Quan niệm của J.J. Rousseau về quyền lực và sự phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** PHẠM THỊ HUYÊN
QUAN NIỆM CỦA J.J.ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC
VÀ SỰ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
TRONG TÁC PHẨM BÀN VỀ KHẾ ƯỚC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Triết học


Hà Nội - 2015 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Nguyễn Thuý Vân

Học viên
Phạm Thị Huyên

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến PGS. TS Nguyễn Thuý Vân, người đã hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn thạc sỹ.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô trong và ngoài trường đã
tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi. Đặc biệt,tôi xin cảm ơn các thầy cô trong
Khoa Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho
tôi nền tảng kiến thức quý báu và sự giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành
luận văn của mình.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình và cơ quan đã luôn tạo
điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.

Hà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2015

1.2.1. Giới thiệu chung về cuộc đời, sự nghiệp của J.J.Rousseau 37
1.2.2. Vài nét về tác phẩm Bàn về khế ước xã hội của J.J.Rousseau. 42
Kết luận chương 1. 48 2
Chương 2. QUAN NIỆM CỦA J.J.ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC NHÀ
NƯỚC, SỰ PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TÁC
PHẨM BÀN VỀ KHẾ ƯỚC XÃ HỘI VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 49
2.1. Quan niệm của J.J.Rousseau về quyền lực nhà nước 49
2.1.1. Sự hình thành quyền lực nhà nước 49
2.1.2. Đặc điểm của quyền lực nhà nước 54
2.2 Quan niệm về sự phân chia quyền lực nhà nước của J.J.Rousseau 60
2.2.1. Quan niệm của J.J.Rousseau về nguyên tắc của sự phân định chức
năng, nhiệm vụ các bộ phận quyền lực nhà nước 60
2.2.2. Quan niệm của J.J.Rousseau về chức năng cụ thể của các bộ phận
quyền lực nhà nước 67
2.3. Mấy nhận xét bước đầu về giá trị và hạn chế trong quan niệm của
J.Rousseau về quyền lực nhà nước và sự phân chia quyền lực nhà nước
trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội 77
2.3.1. Về giá trị 77
2.3.2. Về hạn chế 80
2.4. Ý nghĩa quan niệm của J.J.Rousseau về quyền lực nhà nước và sự
phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội
đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt
nam hiện nay 81
Kết luận chương 2 87
KÊT LUẬN 89

Trong lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền, việc nghiên cứu tư
tưởng về nhà nước pháp quyền và về sự phân chia quyền lực trong nhà nước 4
pháp quyền nói chung và giai đoạn Khai sáng Pháp nói riêng là thực sự cần
thiết, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, đứng trước những thách thức
ngày càng lớn mạnh của công cuộc hội nhập và phát triển, có rất nhiều vấn đề
thực tiễn đặt ra cần giải quyết. Vì thế, việc nghiên cứu cơ sở lý luận về nhà
nước pháp quyền và sự phân chia quyền lực nhà nước trong lịch sử triết học
sẽ góp phần hoàn thiện lý luận mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay.
J.J.Rousseau (1712-1778) là một trong những nhà triết học Khai sáng
Pháp có những nghiên cứu bàn về sự phân chia quyền lực nhà nước và xác
định vai trò, vị trí của mỗi quyền trong nhà nước rất có giá trị. Bản thân ông
cũng như nhiều nhà tư tưởng cùng thời có những đóng góp tích cực nhằm
chống lại chế độ phong kiến, thiết lập những nguyên tắc căn bản cho việc xây
dựng thể chế chính trị mới.
Bàn về khế ước xã hội là một tác phẩm thể hiện dấu ấn và những đóng
góp về mặt tư tưởng của J.J.Rousseau. Trong tác phẩm, J.J.Rousseau đề cập
vấn đề cần có một khế ước xã hội như là sự thỏa thuận giữa mọi người với
nhau nhằm xây dựng một nhà nước hòa bình và phát triển. Ở đó “mỗi người
từ bỏ một phần quyền riêng của mình để gộp vào quyền chung, dùng sức
mạnh tập thể nhưng vẫn được tự do đầy đủ và vẫn chỉ tuân theo bản thân
mình, mọi người đặt mình và quyền lực của mình dưới sự điều khiển tối cao
của ý chí chung và chúng ta tiếp nhận mỗi thành viên như một bộ phận không
thể tách rời của toàn thể” [51, tr.39]. Những thỏa thuận của mọi người là cơ
sở cho một chính quyền hợp pháp. Ý chí chung là tập hợp của ý chí cá nhân
và được công bố lên thành luật pháp trở thành quy định chung đối với mọi
người trong xã hội. Bộ máy nhà nước do nhân dân bầu ra sẽ là cơ quan đại

