Luận văn: Quan niệm của ARITOTLE về nhà nước trong tác phẩm Chính trị luận - Pdf 30

ĐạI HọC QUốC GIA hà nội
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI & NHÂN VĂN

TRịNH QUANG DũNG
QUAN NIệM CủA ARISTOTLE Về
NHà NƯớC TRONG TáC PHẩM "CHíNH TRị LUậN"
Chuyên ng nh: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUậN VĂN THạC Sĩ TRIếT HọC
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyn Quang Hng
Hà Nội - 2014
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nghiên cứu vai trò của triết học đối với đời sống con người, Aristotle
- nhà triết học Hy Lạp cổ đại vĩ đại đã nói: “Các khoa học thì cần thiết, nhưng
triết học thì tốt” đối với con người. Triết học ra đời nhằm đáp ứng những nhu
cầu của con người và đặt ra vấn đề giải quyết các lĩnh vực của đời sống thực
tiễn, chính vì lẽ đó các nhà thánh nhân khai sáng ra triết học đã không ngừng
tìm kiếm con đường để dẫn đến “đạo” và thực hành “đạo”, và Aristotle cũng
không phải ngoại lệ.
Trong nhiều lĩnh vực triết học thì vấn đề chính trị - xã hội được xem là
vấn đề quan trọng hàng đầu, đó là những quan điểm, phương pháp để hướng
con người đạt đến xã hội lý tưởng, nhà nước lý tưởng, nó đòi hỏi các nhà triết
gia phải có tầm hiểu biết và sự ảnh hưởng của bản thân để sáng tạo, tìm tòi, và
vận dụng các học thuyết chính trị đó vào trong cộng đồng chính trị cụ thể.
Trong triết học Phương Tây, nếu Socrates được xem là người đặt nền móng
cho việc chuyển nền triết học tự nhiên sang nền triết học nhân bản, triết học về
con người, thì Aristotle lại được xem là ông tổ của chính trị học Phương Tây,

phẩm này sang tiếng Việt.
Nhìn chung, có thể thấy tài liệu đề cập đến trực diện vấn đề luận văn
nghiên cứu không có nhiều trong việc nghiên cứu tác phẩm kinh điển và tư
tưởng của Aristotle là một việc khó khăn và nó càng khó khăn khi số ít ỏi
những công trình nêu trên chưa thể cung cấp đầy đủ và sâu sắc những gì có
thể đi vào nội dung của luận văn. Qua quá trình nghiên cứu, và tìm hiểu, lựa
chọn đề tài này, học viên thấy được sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này
2
để hiểu sâu sắc hơn triết học của Aristotle nói chung và triết học chính trị - xã
hội của ông nói riêng nhằm phục vụ tốt hơn cho việc nghiên cứu và giảng dạy
lịch sử triết học.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Giới thiệu và phân tích về nội dung tư tưởng Nhà nước
được Aristotle viết trong tác phẩm "Chính trị luận" và tìm hiểu sự ảnh hưởng
từ tác phẩm đến lý luận và thực tiễn chính trị phương tây.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ hoàn cảnh viết và nội dung cơ bản trong tác phẩm
- Giới thiệu và phân tích những nội dung viết về Nhà nước trong tác phẩm
- Từ đó đánh giá, giá trị đúng và những giá trị đã hạn chế trong tác
phẩm về Nhà nước và xây dựng Nhà nước.
