ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN ĐÌNH HOÀNG VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC
CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội, 2014
Tác giả Luận văn
Nguyễn Đình Hoàng LỜI CẢM ƠN
“Vai trò giáo dục đạo đức của gia đình đối với thế hệ trẻ ở
nước ta hiện nay” - Bước đầu tìm hiểu nội hàm khái niệm này từ góc nhìn triết học
TS.
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ GIÁO
DỤC CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC CỦA
TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 14
1.1. Trẻ vị thành niên và giáo dục của gia đình đối với trẻ vị thành niên 14
14
20
1.2. Vai trò giáo dục của gia đình đối với sự hình thành đạo đức của trẻ
vị thành niên 34
34
48
57
Kết luận chƣơng 1: 64
2
Chƣơng 2. VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH VIỆT NAM ĐỐI
VỚI SỰ HÌNH THÀNH ĐẠO ĐỨC CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI: THỰC TRẠNG , NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP 66
2.1. Thực trạng vai trò giáo dục của gia đình Việt Nam đối với sự hình
thành đạo đức của trẻ vị thành niên những năm đổi mới, những vấn đề
đặt ra 66
66
71
80
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức xã hội là nền tảng tinh thần của một xã hội. Đạo đức của mỗi
con người là cái gốc nhân cách của họ. Chính tầm quan trọng của đạo đức xã
hội như vậy, cho nên trong bất cứ chế độ xã hội nào giai cấp cầm quyền cũng
luôn luôn xây dựng những quan niệm đạo đức phù hợp, nhằm củng cố chế độ
xã hội của mình.
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, một xã hội
tiến bộ, dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn thực hiện điều đó cần quan tâm
tới việc xây dựng đạo đức mới xã hội chủ nghĩa (XHCN), một thứ đạo đức
nhằm đưa lại những điều tốt đẹp cho con người, tạo dựng những quan hệ giúp
đỡ nhau giữa những con người trong xã hội. Để xã hội phát triển lành mạnh,
huy động được sức mạnh của toàn dân phấn đấu thực hiện được mục tiêu mà
Đảng cộng sản Việt Nam nêu ra, xây dựng một xã hội dân giàu nước mạnh xã
hội dân chủ công bằng văn minh, một mặt chúng ta phải quan tâm tới phát
triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống vật chất đầy đủ, tinh thần phong phú
cho nhân dân, mặt khác phải chăm lo xây dựng đạo đức xã hội lành mạnh,
khắc phục sự suy thoái phẩm chất đạo đức của một bộ phận dân cư hiện nay
nhất là trẻ vị thành niên - chủ nhân tương lai của đất nước.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thế hệ trẻ Việt
Nam đã có những cống hiến xứng đáng cho dân tộc, cho đất nước. Nhiều anh
hùng, chiến sỹ đã hy sinh cho Tổ quốc ở độ tuổi mười chín đôi mươi. Ngày
nay cũng không ít thanh niên đã có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không ít những
thanh niên đến những vùng sâu vùng xa, ra biên giới hải đảo để xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh những thanh niên đó còn một bộ phận thế hệ trẻ ở
nước ta hiện nay “ vô đạo đức, sống hư hỏng, không niềm tin, không lý
5
tưởng, luôn luôn bực dọc và bất mãn đi đến chỗ phá phách gia đình và ngoài
dân chủ, củng cố và phát huy vị trí của gia đình trong cơ cấu các thành phần
kinh tế, tạo cơ hội để gia đình thực hiện tốt chức năng giáo dục của mình bên
cạnh các chức năng khác. Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ thực hiện đường lối
đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vai trò giáo dục và tự giáo dục đạo đức của gia đình đối với trẻ vị thành
niên ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Tính cấp thiết này một mặt bị quy định
bởi bản thân sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mặt khác, sự tác động
có tính hai mặt của cơ chế thị trường, môi trường xã hội, các loại văn hóa
phẩm độc hại của lối sống thực dụng được du nhập từ phương Tây đang làm
băng hoại, tha hóa đạo đức của một bộ phận xã hội và đã lôi cuốn trẻ vị thành
niên vào vòng tội lỗi. Trong khi đó vai trò giáo dục đạo đức của gia đình đối
với trẻ vị thành niên chưa thật sự được coi trọng và đầu tư đúng cách. Sự
chuyển đổi nhanh chóng từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại làm
cho không ít các bậc cha mẹ lo nuôi con nhiều hơn là đầu tư dạy dỗ con,
nhiều cha mẹ không coi trọng đến việc giáo dục toàn diện cho con. Do kiến
thức và hạn chế năng lực của những bậc phụ huynh nên hiệu quả của việc
giáo dục đạo đức, nhân cách của gia đình cho trẻ vị thành niên là chưa cao.