chính sau:
2.1. Những công trình nghiên cứu về triết học khai sáng Pháp nói
chung và về J.J.Rousseau nói riêng.
Ở nội dung này có một số tác phẩm và tác giả tiêu biểu: 6
Tác phẩm Lịch sử thế giới cận đại do hai tác giả Vũ Dương Ninh,
Nguyễn Văn Hồng chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội năm
2014. Đây là cuốn sách khái quát lịch sử thế giới cả phương Tây và phương
Đông thời kỳ cận đại. Trong phần 1 về lịch sử thế giới cận đại phương Tây,
tác giả đã khái quát những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội phương Tây nói
chung, nước Pháp nói riêng từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII. Ở nội dung
này, tác giả đã phân tích những biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị xã hội
trong lòng chế độ phong kiến và được thay đổi bằng các cuộc cách mạng tư
sản diễn ra ở hầu khắp các nước châu Âu như cuộc cách mạng tư sản Anh
giữa thế kỷ XVII, cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII đánh dấu sự sụp
đổ của chế độ phong kiến và ra đời chế độ tư sản. Sự ra đời của một chế độ
mới bao giờ cũng làm thay đổi diện mạo về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hóa của quốc gia đó. Bởi vậy, bên cạnh những giá trị mang lại cho lịch sử
loài người là một nền công nghiệp phát triển thì nó cũng đã làm cho xã hội
phân hóa giai cấp, phân hóa giàu nghèo, mâu thuẫn xã hội sâu sắc đặc biệt là
mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Chính mâu thuẫn này lại là
nguyên nhân làm cho xã hội tư sản mặc dù phát triển mạnh về kinh tế nhưng
lại không ổn định về chính trị. Trong bối cảnh xã hội đó những luồng tư
tưởng mới đã được sinh ra mà người ta gọi là thời kỳ Khai sáng mở ra một
giai đoạn mới trong lịch sử loài người. Nhu cầu về một xã hội công bằng, dân
chủ, văn mình, phát triển cao đã trở nên cấp thiết lúc bấy giờ.
Tác phẩm Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới do nhiều học
giả nổi tiếng của Liên bang Nga biên soạn, do Lưu Kiếm Thanh, Phạm Hồng

dạn nghiên cứu sâu những tư tưởng phân quyền của tác giả đã giúp chúng ta
có điều kiện hiểu sâu hơn tư tưởng của Rousseau trên khía cạnh lý thuyết
phân quyền của ông.
Lịch sử triết học Pháp là công trình của Jean Wahl (do tập thể tác giả
Nguyễn Hải Bằng, Đào Ngọc Phong, Trần Nhựt Tân dịch), nhà xuất bản Văn 8
hóa thông tin, năm 2006 và công trình Lý luận giáo dục châu Âu của tác giả
Nguyễn Mạnh Tường, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 1994 cũng là hai
công trình nghiên cứu tương đối kỹ về lịch sử triết học Pháp. Tác giả của các
công trình nghiên cứu này đã cho người đọc thấy cái nhìn bao quát theo chiều
dài lịch sử triết học Pháp qua một số triết gia tiêu biểu. Riêng tác phẩm Lý
luận giáo dục châu Âu, tác giả Nguyễn Mạnh Tường tập trung vào các lý
thuyết giáo dục từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII ở Châu Âu. Tuy nhiên tác giả
không những đưa ra những khái quát cơ bản về tình hình kinh tế xã hội châu
Âu trong giai đoạn này mà còn trình bày khá kỹ lịch sử phát sinh và đấu tranh
của giai cấp tư sản. Chính điều đó đã giúp cho chúng ta thêm những cơ sở lý
luận khi nghiên cứu bối cảnh lịch sử và tiền đề lý luận cho các quan niệm
pháp quyền của J.J.Rousseau.
Cuốn Lịch sử triết học và các luận đề (2004) của tác giả Samuel Enoch
Stumpf do dịch giả Đỗ Văn Thuấn, Lưu Văn Hy dịch, nhà xuất bản Lao động,
Hà Nội. Trong tác phẩm, tác giả đã dành mục 14: Rousseau con người lãng
mạn giữa thời đại lí trí để nói về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm Khế ước xã
hội của Rousseau. Dưới ngòi bút của Samuel Enoch Stumpf, J.J.Rousseau
hiện lên là một con người yêu đời, lạc quan, có sức mạnh phi thường, say mê
làm việc và dám lên tiếng phê phán những quan điểm lạc hậu, cổ hủ của xã
hội phong kiến. Tác giả cũng cho chúng ta thấy được cách nhìn mới mẻ về
một triết gia trong thời điểm giao thời giữa chế độ phong kiến và chế độ tư
bản chủ nghĩa.