- Đặc biệt luận văn còn đưa ra nhiệm vụ nghiên cứu và so sánh những
tư tưởng của Aristotle có ảnh hưởng đến như thế nào đối với lý luận và thực
tiễn chính trị ở Phương Tây sau Aristotle.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng: tác phẩm "Chính trị luận" và tư tưởng về Nhà nước trong
tác phẩm
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của Hy Lạp cổ đại nói chung và
hoàn cảnh, điều kiện Aristotle viết tác phẩm ''Chính trị luận". Luận văn
nghiên cứu toàn bộ tác phẩm để rút ra những nội dung liên quan đến vấn đề

Chương 1: Aristotle và tác phẩm ''Chính trị luận"
Chương 2: Một số vấn đề về nhà nước
Chương 3: Các biện pháp duy trì nhà nước lý tưởng. Một số nhận xét
đánh giá về “''Chính trị luận" của Aristotle
4
NỘI DUNG
Chương 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARISTOTLE
C.Mác nói: “Các nhà triết học không phải là những cây nấm mọc trên
đất. Họ là sản phẩm của thời đại mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế
nhất, quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong những khái niệm
triết học” [4,156]. Hơn nữa, ông cũng khẳng định “Trong mọi thời đại lịch sử,
sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải bắt nguồn từ sản
xuất kinh tế mà ra, cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử
tư tưởng của thời đại đó” [10,11]. Chính vì lý do đó, muốn thấu hiểu được tác
phẩm cũng như những quan niệm của các tác giả triết học thì cần phải xem xét
những điều kiện khách quan về lịch sử kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội,
cũng như cần phải tìm hiểu những điều kiện chủ quan liên quan đến tác giả, đời
sống sự nghiệp và những tác phẩm xuất hiện trong quãng đời của triết gia, có
như vậy mới bước vào được thế giới tư tưởng vĩ đại của các triết gia.
Đối với tác giả Aristotle và những nội dung tác phẩm “Chính trị luận”
cũng vậy, phải hiểu được những nền tảng lịch sử, kinh tế chính trị và xã hội
mới có thể hiểu được những quan niệm của ông trong tác phẩm này.
1.1 Điều kiện ra đời tác phẩm
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử kinh tế - xã hội cho sự ra đời tác phẩm
Hoàn cảnh kinh tế - xã hội của mỗi một thời đại chính là cánh cửa giúp
ta thấu hiểu được lịch sử tư tưởng của thời đại đó, cho nên việc phân tích
những điều kiện kinh tế - xã hội là hết sức cần thiết và quan trọng trong
nghiên cứu khoa học. Mác cũng đã từng khẳng định “Trong mỗi thời đại lịch
sử, phương thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã

Hy Lạp, người Hy Lạp gọi nơi này là Pelopone, ngoài ra ở phía Nam Hy Lạp
còn có đảo Crete trên biển Egie, một trung tâm thương mại của nền văn minh
tối cổ - văn minh Crete – Mixen – trong lịch sử Hy Lạp.
Cũng giống như các quốc gia cổ đại khác, điều kiện tự nhiên đã có
những tác động đáng kể tới khuynh hướng phát triển của nền kinh tế cũng như
thiết chế nhà nước của quốc gia cổ đại Hy Lạp. Hy Lạp ít ruộng đất, không
thuận lợi cho việc phát triển cây lương thực, nhưng lại thích hợp với việc
trồng nho và ôliu. Thiếu đất canh tác nông nghiệp, nhưng thiên nhiên lại ưu
đãi cho người Hy Lạp bởi nhiều khoáng sản quý và những rừng gỗ quý bạt
ngàn ở khắp miền lục địa. Những điều kiện tự nhiên đó, ngay từ đầu đã thúc
đẩy người Hy Lạp sớm phát triển khuynh hướng của một nền kinh tế thiên về
sản xuất thủ công nghiệp hơn là sản xuất nông nghiệp.
Theo sử sách, Hy Lạp cổ đại được chia thành 4 giai đoạn chính, gắn
liền với sự phát triển của nền văn minh Hy Lạp.
Nền văn minh sớm nhất của người Hy Lạp là nền văn minh Crete –
Mixen bắt đầu từ thiên niên kỉ III đến thiên niên kỉ II TCN. Nền văn minh này
chủ yếu được biết đến dựa vào truyền thuyết hoang đường và qua 2 tập sử thi
Iliad và Odysey của Homer. Đây là hai hòn đảo ở phía nam biển Egie, và
vùng đồng bằng Pelopone. Thông qua ngành khảo cổ, người ta cho rằng giai
đoạn này của người Hy Lạp nền kinh tế vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp
và chăn nuôi, chủ yếu là ngựa, lừa. Thủ công nghiệp cũng tương đối phát đạt.
