Tài liệu Luận văn: "Tăng cường quản lý của nhà nước về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực phẩm" - Pdf 97


TRƯỜNG
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI

Tăng cường quản lý của nhà
nước về tiêu chuẩn hoá trong
lĩnh vực Nông sản - Thực
phẩm 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay chất lượng có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế
- xã hội. Nó là một nhân tố quyết định tới sự thành bại của bất cứ doanh
nghiệp nào, quốc gia nào khi tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Để có thể phát triển kinh tế và hoà nhập vào nền kinh tế thế giới đối với
nước ta, là một quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển chất lượng sản phẩm
chưa cao và không ổn định thì việc đảm bảo và nâng cao chất lượng là một
yêu cầu hết sức cần thiết.

thiếu sót, em rất mong sẽ nhận được sự chỉ bảo của thầy cùng các cô, các bác.
Hà Nội, năm 2001
Sinh viên
Trịnh Minh Thạo 3

PHẦN I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
TIÊU CHUẨN HOÁ CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN - THỰC PHẨM

1. Khái quát về Nông sản - Thực phẩm, các khái niệm cơ bản:
* Tổ chức tiêu chuẩn hoá quản lý, ISO (mà cụ thể là ban kỹ thuật TC34)
và uỷ ban tiêu chuẩn hoá quốc tế về thực phẩm - CAC là 2 tổ chức lớn nhất
hiện nay tiến hành công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản thực
phẩm.
Nước ta là thành viên của ISO từ 1977. Từ đó đến nay công tác tiêu
chuẩn hoá quốc tế nói chung và công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông
sản thực phẩm nói riêng không ngừng được đẩy mạnh bởi lẽ đây là con đường
hiệu quả nhất, giúp chúng ta từng bước nâng cao chất lượng hàng hoá nông
sản và xuất khẩu. Hàng loạt tiêu chuẩn ISO đã được sử dụng để xây dựng tiêu
chuẩn Việt Nam như tiêu chuẩn trong lĩnh vực chè, cà phê
Tuy nhiên do đặc tính quan trọng của hàng hoá nông sản, tổ chức lương
thực thế giới FAO và tổ chức y tế thế giới - WHO đã phối hợp trong chương
trình hỗn hợp FAO/WHO về công tác tiêu chuẩn hoá.
Để thực hiện chương trình này hai tổ chức trên đã thành lập uỷ ban tiêu
chuẩn hoá quốc tế thực phẩm về CAC vào năm 1962 nhằm bảo vệ sức khoẻ
cho người tiêu dùng và an toàn, tin tưởng trong lưu thông thực phẩm. Hiện
nay đây là tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn có số thành viên đông nhất trong đó

công tác quản lý của nhà nước ra sao chúng ta cần phải thấy được vai trò của
nông sản - thực phẩm đối với nền kinh tế và đối với con người.
Từ đó sẽ xem xét công tác quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tiêu
chuẩn hoá nông sản - thực phẩm.
2. Vai trò và ý nghĩa của nông sản - thực phẩm
a) Vai trò.
Lương thực - thực phẩm là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người.
Nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế cũng như mọi mặt của
hoạt động văn hoá - xã hội. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng
tới sự phát triển nông nghiệp một cách toàn diện, đồng thời cũng rất quan tâm
tới việc phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm nhằm tạo nên nhiều
thực phẩm hàng hoá đảm bảo an ninh lương thực và tạo nên những sản phẩm
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu làm cơ sở vững chắc cho
nền kinh tế quốc dân tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá. 5

Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển sản xuất để tăng cường số lượng
chúng ta cũng đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao chất lượng, lương thực,
thực phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh nhằm tăng cường chất lượng cuộc sống
cho nhân dân và đảm bảo sức khoẻ lâu dài cho người tiêu dùng và tương lai
cho giống nòi.
Khác với nhiều loại hàng hoá khác lương thực, thực phẩm là một loại
hàng hoá đặc biệt. Nhờ có nó mà con người mới có thể sống, tồn tại và phát
triển. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người, bởi vì hàng ngày
ai cũng cần thức ăn và nước uống. Xã hội càng văn minh thì chất lượng thực
phẩm cũng vì thế mà tăng lên không ngừng.
Trước đây Việt Nam chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu. Nông dân làm
ra nông sản với mục đích tự cung, tự cấp cho chính cuộc sống gia đình hoặc