2.2. Những công trình nghiên cứu về tác phẩm Bàn về khế ước xã
hội và tư tưởng của J.J.Rousseau thể hiện trong tác phẩm.
Ở nội dung này có một số bài báo, tạp chí, luận văn nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sĩ triết học Tư tưởng triết học chính trị của Jean Jacques
Rousseau của Phạm Thị Đam, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2011.
Luận văn đã tập trung phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội và các tư 10
tưởng chính trị có ảnh hưởng đến triết học chính trị của J.J.Rousseau. Tác giả
cũng đi sâu phân tích về các vấn đề chính trị như: tự do, bình đẳng, quyền con
người. Từ đó tác giả cũng rút ra những giá trị của tư tưởng đó và khả năng
vận dụng ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa chuyên sâu vào
vấn đề quyền lực nhà nước, sự phân chia quyền lực trong nhà nước của
J.J.Rousseau.
Bên cạnh đó cũng có một số luận văn thạc sĩ liên quan đến đề tài
nghiên cứu. Nghiên cứu tác phẩm cụ thể trong giai đoạn Khai sáng Pháp,
Nguyễn Thị Châu Loan có luận văn: Tư tưởng cơ bản của triết học chính trị
của J.J.Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn, 2007. Luận văn đi sâu vào phân tích các tư tưởng chính trị
của J.J.Rousseau thông qua nghiên cứu tác phẩm nổi tiếng của ông Bàn về khế
ước xã hội. Công trình đã đưa lại cái nhìn tương đối toàn diện về triết học
chính trị của J.J.Rousseau, đồng thời cung cấp cho chúng ta những kinh
nghiệm khảo cứu bước đầu về việc phân tích một tác phẩm cụ thể của thời kỳ
Khai sáng.
Khi nói tới những nghiên cứu về J.J.Rousseau chúng ta không thể
không kể tới những nỗ lực to lớn của dịch giả Hoàng Thanh Đạm khi ông cho
ra mắt bạn đọc bản dịch tiếng việt tác phẩm Bàn về khế ước xã hội . Không
chỉ có vậy, dịch giả còn cung cấp nhiều tư liệu lịch sử rất quan trọng về thân
thế, sự nghiệp cũng như phụ lục tóm tắt các tác phẩm của J.J.Rousseau. Đây

nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện mục đích này, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:
- Trình bày những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời quan niệm về quyền
lực nhà nước và phân chia quyền lực nhà nước của J.J.Rousseau trong tác
phẩm Bàn về khế ước xã hội; 12
- Phân tích những nội dung cơ bản trong quan niệm của J.J.Rousseau
về quyền lực nhà nước, phân chia quyền lực nhà nước trong tác phẩm Bàn về
khế ước xã hội;
- Chỉ ra những giá trị, hạn chế và ý nghĩa của những tư tưởng này đối
với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận văn.
4.1 Cơ sở lý luận.
Luận văn này được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa vào phương pháp luận mácxít trong
nghiên cứu lịch sử triết học.
4.2 Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng các phương pháp của phép biện chứng duy vật trong
nghiên cứu, trong đó phối hợp các phương pháp như logic và lịch sử, phân
tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Luận văn tập trung phân tích quan niệm về quyền lực nhà nước và sự
phân chia quyền lực nhà nước của J.J.Rousseau.
5.2 Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn nêu quan điểm về quyền lực nhà nước và sự phân chia quyền
lực trong nhà nước của J.J.Rousseau trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội.