Đây là một nền văn minh của một xã hội đã có giai cấp, nhà nước, tương tự
như các nền văn minh của các quốc gia cổ đại phương Đông. Nền văn minh
này bị tàn tạ vào thiên niên kỉ II TCN, cùng với những cuộc thiên di lớn của
các tộc người Hy Lạp từ Bắc tràn xuống chinh phục và định cư.
Giai đoạn thứ hai của người Hy Lạp là thời kỳ từ thế kỉ XI đến thế kỉ
IX TCN, hay còn gọi là giai đoạn Homer trong lịch sử Hy Lạp. Nguyên do mà
7
người ta gọi thời kỳ này là thời đại Homer vì trạng thái sinh hoạt vật chất và
tinh thần của người Hy Lạp trong giai đoạn này đều được phản ánh rõ nét

cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư. Đây là một trong những thắng lợi to lớn
trong lịch sử Hy Lạp nói chung và của Athens nói riêng, đã chứng tỏ rằng
Athens đã bước vào phát triển cực thịnh, đạt tới đỉnh điểm của chế độ chiếm
nô ở khu vực Địa Trung Hải, điểm đỉnh của nền văn minh cổ đại.
Thời kì thứ tư trong lịch sử Hy Lạp cổ đại là thời kỳ thống trị của
Makedonia hay còn gọi thời kỳ này là thời kỳ Hy Lạp hóa xuất phát từ năm
334 đến 30 TCN. Đây cũng là thời kỳ Aristotle viết tác phẩm “Chính trị
luận”, cho nên chúng ta sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn thời kỳ thứ tư này.
Makedonia là một vùng thuộc Nam Âu, tiếp giáp với phía Bắc Hy Lạp.
Một đặc điểm quan trọng của người Makedonia là khi các thành bang Hy Lạp
đã đạt tới thời kỳ phát triển huy hoàng của chế độ chiếm nô thì người
Makedonie vẫn sống ở giai đoạn mạt kì của chế độ thị tộc (tương đương với
thời đại Homer của Hy Lạp), tuy vậy thì sự phát triển nhanh chóng của người
Makedonia lại là một tác nhân quan trọng làm thay đổi lịch sử của người Hy
Lạp. Alecxan I (495 – 450 TCN) được coi là người thiết lập nên nhà nước của
người Makedonia. Ackelut (419 -399 TCN) là người kế tục hoàn thiện và
củng cố nhà nước Makedonie. Nhưng, người đặt nền móng cho sự cường
thịnh của Makedonia để nước này trở thành một những quốc gia có thế lực và
hùng cường ở khu vực Bancang, đó là vị vua Philip II (359 -336 TCN). Chính
vị vua này đã thực hành hàng loạt những cải cách kinh tế, xã hội và quân sự,
tạo nên một quốc gia Makedonia thống nhất, giàu mạnh về kinh tế, hùng
cường về quân sự, và có những chính sách đối ngoại khôn khéo. Vua Philip II
đã chuẩn bị cho việc thực hành chính sách xâm lược, bành trướng. Chiều tà
9
một ngày năm 388 TCN, vua Philip II đã thống lĩnh đại quân, xâm nhập bán
đảo Hy Lạp, tiến đánh vào thành Athens. Tháng 8 năm 338 vua Philip II
quyết định khống chế toàn bộ Hy Lạp, ông định ra một loạt trận pháp mới, gọi
là “thế trận Makedonia”. Nhưng do Athens mâu thuẫn nội bộ xảy ra và chia rẽ
cùng với sự vận động của phe thân Makedonia, Athens đã phải quỳ gối trước
Philip II. Từ đó Athens bị mất tự do và độc lập. Năm sau, vua Philip II triệu

như cuộc đời của Aristotle có sự ảnh hưởng không nhỏ từ những sự kiện lịch
sử quan trọng này.
Tuy nhiên, tác phẩm ra đời không chỉ là những diễn biến lịch sử thời
kỳ mà Aristotle sống và viết tác phẩm này, nó còn chịu ảnh hưởng của rất
nhiều những điều kiện khác, như những tiền đề chính trị - văn hóa xã hội, cơ
sở lý luận và không thể không kể đến những tài năng của chính bản thân
Aristotle.