Thực tế này đặt ra cho sự nghiệp giáo dục trong đó có giáo dục đạo
đức những thuận lợi và thách thức không nhỏ, nhiều vấn đề về mặt lí luận và
thực tiễn đã và đang đặt ra trong việc giáo dục đạo đức đặc biệt là trẻ vị thành
niên ở Việt Nam hiện nay. Đã đến lúc chúng ta nên có sự nhận thức đầy đủ
hơn, khách quan hơn về vai trò của giáo dục đạo đức của gia đình đối với trẻ
vị thành niên, cần phải có chiến lược và kế hoạch đầu tư thỏa đáng cho giáo
7
dục đạo đức trẻ vị thành niên và coi gia đình thực sự xứng đáng là trường học
đầu tiên cho việc hình thành đạo đức nhân cách của trẻ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cùng với sự hình thành gia đình trong quá trình phát triển của nhân loại,
giáo dục gia đình xuất hiện cùng với sự xuất hiện của gia đình. Điều đó có
công tác giáo dục của gia đình đối với trẻ vị thành niên với nhiều góc độ, cấp
độ khác nhau. Các công trình đó có thể được phân chia tha
̀
nh ca
́
c nhóm sau:
Nhóm thứ nhất,
, có các công trình tiêu biểu:
- Nghiêm Sĩ Liêm, “
, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, số 2 năm 2000.
- Đỗ Thị Bình (chủ biên), “
” Nhà xuất bản Khoa học
xã hội, năm 2002. Trong như
̃
ng công trình trên , các tác giả chủ yếu tập trung
nghiên cứu về vai trò của từng thành viên, ưu điểm nổi trội của họ đối với
" của Tiến sĩ Lê Ngọc Văn, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996;
“ của Viện khoa học
xã hội Việt Nam do giáo sư Nguyễn Duy Quý và giáo sư Hoàng Chí Bảo chủ
biên; “ ” do tiến sĩ Nguyễn Thị
Thọ giảng viên Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
chủ biên. Đặc biệt, có đề tài cấp Nhà nước KX-07-09: "
", của Trung
tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, giáo sư Lê Thi làm chủ biên, do Nhà
xuất bản Phụ nữ phát hành năm 1997. Tập thể các tác giả cho rằng, những
thành tựu to lớn của cách mạng khoa học và công nghệ trong những năm cuối
10
thế kỷ XX đang đưa lại những khả năng sáng tạo, trí thông minh tuyệt vời cho
con người và hứa hẹn đem lại những tiến bộ vượt bậc cho cuộc sống của cá
nhân, gia đình, xã hội cả về vật chất và tinh thần. Bên cạnh những tiến bộ
vượt bậc do con người tạo ra, thì hàng loạt những sai lầm, thiếu hụt, những
hành động dã man, điên cuồng, những tệ nạn xấu xa, nguy hiểm đang tồn tại
trên khắp thế giới cũng lại do con người gây ra. Hậu quả đó đang làm cho
hàng triệu gia đình tan tác, chia ly, cùng khổ. Tác giả khẳng định, bàn về sự
phát triển ổn định của xã hội, không thể tách rời sự phát triển của con người
và vai trò của gia đình trong việc bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực, xây
dựng nhân cách con người.
Ngoài các công trình trên cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu
các vấn đề Gia đình, Phụ nữ; Gia đình - Giáo dục gia đình như: Luận văn Th.s
của Phan Thanh Hùng, “
” Hà Nội, 1996; Luận văn Th.s Phạm Thị Xuân, “
” Hà Nội, 2004; Luận
văn Th.s Nguyễn Thành Công, “
” Hà Nội, 2007; Luận án T.s
của Đặng Thị Linh, “-
thêm những đề tài nghiên cứu về gia đình và giáo dục đạo đức của gia đình
một cách chuyên sâu hơn nữa. Chính các tác giả của những công trình trên
thừa nhận bên cạnh những kết quả đã đạt được về mặt lí luận cũng như thực
tiễn nhưng vẫn cần những công trình nghiên cứu khoa học về giáo dục của gia
đình, cần có sự đầu tư hơn nữa.
Với mong muốn đóng góp một số ý kiến về vai trò giáo dục của gia
đình đối với giáo dục đạo đức trẻ vị thành niên Việt Nam hiện nay, tác giả
12
chọn “Vai trò giáo dục của gia đình đối với sự hình thành đạo đức của trẻ
vị thành niên hiện nay” làm đề tài Luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Làm rõ vai trò và thực trạng vai trò giáo dục đạo đức của gia đình
đối với trẻ vị thành niên ở Việt Nam những năm đổi mới, trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong bối
cảnh hiện nay .