Về công nghiệp. Từ thế kỷ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền
sản suất nhỏ và các đạo luật hà khắc trung cổ đã bắt đầu tan rã. Nhiều công
trường thủ công đã xuất hiện ban đầu là ở các nước ven Địa Trung Hải (đặc
biệt là ở Italia) sau đó lan sang nước Anh, Pháp và một số nước khác. Đây có
thể là một sự thay đổi tích cực, đánh dấu sự phát triển to lớn vượt bậc trong
lĩnh vực kinh tế. Từ nền sản xuất phong kiến lạc hậu, mang nhiều yếu tố tự
nhiên kém phát triển thì nay đã thay đổi sang một nền sản xuất công trường
thủ công với năng suất lao động cao hơn, có tổ chức hơn. Cùng với đó, công
cụ lao động cũng được cải tiến để phục vụ sản xuất. Với việc sáng chế ra máy
tự kéo sợi và máy in đã làm cho công nghiệp dệt, công nghệ ấn loát, đặc biệt
nhất là ở Anh phát triển vượt bậc. Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ
cơ học đã giúp con người thời kỳ này sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian
và tăng năng suất lao động. Với sự thay đổi to lớn về công cụ sản xuất và
khoa học kỹ thuật đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã
hội nói chung.
Những phát kiến địa lý như việc tìm ra châu Mỹ và các đường biển để
dẫn đến những miền đất mới đã tạo điều kiện cho nền sản xuất phát triển theo 15
xu hướng tư bản chủ nghĩa. Nhờ đó thương mại, trao đổi hàng hoá giữa các
quốc gia được mở rộng và phát triển. Các nước tư bản chủ nghĩa sớm phát
triển như Anh, Pháp, Tây Ban Nha…dựa trên sự lớn mạnh của mình đã mở
rộng vùng lãnh thổ bằng cách đi xâm chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên,
mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế, trong xã hội Tây Âu
thời kỳ này có sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt. Tầng lớp tư sản xã hội
bao gồm các chủ xưởng công trường thủ công, chủ thuyền buôn… Phần lớn,
nông dân từ nông thôn ra thành thị làm thuê cho các công trường, xưởng thợ.
Các tầng lớp xã hội trên đại diện cho một nền sản xuất mới cùng với nông dân

nhân dân phải nghe theo và tuyệt đối trung thành với nhà vua. Vua đã sử dụng
toàn quyền của mình trong hoạt động bộ máy nhà nước, trong việc sắp xếp cơ
cấu bộ máy có lợi cho giai cấp phong kiến đồng thời ra sức bóc lột nhân dân.
Từ khi lên ngôi, vua Lui XVI song song với việc bóc lột nhân dân bằng cách
ra các đạo luật cai trị hà khắc là việc nhà vua ăn chơi trác táng. Nhà vua sống
ở cung điện Vécxai với gần 2 vạn người phục vụ và hoàn toàn sống dựa vào
bổng lộc. Người có ảnh hưởng lớn tới công việc cai trị đất nước lại là hoàng
hậu Mari Antoannet - công chúa nước Áo, người có tính hách dịch và có lối
sống hoang phí. Chính bởi cuộc sống quá lãng phí của hoàng gia mà đã tiêu
tốn 1/12 ngân sách quốc gia. Toàn bộ chi phí đó được lấy từ chính sự đóng
góp của nhân dân. Do vậy, đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực. Để chăm
lo cho bộ máy nhà nước này, ngoài việc thu thuế của nông dân, triều đình
Pháp không còn biện pháp nào hữu hiệu hơn. Do đó, dù cuộc sống vốn đã khổ
cực nhưng những người nông dân vẫn phải nuôi mình, nuôi các tầng lớp
thống trị của mình. Cho nên, về kinh tế nước Pháp khi đó có thể nói là vô
cùng nghèo nàn và lạc hậu. Sự độc tài của nhà vua đối với nhân dân lao động
đã làm cho tình trạng bất bình đẳng càng trở nên trầm trọng hơn. Trước hiện 17
thực đó nhu cầu xóa bỏ bất công, áp bức được đặt ra với các nhà tư tưởng cấp
tiến đương thời. Chính chế độ chuyên chế là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Đây chính là điều kiện thực tiễn ra đời
tư tưởng về nhà nước dân sự đảm bảo quyền bình đẳng, công bằng cho nhân
dân đồng thời các nhà tư tưởng thời kì khai sáng sau này cũng đều dựa trên
chế độ chuyên chế này mà phê phán trong học thuyết của mình.
Về nông nghiệp. Cho đến thế kỉ XVIII nền kinh tế nước Pháp vẫn là
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. 22 triệu người (chiếm khoảng 90% dân
số Pháp) sống bằng nghề nông. Sản lượng nông nghiệp hàng năm rất thấp do
chế độ canh tác lạc hậu, đất đai còn bị bỏ hoang. Hơn thế nữa, sự thống trị của