1.1.2 Những tiền đề chính trị - xã hội của tác phẩm
Xét về mặt lịch sử, thời điểm Aristotle viết về nền chính trị Hy Lạp đã
xuất hiện nhiều chế độ chính trị, nhiều hình thức chính quyền, nhưng trực tiếp
nhất phải nói đến những nền chính trị, những chế độ mà bản thân Aristotle
chứng kiến và đánh giá những hình thức này, để từ đó ông có những quan
niệm hoàn thiện hơn về chế độ chính trị, những thể chế nhà nước đúng và sai.
Và để trình bày về chính trị một cách khoa học, Aristotle đã mở một cuộc
nghiên cứu rộng rãi về hiến pháp của 158 đô thị Hy Lạp cũng như “man rợ”
[25,265]. Trong số những chế độ chính trị mà Aristotle “tai nghe mắt thấy” có
thể kể đến những hình thức nhà nước như các chế độ dân chủ nổi tiếng ở hai
thành Sparta và Athens ở Hy Lạp. Ngoài ra, Aristotle còn nghiên cứu, khảo
sát chế độ chính trị ở các thành bang khác như Crete, Carthaga
11
Trước hết, là chế độ chính trị ở Sparta. Sparta là một thành bang Hy
Lạp được xây dựng sớm nhất trong lịch sử Hy Lạp (ngay từ thế kỷ IX TCN).
Nằm ngay đồng bằng Laconi, thành bang Sparta có lợi thế phát triển kinh tế
nông nghiệp và chăn nuôi. Thành bang Sparta có 3 tập đoàn người cùng sinh
sống nhưng quyền lợi và nghĩa vụ hoàn toàn khác nhau. Người Sparta –
Đorien chiến thắng là giai cấp cầm quyền. Họ không tham gia sản xuất mà
sống bằng sự nô dịch, bóc lột sức lao động của người Periet và nô lệ Hilot.
Người Sparta chỉ có chức năng cai trị và tham gia vào quân sự để xâm lược
hoặc bảo vệ đất nước. Chính vì vậy Sparta chế độ tư hữu không tồn tại, toàn
bộ tài sản và ruộng đất cũng như nô lệ đều là những sở hữu chung của cư dân

để di chúc cho người khác. Cả hai cách này đều dẫn đến cùng một kết quả là
có đến hai phần năm điền sản của Sparta thuộc quyền sở hữu của phụ nữ. Lý
do là vì phong tục cho phụ nữ được thừa hưởng tài sản và nhận hồi môn kếch
xù. Cho nên, mặc dù Sparta có khả năng duy trì 1500 kỵ binh và 30 ngàn bộ
binh, nhưng tổng số dân của Sparta đã xuống dưới mức 1000 người. Kết quả
này chứng minh là luật pháp của Sparta nhiều lầm lỗi, và chỉ cần thua một
trận thôi thì cũng đủ tiêu vong vì thiếu lính”. [1,126]
Cơ cấu chính trị của Sparta còn một khuyết điểm nữa, theo Aristotle,
đó chính là ở cơ quan Giám sát viện. “Đây là một cơ quan có quyền lực cao
nhất, nhưng Giám sát viên lại do toàn dân bầu ra, cho nên các chức vụ này dễ
rơi vào tay những người nghèo túng và những người nghèo thì lại dễ bị hối lộ.
Giám sát viện có quyền lực quá lớn và độc đoán đến nỗi các vị vua còn phải
tìm cách lấy lòng họ. Kết quả là quyền lực của hai cơ cấu này khiến cho cơ
cấu chính trị bị suy đồi từ chế độ quý tộc biến sang dân chủ.” [1,126]
13
Hội đồng trưởng lão cũng tồn tại hạn chế. Theo Aristotle, “mặc dù
trưởng lão là những người có tài năng và được huấn luyện kỹ kàng về đức tính
nam nhi, về điều này là có lợi cho quốc gia. Nhưng quy luật cho những trưởng
lão này tại chức cho đến mãn đời là một điều cần phải bàn lại, vì trí óc cũng già
theo thể chất. Và khi mà ngay cả nhà lập pháp cũng không thể tin được phương
thức mà những trưởng lão đã được huấn luyện, thì đó là điều nguy hiểm”
[1,128]. Hơn nữa, cách bầu cử trưởng lão cũng ấu trĩ vì theo luật hiện hành là
những ai muốn được bầu cử thì phải ra ứng cử, trong khi những người thực sự
tài đức phải được bổ nhiệm, dù có muốn làm hay không”.