Vì thế người ta ít quan tâm tới việc tiêu chuẩn hoá thực phẩm như là một
yếu tố quan trọng nhằm tạo nên nông sản hàng hoá và việc giáo dục tiêu
chuẩn hoá trong xã hội cũng không cần được đặt ra.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu chúng ta từng bước tiến lên công
nghiệp hoá. Nông nghiệp chuyển dần từ ngành sản xuất nông sản tự cấp, tự
túc sang nông sản thực phẩm hàng hoá. Đây là một bước tiến quan trọng trong
nền sản xuất nông nghiệp của nước ta.
Hiện nay nông sản - thực phẩm làm ra không chỉ lưu thông trên thị
trường của một địa phương mà đã mở rộng ra nhiều nơi khác xa hơn.
Nhiều nông sản thực phẩm đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng
của đất nước như: chè, cà phê, hạt điều, hạt tiêu rau quả, thuỷ sản, đặc biệt là
gạo. Từ một nước luôn luôn thiếu lương thực chúng ta đã trở thành một quốc
gia xuất khẩu gạo điều đó đã tạo nên một khuôn mặt Việt Nam mới trên thị
trường ngũ cốc thế giới.
Qua tìm hiểu các đặc trưng của hàng hoá nông sản - thực phẩm chúng ta
thấy được vai trò của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội hết sức to lớn.
Không những nó chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong nền kinh tế của đất nước
mà còn là một thứ "nguyên liệu" sống cho người dân. Hơn nữa trong thời đại
ngày nay bất kỳ một sản phẩm nào muốn trở thành hàng hoá có chất lượng, có
thị trường ổn định và có hiệu quả kinh tế cao đều phải quan tâm tới tiêu chuẩn
hoá. Khi công tác quản lý của nhà nước đã đẩy nhanh việc nâng cao chất
lượng hàng hoá nông sản thực phẩm cũng có nghĩa là tiến thêm một bước trên
con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Sản xuất, tiêu dùng của thế giới - Việt Nam 7

Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các nước đang
có những nỗ lực nhằm tìm kiếm giải pháp để tăng cường xuất khẩu và hạn chế


8

9000, chứ chưa nhận thấy vai trò to lớn của hệ thống quản lý môi trường ISO
14000. Các doanh nghiệp hầu như không có thông tin về các hiệp định môi
trường đa phương hoặc các quy định của WTO liên quan đến môi trường.
Vấn đề môi trường mới chỉ được các doanh nghiệp đề cập đến được góc
độ bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất. Ví dụ như vấn đề xử lý chất
thải, an toàn vệ sinh nơi làm việc
b) Yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường của các nước nhập khẩu
Yêu cầu của các nước nhập khẩu đối với một sản phẩm nào đó thì rất
khác nhau Mỗi nước có một hệ thống tiêu chuẩn riêng và các doanh nghiệp
Việt Nam phải tuân thủ để đáp ứng yêu cầu của mỗi loại tiêu chuẩn, trong đó
có tiêu chuẩn về môi trường. Điều này trên thực tế nhiều khi đã hạn chế khả
năng mở rộng thị trường của các doanh nghiệp hoặc do hệ thống sản xuất của
họ không đủ linh hoạt để đáp ứng với tất cả các loại yêu cầu đặc thù của các
nước bạn hàng, hoặc do họ không có khả năng đầu tư để đáp ứng các tiêu
chuẩn được đặt ra. Nhiều nước quy định tiêu chuẩn chất lượng và môi trường
hết sức cao nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh và sức khoẻ cho người tiêu dùng.
Điều này đã làm cho các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm của mình
sang các nước đó gặp rất nhiều khó khăn. Đối với các doanh nghiệp Việt
Nam, một khi hầu hết cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị còn lạc hậu thì vấn đề
môi trường vẫn sẽ còn là một thách thức lớn cho việc mở rộng thị trường và
tăng cường xuất khẩu. Các doanh nghiệp cho rằng, việc hài hoà tiêu chuẩn với
tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu là một trong những biện pháp hữu hiệu
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển.
c) Tác động của tiêu chuẩn chất lượng và môi trường đến hàng nông
sản xuất khẩu:
* Các vấn đề về thủ tục đánh giá phù hợp tiêu chuẩn các nước nhập
khẩu. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đa số các Tổng công ty nhà nước