- Nhiệm vụ:
+ Làm rõ một số khái niệm như “”, “Trẻ vị thành niên ”,
“”, “, “ nh” và vai trò
giáo dục đạo đức của gia đình trong việc hình thành đạo đức trẻ vị thành niên
+ Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra về vai trò giáo dục đạo
đức của gia đình đối với trẻ vị thành niên ở Việt Nam một số năm qua.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò giáo dục đạo đức
của gia đình đối với đạo đức trẻ vị thành niên ở nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò giáo dục đạo đức của gia đình
đối với trẻ vị thành niên Việt Nam ( dưới 18 tuổi). Đây là lứa tuổi chủ yếu
vẫn đang chịu sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của gia đình.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vai trò giáo
1.1. Trẻ vị thành niên và giáo dục của gia đình đối với trẻ vị thành niên
1.1.1. Trẻ vị thành niên và những đặc điểm hình thành đạo đức trẻ
vị thành niên
- :
Sinh ra và lớn lên cùng với sự chuyển biến mạnh mẽ trên mọi lĩnh
vực của đời sống kinh tế xã hội, trẻ vị thành niên ở nước ta vừa là những
người chứng kiến đồng thời lại là những người được hưởng thụ những thành
quả bước đầu của công cuộc đổi mới. Chính sự nghiệp đổi mới đã tạo dựng
cho họ một môi trường xã hội thuận lợi để lớn lên, trưởng thành và phát triển
nhanh chóng.
Tuy nhiên, sự biến đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường cũng đã làm nảy sinh rất nhiều điều mới mẻ, đặt trẻ vị thành
niên vào những điều kiện và hoàn cảnh phức tạp, tác động tới nhiều mặt nhận
thức, tâm tư tình cảm cũng như hành vi của họ.
Trẻ vị thành niên là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa,
nhiều cách khác nhau và dễ gây tranh luận nhiều cả về nội hàm cũng như
ngôn từ của nó trong tư duy của nhiều ngành khoa học. Tùy thuộc vào vị trí
tiếp cận, góc nhìn cũng như chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà
trẻ vị thành niên lại được giải thích theo một cách thức riêng.
Những nhà lập pháp và quản lý xã hội thường nhấn mạnh những
giới hạn về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với trẻ vị thành niên, thông
15
qua đó mà có những phương thức đặc thù và hợp lý để quản lý nhóm đối
tượng này, phân biệt nó với những nhóm đối tượng khác. Với tính chất như
vậy thì trẻ vị thành niên có thể bao hàm tất cả những nhóm nhân khẩu xã hội
có tuổi đời ở dưới 18 tuổi, nhóm tuổi về cơ bản chưa phải chịu tất cả trách
nhiệm về mặt pháp luật đối với hành vi của mình.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc phân nhóm cho các đối tượng dưới
Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 tại chương X, Điều 68 quy
định "
, Theo quy định của chương này ", tiếp đó tại khoản 5, Điều
69 lại có sự
Trong khi đó trên khía cạnh những vấn đề về lao động và việc làm,
Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (23/6/1994)
lại quy định như sau: người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng
lao động có giao kết hợp đồng lao động. Trẻ em là người dưới 15 tuổi (Điều
120) Như vậy, ở đây quan niệm về độ tuổi của trẻ em đã khác với luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy, thuật ngữ trẻ em, nếu chỉ xét
theo tiêu chuẩn về độ tuổi ở các văn bản pháp luật khác nhau, trên thực tế
cũng đã phức tạp và thiếu thống nhất như thế nào rồi. Ở Luật Bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em, độ tuổi tối đa của một người được gọi là trẻ em là
dưới 16 tuổi; ở Bộ Luật Lao động là dưới 15 tuổi; ở Bộ Luật Hình sự là dưới
16 tuổi; ở Công ước về Quyền trẻ em độ tuổi đó là dưới 18 tuổi. Ở độ tuổi có
17
thể được kết nạp vào Đoàn thanh niên, tức là đã đủ tiêu chuẩn trưởng thành
của một thanh niên, theo điều lệ Đoàn là 15 tuổi.
Chính việc quy định có tính khác biệt về độ tuổi giữa các văn bản
pháp luật, cũng có thể làm chúng ta rất lúng túng khi không biết dựa trên
những tiêu chí nào để nhận rõ về khái niệm trẻ vị thành niên và xử lý thế nào
những vấn đề rất cụ thể từ thực tiễn.