Điều mà Platon phê phán nhà lập pháp trong tác phẩm “Luật pháp”
theo Aristotle cũng là sự phê phán chính đáng. “Toàn bộ cơ cấu chính trị của
Sparta chỉ xiển dương một đức tính duy nhất; đó là đức tính của quân nhân –
đức tính cần thiết để chiến thắng trong chiến tranh. Khi chiến tranh tiếp diễn,
đức tính này giúp duy trì sức mạnh, nhưng khi đã tạo nên được đế quốc rồi,
thì lại thất bại trong hòa bình vì không biết làm gì hết vì cả cuộc đời chỉ được

một tổ chức phản dân chủ, thay vào đó quyền Lập pháp được trao cho Đại hội
nhân dân, quyền hành pháp trao cho Hội đồng 500 người và quyền tư pháp trả
về cho cơ quan tư pháp – tòa án nhân dân. Họ đã đưa trách nhiệm soạn luật
của các nhà lập pháp trước nhà nước về nội dung và những hậu quả của
những dự luật mà họ soạn thảo. Chính những điều này đã ngăn chặn được
những mưu đồ phá hoại nền dân chủ của người Athens. Tiếp đến, họ quyết
định cứ 10 ngày Đại hội nhân dân phải họp một lần. Cuộc họp được báo trước
5 ngày, khi có tình hình khẩn cấp hoặc hội nghị quan trọng thì cử truyền lệnh
viên đi kêu gọi trên đường phố hoặc đốt một cột khói ở chợ làm hiệu. Theo
quy định của thành bang Athens, công dân đủ 20 tuổi, không phân biệt tài sản
15
và thân phận, trong Đại hội công dân đều có quyền bầu cử. Nhưng trên thực
tế, chưa tới 1 phần 10 cư dân ở Athens được hưởng quyền công dân này, vì
người ngoại bang và tất cả phụ nữ đều không được tham dự Đại hội công dân,
nô lệ càng không nói tới chuyện đó. Nô lệ đi theo chủ thì đứng ở ngoài cửa
chờ chủ nhân của mình. Nông dân và thợ thủ công tuy có quyền bầu cử nhưng
họ không thể thường xuyên tham dự đại hội, vì họp một ngày có nghĩa là tước
đoạt thu nhập một ngày của họ, cho nên mỗi lần Đại hội công dân chưa tới 1
phần 10 tham dự. Hội trường không có ghế ngồi, mọi người đều xuống đất,
nhưng nhờ sườn núi dốc nghiêng nên người ngồi đằng sau vẫn có thể nhìn rõ
mọi thứ trên sân khấu. Chủ tịch Đại hội hô to tên người ứng cử, các công dân
giơ tay biểu quyết, thư ký ghi lại. Ai được đa số phiếu thì trúng cử. Tướng
quân và thống soái bộ binh, kỵ binh nắm quân đội có quan hệ tới vận mệnh
nước nhà cho nên nhất thiết cần Đại hội bầu chọn. Tư khố viên là người nắm
chìa khóa kho tàng nhà nước, một ngành quan trọng nên cũng cần Đại hội bầu
chọn. Các quan lại khác, bao gồm 9 chấp chính quan, 500 đại biểu Hội đồng
nhân dân, thẩm phán, 11 quan coi ngục, 10 thị chính quan 10 quan coi chợ,
đều dùng cách bốc thăm để quyết định. Hai tháng sau, các quan chức đương
nhiệm sẽ bàn giao, các quan chức mới sẽ nhận nhiệm vụ và điều hành công
việc. Đó là việc bầu cử Đại hội công dân tổ chức tại Athens [2,92]

ăn chung, cả hai hiến pháp đều có cơ cấu Giám sát viện. Điều khác nhau duy
nhất là có 5 giám sát viên ở Sparta, và 10 người ở Crete. Nguyên lão thương
viện cũng tương tự như nhau, người Crete gọi là hội đồng nguyên lão. Trước
kia Crete cũng có quân chủ, nhưng sau này bị bãi bỏ và cơ cấu Cosmi kiêm
thêm nhiệm vụ lãnh đạo trong chiến tranh. Người dân cũng có quyền tham dự
quốc dân đại hội (gần giống như dân Sparta), nhưng chỉ là để phê chuẩn các
17
quyết định của hội đồng trưởng lão và Giám sát viện Cosmi. Nhưng về khía