số nhà nhập khẩu muốn làm ăn với Việt Nam.
Cũng có nhiều nước đặt ra tiêu chuẩn chất lượng cao đối với hàng nông
sản nhập khẩu, đặc biệt là mặt hàng rau quả (như tiêu chuẩn về hàm lượng
chất bảo vệ thực vật, chất phụ gia, độc tố, kim loại nặng, độ ẩm, nấm mốc
v.v
Các tiêu chuẩn này thậm chí còn cao hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế. Một
số nước nhập khẩu lại quy định việc nhập khẩu nông sản phải tuân thủ những
luật lệ và quy định nhất định; ví dụ luật bảo vệ cây trồng, luật an toàn vệ sinh
thực phẩm, các quy định về chất phụ gia thực phẩm v.v Tuy nhiên những 10

quy định này không phải lúc nào cũng minh bạch, nhất quán và được công bố
rộng rãi để các nhà sản xuất nước ngoài biết.
* Chi phí để đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường.
Tất cả các doanh nghiệp đều rất chú trọng đến việc cải tiến chất lượng sản
phẩm của mình. Cách tốt nhất theo họ nghĩ để làm được điều này là áp dụng
hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000.
Tuy nhiên chi phí cụ thể cho việc đầu tư này không được các doanh
nghiệp đề cập tới. Nhiều doanh nghiệp cho rằng các yêu cầu của nước nhập
khẩu đối với hàng nông sản rất cao. Muốn đáp ứng các yêu cầu này thì phải
mất nhiều thời gian và tiền của. Ví dụ: (Phạt do giao hàng chậm, phụ trội chi
phí kinh doanh, phí giám định hàng hoá v.v ).
* Sự phân biệt đối xử của nước nhập khẩu đối với các nước xuất khẩu.
Theo kết quả khảo sát của vụ chính sách kinh tế Đa biên (Bộ thương
mại) thì sự phân biệt cơ bản nhất là phân biệt đối xử về thuế quan. Nhiều
nước nhập khẩu không cho Việt Nam hưởng thuế suất theo quy chế. Do đó
hàng xuất khẩu của Việt Nam khó cạnh tranh được với hàng cùng loại của các
nước xuất khẩu khác.

11 tháng 1999 so
cùng kỳ năm
trước (%)
Mặt hàng chủ
yếu
Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
Lạc nhân 4,5 2,4 4 2,5 54 32 65,6 81,0
Cao su 29 14 35 17 215 117 126,9 102,1
Cà phê 39 38,9 55 56 383 481 114,6 92,1
Chè 3,6 3,5 5 6,6 30 38 97,1 79,9
Gạo 240 41 220 43,6 4246 964 120,4 100,3
Hạt điều 1,7 9,5 1,2 7 14 83 58,8 77,6
Hạt tiêu 1,4 6,0 9 4 34 136 258,7 235,3
Rau quả 7,8 5 68 130,3
Hải sản 97 105 893

XUẤT KHẨU NĂM 2000
Đơn vị tính: Nghìn tấn, triệu USD
Thực hiện 11
tháng năm 2000
Ước tính
T12/2000
Ước tính cả năm
2000
Ước tính cả năm
2000 so với 1999
Mặt hàng Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị
Hải sản 1325 150 1475 151,9
Gạo 3212 616 288 52 3500 668 77,6 65,2
Cà phê 614 449 80 36 694 485 144,0 82,9

trưởng kinh tế nên nhu cầu nhập thuỷ sản có thể tăng. Bên cạnh đó Mỹ là thị
trường nhiều triển vọng. Có thể năm tới giá tôm sẽ tăng.
- Đường:
+ Tổng sản lượng: 131 triệu tấn giảm 5 triệu tấn so với năm 2000.
+ Tổng nhu cầu: 137-140 triệu tấn.
+ Dự báo giá đường sẽ phục hồi trong năm tới. 14

