫn theo Nguyễn Quý Hùng) [7].
Qua đó ta có thể thấy sự biến động của quần thể sâu tơ bị tác động mạnh
mẽ bởi lợng ma, nhiệt độ, thức ăn. Sự chuyên canh và thâm canh rau đã tạo
ra nguồn thức ăn liên tục cho sâu tơ, là yếu tố tích cực thúc đẩy sự tăng nhanh
mật độ. Vì vậy việc bố trí thời vụ, biện pháp tới tiêu có thể hạn chế đợc mật
độ sâu tơ và khả năng gây hại của chúng trên đồng ruộng.

7
Vấn đề nổi bật của sâu tơ là khả năng hình thành và phát triển nhanh
tính kháng đối với các loại thuốc hoá học để phòng trừ chúng. Sâu tơ là loại
côn trùng thuộc bộ cánh vảy đầu tiên đợc Ankersmit phát hiện có tính kháng
thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ DDT vào những năm 1953. Một số tài liệu khác
chỉ rõ sâu tơ là đối tợng đầu tiên đợc Tasbashnik phát hiện có tính kháng
với chế phẩm sinh học BT vào năm 1990 (dẫn theo Nguyễn Quý Hùng, Lê
Trờng và ctv, 1995) [7].
ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu tơ đợc các tác giả Nguyễn Quí
Hùng, Lê Trờng, Lã Phạm Lân, Dơng Thành Tài, Huỳnh Công Hà, Trần Đức
Văn thực hiện khá chi tiết. Theo Lê Trờng (1982), ở cuối thập niên 40 nhiều
vùng ở Hà Nội và Hải Phòng, nông dân đã phải sử dụng thuốc trừ sâu để hạn
chế sâu tơ gây hại trên các ruộng cải. Hiện nay sâu tìm thấy hầu nh ở tất cả
các vùng trồng rau cải. Năm 1967 - 1968, theo ban điều tra cơ bản côn trùng Bộ

ngày xử lý.
Nguyễn Văn Trịnh, Vũ Thị Sử và Nguyễn Thị Nguyên [20] cũng đã
nghiên cứu hiệu quả khống chế số lợng quần thể sâu tơ của ong ký sinh
A.plutellae trên đồng ruộng và thu đợc kết quả: Trong một vụ gieo trồng,
tỷ lệ sâu tơ bị ong ký sinh tăng dần từ lứa sâu thứ 1 đến lứa thứ 2 (đối với
vụ sớm và vụ muộn) cho tới lứa thứ 3 (chính vụ). Từ vụ rau sớm đến vụ
trồng muộn, tỷ lệ ký sinh tăng dần từ 1,6 - 2,1% (ở vụ rau sớm), và đạt tới
6,5-10,2% (trong vụ muộn). Trong điều kiện không phun thuốc tỉ lệ ký sinh
đạt mức cao hơn. Ngoài ra còn rất nhiều những nghiên cứu khác về các biện
pháp phòng trừ sâu tơ.
Nh vậy các biện pháp sinh học đã đợc quan tâm nghiên cứu và đã đạt
đợc những thành quả nhất định.
2.3. Tình hình nghiên cứu về bọ nhảy (Phyllotreta striolata)

Cùng với sâu tơ, bọ nhảy cũng là đối tợng gây hại quan trọng trên rau họ
hoa thập tự. Thiệt hại của chúng gây ra sẽ rất lớn nếu không đợc phòng trừ
kịp thời ngay từ giai đoạn cây còn nhỏ. Vì vậy, từ lâu đã có nhiều nghiên cứu
về sự gây hại của chúng.
Theo kết quả nghiên cứu của Burgess (1977), Jarnock W.J và Lamb R.J
(1987) bọ nhảy là côn trùng gây hại chính ở miền tây Canada. Theo ớc tính