tìm cách len lỏi vào đời sống kinh tế nước Pháp. Do đó, việc xoá bỏ sợi dây
ràng buộc của chế độ phong kiến đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất
đang đi lên đã trở thành một yêu cầu khách quan, tất yếu của lịch sử nước
Pháp khi đó.
Về mặt xã hội, nước Pháp thế kỷ XVIII được chia làm ba đẳng cấp khá
rõ ràng là tăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ ba. Trong ba đẳng cấp đó, tăng lữ
và quý tộc là đẳng cấp trên, được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi của xã hội.
Hai đẳng cấp này có liên hệ chặt chẽ về dòng họ, tuy chiếm một số ít (chiếm
khoảng 1% dân số) trong xã hội nhưng bản thân họ lại giữ địa vị thống trị
nước Pháp phong kiến. Đẳng cấp thứ ba bao gồm tư sản, nông dân, thợ thủ
công, công nhân… chiếm khoảng 99% dân số. Họ là lực lượng chiếm đa số
trong xã hội nhưng lại không có bất kỳ quyền lực chính trị nào, không được
tham gia vào các công việc của cơ quan nhà nước, hoàn toàn bị phụ thuộc vào
hai đẳng cấp trên và phải phục vụ, cống nạp để nuôi hai tầng lớp ấy. Sự phân
chia đẳng cấp trong xã hội Pháp lúc đó được quy định theo công thức: tăng lữ
phục vụ nhà vua bằng lời cầu nguyện, quý tộc bằng lưỡi kiếm, đẳng cấp thứ
ba phục vụ tăng lữ và quý tộc bằng của cải. Dưới chế độ này, mọi quyền lực 19
tập trung trong tay nhà vua, chỉ một số ít tầng lớp trên là có quyền lợi. Còn
đại đa số tư sản và người dân lao động lại hoàn toàn không có quyền lợi gì,
thậm chí còn phải nuôi tầng lớp trên đó. Sự bất bình đẳng này đã được các
nhà Khai sáng trong đó có J.J.Rousseau kịch liệt phê phán, lên án. Bởi vậy,
nhu cầu một nhà nước mới, một chế độ chính trị mới mang lại sự công bằng,
dân chủ cho nhân dân lao động là yêu cầu cấp thiết lúc bấy giờ. Sự tập trung
quyền lực nhà nước trong tay một người đã dẫn đến độc đoán, chuyên quyền,
hách dịch của nhà vua cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự hình thành
tư tưởng về sự phân chia quyền lực nhà nước của các nhà tư tưởng cấp tiến
sau này, trong đó có J.J.Rousseau.

Về văn hóa, tư tưởng. Có thể nói nếu ở thời kỳ Trung cổ triết học mang
nét kinh viện thì đến thời kỳ Phục hưng và Cận đại triết học hầu như đã được
mang một màu sắc mới thoát bỏ yếu tố thần thánh siêu việt, trở về với những
vấn đề thực tại, mang tính khoa học hơn. Những phát kiến khoa học thời kỳ
Hy Lạp - La Mã cổ đại như toán học của Talet, Pitago, hình học Ơclit,vật lý
học của Acsimet được kế thừa và khôi phục lại giá trị của nó phục vụ cho
cuộc sống thực tiễn. Thời kỳ này con người được đề cao chú trọng hơn. Các
tư tưởng đề cao con người coi “con người là thước đo tất thảy mọi vật” của
Protagor cũng như quan niệm của Xôcrat coi triết học là sự tự ý thức của con
người đã có ảnh hưởng không nhỏ tới triết học thời kỳ này. Ý nghĩa của
những giá trị tư tưởng, văn hoá Hy Lạp, La Mã cổ đại đối với xã hội Tây Âu
thời kỳ này lớn tới mức người Pháp gọi giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XV
đến thế kỷ XVI là thời kỳ Phục hưng - tức phục chế các di sản văn hoá thời cổ
và thế kỷ XVII -XVIII là thời kỳ Khai sáng của triết học Pháp. Có thể nói như
Ph.Ăng ghen “không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã
thì không có châu Âu hiện đại” [39, tr.254]. Sang đến giai đoạn này con
người và những giá trị con người được đề cao. Tất cả những sản phẩm văn
hoá, khoa học, triết học đều phục vụ con người. 21
Thời kỳ Phục hưng, triết học và khoa học đã có sự liên minh với nhau.
Nếu như thời kỳ Trung cổ con người chịu ảnh hưởng của một nền giáo dục
kinh viện, giáo điều, trong một xã hội đầy rẫy những bất công, con người cần
đến một nền khoa học mới, một trật tự xã hội mới, một nền khoa học vì con
người, của con người thì đến thời Phục hưng, những giá trị của con người đã
được đưa ra xem lại và đề cao.
Tuy nhiên, triết học Pháp có sự ảnh hưởng không nhỏ từ tư tưởng nhân
văn thời Phục hưng. Chủ nghĩa nhân văn thời kì Phục hưng bênh vực tinh
thần tự do, tinh thần phê bình và hướng nhiều đến con người cá nhân. Nó thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status