XUẤT KHẨU GẠO CÀ PHÊ CAO SU 1996-2000

1996 1997 1998 1999 2000
SL G.trị

SL G.trị SL G.trị SL G.trị SL G.trị
Gạo (triệu tấn) 3,0 855 3,5 870 3,7 1024

4,5 1025

3,5 668
Cà phê (1000 tấn) 239 337 389 491 382 584 482 585 694 485
Cao su (1000 tấn) 111 150 195 191 191 128 265 147 280 170

4. Sự cần thiết phải có công tác quản lý của nhà nước
Như chúng ta đã biết thực phẩm là kết quả của các quy trình chế biến
nông sản mà có được. Vì vậy muốn thấy được sự cần thiết phải có công tác
quản lý của nhà nước thì phải đi sâu tìm hiểu tình hình quản lý an toàn nông
sản ở nước ta trong những năm qua ra sao?
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ y tế năm 1997 có 558 vụ ngộ độc

quan tâm là đăng ký và kiểm tra chất lượng.
Việt Nam đang thiếu một hệ thống quản lý và một cơ chế hoạt động phù
hợp với yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó hệ thống luật pháp về quản lý thực
phẩm của chúng ta rõ ràng là chưa hoàn thiện, còn nhiều khoản cần được
hoàn chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế đa thành phần và quá trình hội
nhập quốc tế của Việt Nam. Sự phối kết hợp quản lý giữa các ngành liên quan
để đảm bảo an toàn thực phẩm chưa được chặt chẽ. Nhiều vụ việc chúng ta
còn tỏ ra lúng túng chưa tìm ra được hướng giải quyết phù hợp.
Trên đây là một số ví dụ chung và tình hình quản lý chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm ở nước ta. Qua đó mới thấy rằng cần phải có một công tác
quản lý mới của nhà nước một cách toàn diện và chặt chẽ. 16

Phần II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TIÊU CHUẨN
HOÁ TRONG LĨNH VỰC NÔNG SẢN - THỰC PHẨM

II.1. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VỆ SINH AN TOÀN THỰC
PHẨM Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM QUA.
Nông sản là một loại hàng hoá dùng làm nguyên liệu chủ yếu để chế biến
ra thực phẩm. Vấn đề an toàn thực phẩm ở Việt Nam đang trở thành mối quan
tâm to lớn của toàn thể nhân dân. Báo chí liên tục đăng tải các vụ ngộ độc
thực phẩm làm chết nhiều người gây xôn xao dư luận. Vấn đề an toàn vệ sinh
thực phẩm còn phải đương đầu với nhiều thách thức. Chúng ta không thể yên
lòng khi tình hình ngộ độc thực phẩm cấp tính xảy ra thường xuyên đặc biệt
có những vụ hàng trăm người mắc phải đi cấp cứu bệnh viện cùng một lúc
chúng ta chưa có giải pháp khắc phục một cách toàn diện. Cùng với trình độ
nhận thức người dân còn có hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà

được phép sử dụng. Riêng lực lượng quản lý thị trường trong tháng 9/1999 đã
kiểm tra, thu dữ 10 vạn ống và 2 vạn gói thuốc diệt chuột, trên 15 vạn ống
thuốc trừ sâu và trên 15 tấn các loại thuốc bảo vệ thực vật khác có nguồn gốc
từ nước ngoài nhập lậu vào. Đó là chưa kể các lực lượng khác bắt giữ cũng
như số tồn kho chưa có điều kiện tiêu huỷ.
Tệ sản xuất buôn bán hàng giả cũng là một nguyên nhân đáng lo ngại.
Riêng lực lượng quản lý thị trường trong năm 1998 đã phát hiện trên 2000 vụ
kinh doanh hàng giả, kém chất lượng, thu giữ gần 3,4 tấn kẹo, gần 1,4 ngàn
chai rượu giả, trên 6,5 tấn mì chính, 400 tấn bột canh, gần 4000 chai nước
khoáng Lavie
Sáu tháng đầu năm 1999 đã thu giữ 23 tấn mì chính, trên 8000 chai nước
giải khát, hơn 5000 chai rượu, trên 1,3 tấn kẹo, trên 5,2 ngàn góc tân dược,
gần 18.000 chai nước ngọt
Dựa trên thực tiễn và tình hình và kinh nghiệm quốc tế, chính phủ đã kịp
thời ban hành Nghị định 86 CP về phân công trách nhiệm quản lý hàng hoá.
Từ tháng 1/1997 theo nghị định 86CP, Bộ y tế chịu trách nhiệm quản lý
và kiểm soát toàn bộ về an toàn vệ sinh thực phẩm trên phạm vi cả nước trừ
các thực phẩm tươi sống như: Thịt trong lò giết mổ, thuỷ sản vẫn thuộc quyền
quản lý của Cục thú y và Bộ thuỷ sản để tiếp quản công việc quản lý thực
phẩm; Bộ Y tế cũng đã có những sự chuẩn bị từ trước để tiếp quản công việc
quản lý thực phẩm. Thế nhưng hiện tại ngành y tế đang phải đương đầu với
rất nhiều khó khăn trong thực thi nhiệm vụ quan trọng này, đó là sự thiếu hụt 18

trầm trọng một đội ngũ kiểm soát và xét nghiệm thực phẩm có trình độ có
kinh nghiệm, máy móc trang thiết bị của các phòng kỹ thuật thí nghiệm phân
tích mẫu thuộc các viện khu vực và các trung tâm y tế dự phòng tỉnh thì cũ
kỹ, lạc hậu. Kinh phí nhà nước dành cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm

19

phát triển nông thôn, Công nghiệp, Ngoại giao và một số doanh nghiệp do
ông Nguyễn Thiện Luân - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn làm chủ tịch và ông Nguyễn Văn Thưởng - Thứ trưởng Bộ Y tế làm phó
chủ tịch.
2. Hoạt động chính của Uỷ ban Codex Việt Nam
2.1. Thành lập các đầu mối quan hệ giữa các Bộ và Uỷ ban Codex
Để tăng cường vai trò tư vấn của mình đồng thời để đảm bảo sự phối
hợp giữa các Bộ với nhau trong quản lý chất lượng thực phẩm cũng như để
đảm bảo sử dụng kịp thời và rộng rãi những tài liệu mà các Ban Kỹ thuật
Codex quốc tế chuyển tới trên cơ sở đó kiến nghị và áp dụng vào Việt Nam.
Uỷ ban Codex Việt Nam đã đề nghị các Bộ có liên quan cử cơ quan đầu mối
quan hệ. Sau đây là danh sách các cơ quan đầu mối.
- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Vụ Khoa học công nghệ và
chất lượng sản phẩm.
- Bộ Y tế: Vụ y tế dự phòng.
- Bộ Thuỷ sản; Vụ khoa học công nghệ.
- Bộ công nghiệp: Vụ quản lý công nghệ và chất lượng sản phẩm.
- Bộ Thương mại: Cục quản lý chất lượng hàng hoá và đo lường.
2.2. Thành lập các ban kỹ thuật tiêu chuẩn
Ngay từ khi mới thành lập Uỷ ban Codex Việt Nam được sự chỉ đạo của
Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đã dần dần thành lập các Ban
kỹ thuật chuyên ngành đảm bảo tương ứng với các Ban kỹ thuật Codex quốc
tế đang hoạt động (Hiện nay Uỷ ban Codex quốc tế có 23 Ban kỹ thuật nằm ở
các nước thành viên và chỉ có 16 Ban Kỹ thuật đang hoạt động, số còn lại tạm
hoãn hoạt động khi nào có nội dung thì hoạt động trở lại).
Cho đến nay chúng ta đã thành lập được 16 Ban Kỹ thuật với 116 thành
viên. Hoạt động của các Ban kỹ thuật thực sự đã có nội dung kể từ khi Tổng
cục - Tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng chủ trương thay hình thức cơ quan