9
chúng làm mất hàng chục triệu đô la do chi phí bảo vệ thực vật tăng, năng suất
thơng phẩm giảm. Thiệt hại kinh tế do bọ nhảy gây ra nguy hại nhất do
những con trởng thành qua đông, chúng tấn công phá hại cây trồng vào mùa
xuân khi cây giống vừa nảy mầm. Trởng thành bọ nhảy cắn thủng lá mầm, lá
thật, thậm chí cả thân cây vừa nhú (Burgess, 1977) [25]. Burgess (1981) [25]
cho rằng sự di chuyển của trởng thành bằng phơng thức bay nhảy đã làm
lây nhiễm từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng khác một cách
nhanh chóng. Hoạt động ăn mạnh nhất của bọ nhảy trởng thành gặp thời tiết

làm thất thu hoàn toàn.
Theo Hồ Khắc Tín và cộng sự (1980) [15], bọ nhảy trởng thành có
kích thớc cơ thể dài 1,8 - 2,4mm, hình bầu dục, toàn thân màu đen bóng.
Trên cánh có 2 vân sọc hình vỏ củ lạc màu trắng. Thời gian sống của bọ nhảy
trởng thành rất dài, có thể tới 1 năm. Giai đoạn từ khi vũ hoá đến đẻ trứng
phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trờng, có thể từ 15 - 70 ngày.
Sâu non đãy sức hình ống tròn dài 4mm, màu vàng nhạt. Có 3 đôi chân
ngực rất phát triển các đốt đều có u lồi, trên u có các lông nhỏ.
Nhộng hình bầu dục dài khoảng 2mm, màu vàng nhạt, mầm cánh và
mầm chân sau rất dài. Đốt cuối cùng có 2 gai lồi.
Trứng đợc đẻ ngay trên cây gần sát mặt đất, hình bầu dục dài 3mm, màu
vàng sữa. Trong điều kiện nhiệt độ 26
o
C trởng thành phát dục từ 4 - 8 ngày.
Quy luật phát sinh gây hại của bọ nhảy có liên quan trực tiếp với một số
yếu tố ngoại cảnh nh nhiệt độ và ẩm độ, nhiệt độ dới 10
o
C và trên 34
o
C bọ
nhảy ít hoạt động và tìm nơi ẩn náu. ẩm độ không khí trên 80% là thích hợp,
dới 80% sẽ ảnh hởng rõ rệt đến số lợng trứng đẻ và tỉ lệ sâu sống. Ma
nhiều, bọ nhảy đẻ ít và tỉ lệ nở cũng nh tỉ lệ sống sót của sâu non thấp.
Do trởng thành bọ nhảy sống lâu và đẻ trứng kéo dài nên không tạo
thành lứa rõ rệt. Hàng năm chúng phá hoại nhiều trên cây vụ đông từ tháng 9
đến tháng 4 năm sau nhng thiệt hại nặng nhất vào tháng 2 đến tháng 3.
Theo Vũ Thị Hiển (2002) [5], từ tháng 7 đến tháng 9 mật độ trởng thành
thấp từ 5 - 40 con/m
2
không ảnh hởng tới năng suất cũng nh chất lợng rau.