cạnh khác, định chế giám sát viện Cosmi của Crete lại tệ hại hơn Giám sát
viện của Sparta, nếu như ở Sparta mọi người dân đều có quyền bầu cử ra
Giám sát viên thì ở Crete chỉ có một số gia đình được bầu ra thành viên của
cơ quan này mà thôi. Hội đồng trưởng lão của cả hai đều giữ chức vụ trọn đời
và không bị chế tài cộng với quyền được tùy nghi xét xử theo ý riêng và
không cần đếm xỉa gì đến văn bản luật lệ là điều nguy hiểm của cả hai chế độ
này. Tuy nhiên, các giám sát viên thường bị những người đồng viện hoặc dân
thường âm mưu trục xuất ra khỏi Giám sát viện và được phép từ chức trước
khi mãn nhiệm. Tệ hại hơn là việc cho phép Giám sát viên bị đình chỉ công
tác, một phương thức mà các nhà quý tộc thường sử dụng khi không chịu tuân
phục theo quyết định của công lý. “Điều này cho thấy chính quyền Crete dù
có những đặc tính của một nhà nước theo hiến pháp, thực ra là một chế độ quả
đầu” [1,135]
Chế độ chính trị Carthage
Carthage là một thị quốc nằm trên bờ biển Bắc Phi, nay thuộc Tunisia.
Carthage theo truyền thuyết La Mã được nữ hoàng Dido thành lập năm 814
TCN. Vì nằm giữa vùng tranh chấp của đế quốc Syracuse( nay thuộc Sicilia)
và La Mã. Carthage nhiều lần bị xâm chiếm và cuối cùng bị người La Mã tiêu
diệt vào năm 146 TCN.
Theo Aristotle, chế độ của người Carthage là “một chế độ chính trị tuyệt
hảo, khác hẳn với các nước khác về nhiều phương diện, dù trên vài phương diện
lại rất giống Spart” [1,136]. Chứng minh cho điều này, ông đã lấy việc người

hàng loạt các hình thức văn học như thần thoại, thơ ca, ca kịch, đặc biệt là
trường ca Homer.
19
Thứ nhất, là thần thoại cổ Hy Lạp. Thần thoại là một trong những hình
thức văn học xuất hiện sớm nhất ở Hy Lạp. Đây là tập hợp những truyện kể
dân gian truyền miệng với những nội dung hoang đường, huyễn hoặc kỳ ảo,
gồm những truyện về sự sáng tạo thế giới, các đấng thần linh và các anh hùng
dũng sỹ Hy Lạp… Thần thoại thường phản ánh nguyện vọng của nhân dân
trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên, giải thích các hiện tượng tự nhiên, phản
ánh cuộc sống lao động và những hoạt động đời thường của người Hy Lạp.
Chính vì vậy, sau này Chủ nghĩa Mác – Lenin đã nhận định “Thần thoại là
miếng đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật Hy Lạp… tiền đề … vật liệu của
nghệ thuật Hy Lạp” [5,630]. Chính trong tác phẩm Aristotle cũng đã trích dẫn
những câu truyện thần thoại Hy Lạp cổ này. Chẳng hạn, khi nói về sự giầu có
và nghệ thuật tích lũy tài sản, ông đã trích dẫn câu truyện thần thoại về vị vua
Midas muốn biến tất cả những thứ ngài cầm thành vàng [1,68] vị vua này đã
cầu xin các vị thần giúp cho những ước muốn đó thành hiện thực, thế nhưng
khi đụng đến đồ ăn chúng cũng biến thành vàng khối, ông vua Midas lại phải
xin giải trừ cho quyền năng này, và ông đã được chỉ bảo là phải xuống rửa tay
ở dòng sông Pactolus. Quyền năng này được chuyển từ tay vị vua Midas
xuống dòng sông thành cát vàng… Thực ra câu truyện thần thoại này con
người muốn dùng nó để giải thích hiện tượng thiên nhiên khi người ta đãi cát
tìm vàng trên dòng sông Pactolus, và Aristotle muốn dùng câu truyện này để
ám chỉ đến quan niệm về sự giàu có và tích lũy tài sản.