Ban kỹ thuật rau quả tươi TCVN/TC F10
Ban kỹ thuật sữa và sản phẩm sữa TCVN/TC F12
Ban kỹ thuật cà phê và sản phẩm cà phê TCVN/TC F16
Tuy nhiên ở đây cũng có thể nêu lên một số khó khăn và tồn tại trong
hoạt động của các Ban kỹ thuật.
- Một số Ban kỹ thuật chỉ bó hẹp hoạt động trong phạm vi xây dựng tiêu 21

chuẩn vì vậy khi không có đề tài tiêu chuẩn thì không có nội dung hoạt động.
Do đó chưa phát huy được vai trò tư vấn của mình trong lĩnh vực quản lý và
sản xuất kinh doanh thực phẩm.
- Các Ban kỹ thuật chưa gắn hoạt động của mình với hoạt động quản lý
của một số ngành có liên quan, nhất là trong vấn đề soạn thảo các văn bản
pháp quy về thực phẩm, do đó việc đóng góp ý kiến bị hạn chế và khó khăn
cho việc áp dụng khi được ban hành.
- Do khó khăn về kinh phí đi lại nên một số đại biểu phía Nam ít tham
gia sinh hoạt ở các Ban kỹ thuật vì hầu hết đầu mối và các cuộc họp các Ban
kỹ thuật đều ở phía Bắc.
- Tuy chúng ta đã làm việc với các ngành để cử các đoàn đi dự các hội
nghị Codex quốc tế nhưng do điều kiện kinh phí nên nhiều khi thành phần
đoàn thiếu vắng thành viên các Ban kỹ thuật cũng như thiếu các đại biểu
doanh nghiệp có liên quan, do đó những ý kiến đóng góp của Việt Nam tại
các hội nghị này đôi khi bị hạn chế.
- Cũng do điều kiện thiếu kinh phí nên nhiều Ban kỹ thuật không tổ chức
họp được thường kỳ. Trong hoạt động còn lúng túng vì nội dung hoạt động
của các Ban kỹ thuật Việt Nam không phải lúc nào cũng hoàn toàn tương ứng
với các Ban kỹ thuật codex quốc tế đó là do nhu cầu xây dựng tiêu chuẩn, yêu
cầu của quản lý nhà nước, điều kiện và khả năng tổ chức hoạt động của cơ

4/97.
Hội thảo về chất dinh dưỡng trong thực phẩm.
Hội thảo về Premix Vitamin.
2.4. Hoạt động hợp tác quốc tế:
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế CAC được FAO và WHO đồng bảo trợ
nên các nước thành viên không phải đóng lệ phí và Uỷ ban Codex Việt Nam
cũng nhận thức được rằng càng làm tốt công tác hợp tác quốc tế chúng ta
càng tranh thủ được sự giúp đỡ của 2 tổ chức này nhất là FAO và các Ban kỹ
thuật codex quốc tế.
2.4.1. Tham dự các hội nghị các Ban kỹ thuật Codex quốc tế:
Hàng năm Ban thư ký của Uỷ ban codex quốc tế đều gửi trước lịch họp
của các Ban kỹ thuật cho các nước thành viên cử người đi dự. Chúng ta đã cố
gắng rất nhiều trong việc ngày càng cử nhiều đoàn đại biểu đi dự hội nghị các
Ban kỹ thuật codex. Do điều kiện kinh phí nên chúng ta không thể có đại biểu
đi dự tất cả các cuộc họp trên mà mỗi năm chúng ta cố gắng tham dự 4-5 hội
nghị ưu tiên cho những vấn đề mà chúng ta đang quan tâm như: kiểm tra thực
phẩm xuất nhập khẩu, phụ gia thực phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm Đồng
thời lãnh đạo Uỷ ban codex cũng đã cố gắng đi dự các hội nghị toàn thể các
thành viên, hội nghị khu vực được tổ chức 2 năm 1 lần, các đoàn đi họp về
đã có báo cáo kết quả bằng văn bản để văn phòng codex kịp thời thông báo
cho các nơi có liên quan biết.
Có được kết quả trên là do Uỷ ban Codex Việt Nam đã tích cực vận
động các ngành có liên quan, giải quyết kinh phí đi họp cũng như đề nghị một
số doanh nghiệp tài trợ. 24

Đồng thời do những cố gắng trên mà Uỷ ban Codex Việt Nam ngày càng
nâng cao uy tín và vai trò của mình đối với các Ban kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status