12
Nagai (1988), Kawamoto và Kawai (1988), Nagai (1990,1993), Kawai
và Kawamoto (1994), Kawai (1995) đã công nhận khả năng khống chế hiệu
quả bọ trĩ T. palmi trên cây cà tím trong nhà kính (Dẫn theo Kazuya Nagai và
Eizi Yano) [27].
Về đặc tính sinh học của Orius sp., trong phòng thí nghiệm sử dụng bọ
trĩ (Thrips palmi) làm vật mồi, Nagai(1990) [31] đã chỉ ra rằng, vòng đời của
Orius .sp ngắn lại khi nhiệt độ tăng lên. ở Nhật Bản, trong phòng thí nghiệm ở
25
o
C, một trởng thành cái Orius sp. trung bình ăn 22 sâu non tuổi 2 hoặc 26
trởng thành bọ trĩ (T. palmi) trong 1 ngày, tuy nhiên Orius sp. không ăn
trứng bọ trĩ.
Theo Murai và ctv (2001) [30] khi nuôi Orius sauteri ở 24
o
C bằng bọ trĩ
(Thrips palmi) thì nó có thời gian phát dục từ khi trứng nở đến khi trởng
thành là 12,9 ngày (con đực) và 13,3 ngày (con cái), thời gian đẻ trứng của 1
trởng thành cái là 41,5 ngày, tổng lợng trứng đẻ là 108,7 (quả/con), tỉ lệ
trứng nở là 97,1%, việc bảo quản trứng ở nhiệt độ từ 2,5 - 12,5
o
C trong 1 tuần
trứng vẫn còn khả năng đạt tỉ lệ nở cao.
Theo Yano E và ctv (2001) [33], khi nuôi Orius sauteri bằng trứng
Ephestia kuchniella ở 25
o
C, thời gian phát dục của trứng là 4,8 ngày, tỉ lệ
trứng nở là 80%, tỉ lệ sâu non sống sót là 93,2%, thời gian phát dục của trởng
thành cái là 27,9 ngày, trởng thành đực là 36,4 ngày, trởng thành cái đẻ

cái 1,95x0,85 mm con đực là 1,68 x 0,75 mm.
Còn theo Trần Thị Thiên An và ctv (2003) [1] ghi nhận, trởng thành
bọ xít bắt mồi Orius sp. khi mới vũ hoá có màu trắng sau chuyển dần sang
màu đen, cánh trắng đục, bụng 8 đốt, đốt bàn chân có 2 móc hình lỡi câu mắt
kép màu nâu đỏ, râu 4 đốt, cơ thể dài 2,03mm rộng 0,79mm, bọ xít non có 5
tuổi, tuổi 5 có cơ thể dài 2,02mm, rộng 0,79mm. Trứng hình quả bầu, dài
0,5mm, rộng 0.17mm có nắp trứng hơi gồ lên. Cả bọ xít non và trởng thành
đều hoạt động săn mồi trên búp ngọn hoặc dới mặt lá. Vòng đời khi nuôi
bằng bọ trĩ là 18,92 ngày, khả năng đẻ trứng là 54,33 (trứng/ ngày), khả năng
ăn mồi của trởng thành đối với bọ trĩ sọc vàng trung bình là 23,3 con/ngày
và đối với nhện là 27,9 con/ngày.
Các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae cũng đã đợc nghiên cứu rộng rãi.
ở Đông Dơng, Vitalis (1919) đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi bao
gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống. Faraci và Vlach (1994) đã xác
định vùng phân bố và xây dựng khóa định loại cho các loài bọ xít bắt mồi
thuộc giống Coranus ở Italia. Miller (1956) đã mô tả các đặc điểm hình thái
trứng của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae và mô tả bọ xít non tuổi 1,
tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ này. Theo Khoo (1990) thì ở
Malaysia ngời ta đã sử dụng loài bọ xít bắt mồi Sycanus collaris (họ

14
Reduviidae) để phòng chống bọ xít xanh hại đậu tơng Nezaza viridula. (Dẫn
theo Trơng Xuân Lam và Vũ Quang Côn) [8].
Theo El-Sebaey, I. I., El-Bishry, M. H., Coranus africana đã đợc các nhà
khoa học Ai Cập miêu tả. Nó xuất hiện nhiều trên các loài thực vật hoang dã và
cây trồng. Một số khía cạnh sinh học của loài này đã đợc nghiên cứu ở điều kiện
30
0
C 1
0

Xuân Lam và Vũ Quang Côn] [8].