Khi phân tích hiến pháp của người Crete, Aristotle đã dùng thần thoại
về vị vua Minos, người là con của Zeus (chúa tể của các thần linh) và nữ thần
Europa. Sau khi chết, vị vua Minos đã trở thành phán quan của Địa ngục.
Aristotle muốn đưa ra thần thoại này để làm dẫn chứng cho việc cư dân Crete
từ trước cho đến khi bị đô hộ vẫn dùng đến những luật lệ nguyên thủy do Vua
Minos ban hành [1,132]. Còn một đoạn trong tác phẩm “Chính trị luận” mà

Đại thi hào Sophocles, một nhà viết bi kịch và sử ca của Hy Lạp cổ
(496 – 406 TCN), nổi tiếng với hai vở kịch Vua Oedipus và Antigone còn lưu
truyền đến ngày nay. Nhà thơ này đã nói rằng “Im lặng là sự vinh quang của
phụ nữ” đã được Aristotle trích dẫn khi nói về những đức hạnh cần có của
phụ nữ, ông đã dùng quan điểm của nhà thơ này làm cơ sở cho luận điểm của
mình trong Chương 13, quyển I [1,81]
Nhà thơ Hesiod nổi tiếng của Hy Lạp trong khoảng năm thứ 700 TCN,
ông đã đưa nói đến nguyên tắc “thợ gét thợ” mà được Aristotle dùng để nhấn
mạnh đến việc các chế độ thường đối lập nhau, chẳng hạn như chế độ độc tài
đối nghịch với chế độ dân chủ, được ông nói đến trong Chương 10, quyển V,
trang 306 của tác phẩm, cũng là một dẫn chứng cho thấy sự ảnh hưởng của
nền văn học Hy Lạp đến sáng tác của Aristotle.
Khi Aristotle nói đến sự thay đổi của chế độ nhà nước sẽ làm cho các
bộ phận của nhà nước ấy thay đổi đi, Aristotle đã liên hệ điều ấy với ca kịch
cổ Hy Lạp. Thể loại ca kịch có hai thể loại: bi kịch và hài kịch. Aristotle cho
rằng, “khi hình thức chính quyền thay đổi và trở nên khác đi so với hình thức
cũ nữa; cũng giống như ban đồng ca của hài kịch khác với ban đồng ca của bi
kịch, dù cả hai ban đều có cùng các ca công”. [1,154]
Nhưng đặc biệt nhất là sự ảnh hưởng của Trường ca Odysey và Iliats
của Homer. Cuộc chiến tranh của liên quân Hy Lạp đánh chiếm thành Tơroa
xảy ra vào thế kỷ XII TCN. Những tình tiết mang tính chất truyền kỳ đã làm
rung động sâu sắc trái tim của người dân Hy Lạp, cứ được lưu truyền rộng rãi
rồi dần dần được thêm thắt vào không ít những truyện thần thoại và truyền
thuyết. Rồi lại trải qua sự gia công của bao thế hệ nghệ nhân dân gian, câu
chuyện về cuộc chiến tranh thành Tơroa đã trở thành hai thiên trường ca đặc
22
sắc. Tục truyền rằng, đến thế kỷ VIII TCN, nhà thơ mù nổi tiếng Hy Lạp là
Home đã ra sức chỉnh lý nâng cao thêm một bước hai thiên trường ca này,
cuối cùng đã hình thành hai tác phẩm lớn: “Iliad” và “Odysey”. Iliad là phiên
âm từ Ilion, tên thành Tơroa, bản trường ca này có hơn 15000 câu miêu tả lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status