Trong các công trình nghiên cứu của nhiều nước, nhóm trẻ vị thành
niên cũng được phân định ở các lứa tuổi thật khác nhau. Gần đây, tổ chức y tế
thế giới đã đưa ra một tiêu chí cơ bản để chỉ trẻ vị thành niên . Đó là "nhóm
nhân khẩu xã hội có độ tuổi từ 10 đến 18 tuổi ". Trong nhóm nói trên, người
chuyển biến từ một đứa trẻ non nớt thành một người lớn khỏe mạnh. Sự
trưởng thành nhanh chóng gần như đột biến ấy không chỉ gây ngạc nhiên cho
những người xung quanh mà cho cả chính những đứa trẻ ở vào lứa tuổi
này. là câu tục ngữ hoàn toàn đúng mà người xưa đã
dùng để nói về trẻ vị thành niên .
tuổi trẻ cũng là giai đoạn thay đổi nhanh chóng nhất về tâm
lý, tình cảm, nhận thức mà trong nhiều trường hợp, chính sự thay đổi ấy còn
có thể gây “” cho bản thân lứa tuổi này. Các nhà tâm lý học đã viết và nói
nhiều về sự đa dạng và phức tạp trong tình cảm, tâm lý trầm tư, u uất, sự khép
mình vào thế giới nội tâm của nhiều bạn gái trẻ, hoặc thái độ ngang bướng
thậm chí phá phách, muốn khẳng định mình ở các bạn trai khi ở vào tuổi này.
Do vậy, có thể nói rằng tuổi trẻ cũng là giai đoạn có nhiều những biến động
nhất trong sự hình thành các giá trị đạo đức, lối sống và nhân cách của mỗi
người. Để rồi sau khi vượt qua lứa tuổi này, con người có thể bước vào đời
như những công dân tương lai với tất cả những gì tạo dựng được từ trước đó,
19
những tốt và xấu, trắng và đen, những đúng đắn và sai lệch đan xen nhau, đấu
tranh với nhau trong suốt quãng đường còn lại của đời người.
từ sự thay đổi về thể chất và nhận thức, trẻ vị thành niên
cũng là nhóm nhân khẩu xã hội có những biến đổi mạnh mẽ nhất trong hành
vi. Nó khiến cho bao giờ cũng vậy rất nhiều hành vi của nhóm tuổi này luôn
là khó hiểu và khó lường trước được đối với những thế hệ khác. Ở tuổi trẻ
người ta dễ dàng hành động mà không cần cân nhắc, tính toán chín chắn. Tuổi
trẻ có thể là những người vị tha, độ lượng, có thể hy sinh thân mình để làm
những điều tốt đẹp, nhưng cũng có thể ngay sau đó lại bị lôi kéo vào những
hành vi xấu mà không nhận biết được. Người ta cũng rất dễ bị lây nhiễm
những tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, trộm cắp, đánh nhau khi ở vào tuổi
này để rồi đến khi trưởng thành đã không dễ dàng từ bỏ những tệ nạn. Và đây
cũng là lứa tuổi có nhiều biểu hiện bồng bột, nhất thời, buồn vui vô cớ, tính
" do nhà xuất bản khoa học xã hội
xuất bản năm 1991.
Gia đình dù bắt nguồn từ những nhu cầu rất tự nhiên, nhưng gia
đình vẫn là một thiết chế xã hội, một hiện tượng xã hội, bởi vậy, hình thức và
chức năng của nó xét đến cùng, bị quy định bởi tính chất của quan hệ sản
xuất, của quan hệ xã hội nói chung và của trình độ phát triển văn hóa – xã hội
nói riêng. Trong tác phẩm "
", Ph.Ăngghen đã phân tích mối liên hệ giữa ba hình thức hôn nhân
chính, và do đó là ba loại hình gia đình chính tương ứng với trình độ phát
triển của xã hội loài người thông qua ba giai đoạn phát triển chính: thời đại
mông muội, thời đại dã man và thời đại văn minh. Theo đó, ứng với thời đại
mông muội, có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp
đôi; ở thời đại văn minh có chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Trong những
21
điều kiện lịch sử cụ thể, gia đình hạt nhân có thể thu hẹp lại; chẳng hạn, có
những gia đình chỉ có vợ chồng, không con cái; nhưng thường thì gia đình
được mở rộng ra không chỉ bao gồm: vợ chồng, con cái mà còn có cả ông bà,
cháu chắt nữa. Đặc biệt là trong các xã hội phương Đông truyền thống, dưới
ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo, có những gia đình gồm bốn, năm thế hệ
cùng chung sống.
Do sự biến động và tính phức tạp của cơ cấu gia đình, vì vậy mà gia
đình được hiểu theo nhiều cách thức khác nhau:
Trong công trình «
», Giáo sư Lê Thi cho rằng: «
h