15
2.5. Nghiên cứu về nấm Metarhizium sp.
2.5.1. Sơ lợc về lịch sử ra đời của nấm Metarhizium sp.
Năm 1878 trong khi nghiên cứu về loài sâu Anisoplia austriaca nhà khoa
học ngời Nga I.I.Metchnikov đã phát hiện thấy có một loài nấm có bào tử màu
lục có thể gây chết hàng loạt sâu này. Ông xác định loài nấm này có tên khoa
học là Entomophthora anisopliae. Về sau Sorokin kiểm tra lại và thấy nấm này
không phải thuộc giống Entomophthora mà là thuộc về giống Metarhizium [3].
Năm 1879, Metchnikov tiến hành nghiên cứu lây nhiễm bệnh này trên bọ hung
hại lúa mì và bọ vòi voi hại củ cải đờng Cleonus punctiventris. Các thực
nghiệm đã cho kết quả tốt. Metchnikov đã tìm thấy các côn trùng khác cũng
mẫn cảm với nấm gây bệnh này. Ông bắt đầu sản xuất nấm M.anisopliae để trừ
côn trùng hại. Đến năm 1884 bào tử nấm M.anisopliae đã đợc sản xuất với
lợng lớn để bán. Sự thành công này đã mở đầu cho việc nghiên cứu sử dụng vi
sinh vật trừ sâu hại (Dẫn theo Phạm Văn Lầm) [10].
Nh vậy từ thế kỷ 19 việc sử dụng nấm M. anisopliae phòng trừ sâu hại
và việc thơng mại hoá chế phẩm nấm Metarhizium đã bắt đầu. Và cho đến
nay thì đã gặt hái đợc rất nhiều thành công mới trong nghiên cứu và là một
biện pháp sinh học u việt trong phòng trừ sâu hại.
2.5.2. Một số kết quả nghiên cứu về nấm Metarhizium
Những nghiên cứu về nấm Metarhizium đợc tiến hành rộng rãi và trên
nhiều loại côn trùng.
Tại úc năm 1995, Richard Miller đã tách đợc vài trăm chủng nấm
M.anisopliae từ một nhóm côn trùng sống trong đất dới gốc mía. Trong số
95 chủng thử nghiệm tác giả chỉ chọn đợc 2 chủng có khả năng diệt sâu hại
rễ mía. Hanel đã chon từ 22 chủng vi nấm, chỉ có M.anisopliae là phù hợp cho
phòng trừ sinh học đối với loài mối Masutitermes exitiosus (Hill) . Thuốc vi
nấm M.anisopliae cũng đã đợc nhiều nớc trên thế giới nh : Mỹ, Canada,


17
vải 81,7% sau 12 ngày thí nghiệm. Nhng hiệu lực của chế phẩm này lại đạt
khá cao khi thực hiện ở ngoài đồng ruộng. Cụ thể là hiệu lực với sâu xanh hại
bồ đề Yên Bái là 8,7% sau 10 ngày thí nghiệm (Metarhizium anisopliae) [16].
2.5.3. Đặc điểm hình thái, cơ chế gây bệnh cho côn trùng của nấm
M.anisopliae
Theo Nguyễn Lân Dũng (1981), khi bào tử nấm rơi trên bề mặt côn
trùng trong khoảng 24 giờ sẽ nảy mầm tạo thành ống mầm xuyên qua vỏ côn
trùng sau đó tiếp tục phân nhánh tạo nên mạng sợi nấm chằng chịt bên trong
cơ thể côn trùng. Sợi nấm phát triển trên bề mặt côn trùng có màu từ trắng đến
hồng, cuống bào tử ngắn mọc toả tròn trên đám sợi nấm dày đặc. Bào tử trần
hình que có kích thớc 3,5x6,4x7,2 m, màu từ lục xám đến ôliu lục, bào tử
xếp thành hình chuỗi khá chặt chẽ và nhìn bằng mắt thờng ngời ta có thể
thấy bào tử đợc tạo ra trên bề mặt cơ thể côn trùng một lớp phấn khá rõ màu
xanh lục. Sợi nấm phát triển bên trong côn trùng có chiều rộng khoản 3 - 4m,
dài xấp xỉ 20m, chia thành nhiều tế bào ngắn, trong tế bào có thể thấy rõ nhiều
giọt mỡ.
Nấm có thể phát triển ở pH từ 3,3 - 10 nhng thích hợp nhất với phạm
vi pH từ 6,9-7,4. Nhiệt độ thích hợp là 24-25
0
C, khi nhiệt độ cao quá 28
0
C sợi
nấm bị già đi và không sản sinh bào tử trần. Nấm lục cơng có thể đồng hoá
nhiều nguồn thức ăn cacbon khác nhau. Chúng có thể phát triển tốt trên môi
trờng chứa Glycogen hay Lipit.
Độc tố diệt côn trùng của nấm lục cơng là một số ngoại độc tố có tên là
Destruxin A, B, C và D [13].



19
- Điều tra diễn biến mật độ của bọ xít bắt mồi (Orius sauteri) tại điểm
nghiên cứu.
-Theo dõi và nêu đặc điểm hình thái, sinh học loài bọ xít bắt mồi
Coranus sp.
- Thử khả năng ký sinh sâu non sâu tơ của nấm Metarhizium trong
phòng thí nghiệm.
- Đánh giá hiệu quả phòng trừ sâu tơ Plutella xylostella, bọ nhảy
Phyllotreta striolata của Orius sauteri và Metarhizium ở ngoài đồng.
3.3. Phơng pháp nghiên cứu
3.3.1. Phơng pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
3.3.1.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm nhiều yếu tố gồm 2 yếu tố chính là: cải xanh (Brassica
funcea), cải bắp ( Brassica Cleracea capitata ), và các yếu tố phụ: chế phẩm
nấm Metavina 10DP, bọ xít bắt mồi Orius sauteri, sâu tơ Plutella xylostella,
bọ nhảy Phyllotreta striolata. Thí nghiệm nhắc lại 3 lần.
Các công thức thí nghiệm:
CT1: Đối chứng ( không phun thuốc hoá học, không thả bọ xít, không
sử dụng chế phẩm Metavina)
CT2: Chỉ sử dụng chế phẩm Metavina 10DP
CT3: Chỉ thả bọ xít nhỏ Orius sauteri
CT4: Sử dụng kết hợp chế phẩm Metavina và bọ xít nhỏ O.sauteri


CT4 CT2 CT1 CT3
B1
CT1 CT4 CT2 CT3
C1
CT2 CT1 CT4 CT3
C2
CT2 CT1 CT3 CT4
B2
CT3 CT2 CT1 CT4
B3
CT3 CT2 CT4 CT1
C3

2

3.3.1.3. Phơng pháp điều tra xác định thành phần sâu hại rau họ hoa thập tự
và thiên địch của chúng
Sử dụng phơng pháp điều tra chung sâu bệnh hại cây trồng do cục BVTV
qui định ( 1995 ) [2]. Việc điều tra đợc tiến hành 5 ngày 1 lần. Thu bằng vợt
kết hợp bắt bằng tay các loài nh sâu xanh, sâu khoang, nhện,.Toàn bộ mẫu
vật và sâu hại và thiên địch của chúng bắt gặp trong quá trình điều tra cho vào
túi nilông miệng kín hoặc ngâm vào cồn 70
0
, thu các mẫu nghi bị ký sinh đem
về phòng bảo quản để nở ra ký sinh tiến hành thu bắt ký sinh, việc giám định
và phân loại do thầy Trần Đình Chiến và các thầy cô trong bộ môn côn trùng
giúp đỡ. Các thông tin đợc ghi chép lại một cách đầy đủ ngày điều tra, địa
điểm điều tra, tên sâu hại, tên thiên địch
3.3.1.4. Phơng pháp điều tra diễn biến mật độ sâu tơ, bọ nhảy, bọ xít Orius
sauteri. trên cải xanh, cải bắp ở các công thức thí nghiệm trên ruộng thí nghiệm
Đối với diện tích trồng cải bắp, tiến hành điều tra định kỳ 5 ngày/1lần
từ khi trồng đến khi thu hoạch trên 4 công thức. Điều tra bằng cách đếm số
lợng sâu sống ở mọi lứa tuổi khác nhau và đếm số lợng bọ nhảy trởng
thành trên cây. Mỗi công thức thí nghiêm tiến hành điều tra trên 20 cây qui
định chia thành 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 4 cây. Các điểm điều tra
cách bờ 0,5-1m.

22
Đối với diện tích trồng cải xanh, tiến hành điều tra định kỳ 5 ngày 1 lần
từ khi gieo đến khi thu hoạch trên 4 công thức thí nghiệm. Mỗi công thức thí
nghiệm tiến hành điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 1 khung 20 x 60
cm.
3.3.1.6. Phơng pháp sử dụng bọ xít và chế phẩm Metavina 10DP

rộng. Chiều rộng cá thể là chỗ rộng nhất của cơ thể bọ xít tại pha nghiên cứu.
Phơng pháp xác định lợng vật mồi ăn của mỗi cá thể bọ xít đợc tính
nh sau:
Lợng vật mồi ăn mỗi ngày (con) = lợng vật mồi ban đầu đặt vào ngày
hôm trớc trừ đi lợng vật mồi còn lại trong hộp ở ngày sau.
3.2.2.2 Phơng pháp thí nghiệm khả năng ký sinh của nấm Metarhizium đối
với sâu non sâu tơ trong phòng thí nghiệm
Pha chế phẩm nấm với các nồng độ khác nhau để thử khả năng ký sinh
của nấm Metarhizium đối với sâu tơ, tiến hành thử với 3 nồng độ (0,7; 1;
1.5)x10
9
(bào tử/ml). Mỗi hộp với số lợng 30 cá thể sâu tơ. Phun các dung
dịch bào tử nấm Metarhizium ở các nồng độ khác nhau đó vào lá cải làm thức
ăn cho sâu tơ, thí nghiệm đợc lặp lại 3 lần. Theo dõi số lợng sâu tơ chết và
mọc nấm sau khi phun 3, 5, 7 ngày.
3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi và các công thức tính toán
* Tần suất xuất hiện của sâu hại và thiên địch trên rau cải
Tổng số lần điều tra có loài A
Tần suất gặp loài A (%) = x 100
Tổng số lần điều tra
Ghi chú: - : Rất ít phổ biến ( Tần suất xuất hiện < 10%)
+ : ít phổ biến ( Tần suất xuất hiện 10-25%)
++: Phổ biến ( Tần suất xuất hiện >25-50%)
+++: Rất phổ biến ( Tần suất xuất hiện >50%)

24
* Mật độ sâu tơ, bọ nhảy, bọ xít nhỏ trên rau
Tổng số sâu điều tra đợc (con)
Mt độ sâu ( con/cây) =


i
: Giá trị kích thớc của cá thể thứ i
N : Tổng số cá thể theo dõi
* Khả năng tiêu thụ con mồi:
N
X
X
N
1i
n




Trong đó:
X
: Số con mồi tiêu thụ trong một ngày
X
n
: Số con mồi bị ăn của các cá thể làm thí nghiệm
N : Tổng số cá thể làm thí nghiệm
* Thời gian phát dục trung bình của 1 cá thể:

N
nX
X
N
i
ii


X1, X2, X3, X4, X5 : Năng suất của 5 điểm ngẫu nhiên của 1 công thức
NS
TTCT
( kg/công thức ) = NS
TTĐV
x Diện tích 1 công thức
NS
TTS
( kg/ sào bắc bộ ) = NS
TTĐV
x 360
Tổng thu nhập = năng suất (kg/sào) x Đơn giá (đ/kg)
Tổng chi phí (S) = Chi phí sản xuất + chi phí BVTV
Lợi nhuận (B) = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
3.3.4. Phơng pháp xử lý số liệu
Các số liệu điều tra, nghiên cứu sẽ đợc tính toán và xử lý theo chơng
trình thống kê IRRISTAT và EXCEL.

Trích đoạn Diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi( Orius sauteri), mối quan hệ Tỷ lệ ký sinh của nấm (Metarhizium) đối với sâu non sâu tơ Đánh giá hiệu quả kinh tế trên các công thức thí nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status