VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ TIN HỌC
TIỂU LUẬN MÔN XÃ HỘI HỌC
ĐỀ TÀI :
THANH NIÊN ,SINH VIÊN VỚI VẤN ĐỀ VIỆC LÀM HIỆN NAY . .
Sinh Viên
Lớp
Hệ đào tạo
Cán bộ hướng dẫn
Ngày hoàn thành
: TRẦN THẾ CƯỜNG
: 04B4
: CHÍNH QUY
: ĐOÀN VĂN ĐỨC
: 28 THÁNG 10 NĂM 2005
HÀ NỘI THÁNG 10 NĂM 2005
Lời giới thiệu
Trong xã hội hiện nay vấn đề việc làm luôn luôn là vấn đề nóng bỏng,
được không chỉ báo giới, các cơ quan ban ngành, các doanh nghiệp quan tâm
mà nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của rất nhiều những sinh viên ngay khi còn ngồi
trên ghế nhà trường. Sinh viên nói chung đang không ngừng tích luỹ kiến
thức, kinh nghiệm để đạt được mục đích cao đẹp của họ trong tương lai.
Xét về năng lực hành vi, sinh viên là một phần quan trọng trong độ tuổi
lao động. Họ có thể lực, trí lực rất dồi dào. Xét về mục đích, sinh viên đi học
là để có kiến thức để có thể lao động và làm việc sau khi ra trường. Nhận thức
được rằng có rất nhiều cách thức học khác nhau và ngày càng có nhiều sinh
viên chọn cách thức học ở thực tế.
Với mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên, chúng tôi đã chọn đề tài
“Vấn đề việc làm đối với sinh viên, thanh niên hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu của mình.
Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề việc làm của thanh niên ,sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đoàn văn đức – bộ môn xã hội – chủ
nghĩa xã hội khoa học, một số người bạn khác và một số bài tiểu luận của các
anh chị khoá trước đã giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận.
Sinh viên thực hiện :
Trần Thế Cường .
CHƯƠNG MÉT
KHÁI QUÁT SƠ QUA VỀ MÔN XÃ HỘI HỌC
I. Khái niệm xã hội học là gì?
Lần đầu tiên, vào năm 1839, Auguste Comte – nhà triết học thực chứng luận
người Pháp đã đưa thuật ngữ xã hội học (sociology) vào thuật ngữ khoa học,
bắt nguồn từ sự ghép nối hai thuật ngữ “societas” tiếng latinh có nghĩa là xã
hội và “logos” tiếng Hilạp có nghĩa là quan điểm, lý luận, học thuyết … tổng
hợp lại sociology có thể hiểu là học thuyết về xã hội, là khoa học nghiên cứu
về mặt xã hội, về khía cạnh xã hội của xã hội loài người.
Chóng ta đều biết rằng xã hội loài người rất phong phú, đa dạng, được
nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Các khoa học nghiên cứu về xã hội
đều thuộc về khoa học xã hội. Song, khoa học xã hội lại chia ra nghiên cứu
từng mặt của xã hội như sử học, triết học, kinh tế học và xã hội học . v…v.
Các khoa học đặc thù có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng có quan hệ
chặt chẽ với nhau.
Sù ra đời của con người không chỉ là kết quả của quy luật sinh học mà quan
trọng hơn là kết quả của quá trình lao động. Đây là quá trình con người tác
động vào thế giới tự nhiên, khai thác và cải biến thế giới tự nhiên để đáp ứng
nhu cầu tồn tại của mình. chính trong quá trình lao động, thì cấu tạo của cơ
thể người ngày càng hoàn thiện hơn làm xuất hiện ngôn ngữ và chữ viết. Lao
động và ngôn ngữ là hai thứ kích thích chủ yếu của não bộ của loài vật thành
bộ não con người, tâm lý động vật thành có ý thức.
Sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành mối quan hệ giữa con
người với con người, quá trình chuyển đổi từ động vật thành con người cũng
là quá trình chuyển đổi từ cộng đồng mang tính bầy đàn, hành động theo bản
hoạt động hoàn toàn chỉ là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩ
hay có nhiệt tình theo đuổi những mục đích nhất định, thì không có gì sảy ra
mà không có tính tự giác không có mục đích mong muốn”.
Như vậy: Quy luật của tự nhiên được hình thành xuyên qua vô số những tác
động tự phát, mà quáng của các yếu tố tự nhiên, còn quy luật xã hội được
hình thành trên cơ sở hoạt động có ý thức của con người. Xã hội là sản phẩm
hoạt động của con người, mà “ tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động
thì tất phải thông qua đầu óc họ”. Do vậy quy luật xã hội chẳng qua là quy
luật của con người theo đuổi mục đích của mình. Hoạt động của con người
chỉ diễn ra trong các mối quan hệ xã hội, trong sự tác động qua lại giữa con
người với con người và giữa con người với tự nhiên. cho nên cũng giống như
quy luật tự nhiên, quy luật xã hội là những mối quan hệ khách quan, tất yếu
và phổ biến giữa các hiện tượng và các quá trình của xã hội. Có nghĩa là,
trước tiên quy luật xã hội phải mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của quy
luật xã hội nói chung đó là tính khách quan, tất yếu và phổ biến. Tính khách
quan của xã hội thể hiện ở chỗ tuy quy luật xã hội được biểu hiện thông qua
hoạt động của con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức, ý trí của bất
kỳ một cá nhân, hay một lực lượng xã hội nào đó. Bởi vì bằng hoạt động thực
tiễn con người tạo ra xã hội, làm nên lịch sử - song những hoạt động của con
người được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt động vật chất nhất
định, trong những quan hệ nhất định giữa con người với con người và giữa
con người và thế giới tự nhiên, những điều kiện và mối quan hệ đó là khách
quan đối với mỗi thời đại, mỗi dân téc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo
đuổi mục đích của bản thân mình.
Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như là những xu hướng, mang tính đặc
trưng của xã hội. Những mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức
tạp, giữa những con người và người đã tạo ra những hoạt động khác nhau
trong xã hội. Tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó tạo thành xu hướng
vận động lịch sử, trong đó hoạt động của khối đông người là chủ yếu. Điều đó
có nghĩa là, mặc dù hoạt động cua con người trong xã hội biểu thị cho rất
tranh giai cấp sẽ chấm dứt hoàn toàn sự phân chia thành những giai cấp đối
kháng.
Hình thức biểu hiện sự tác động của các quy luật xã hội thường bị biến dạng
nhiều là do sự biến đổi lịch sử của từng giai đoạn, từng thời đại, từng nước
khác nhau và còn tùy thuộc vào trạng thái phát triển của các quan hệ xã hội.
Các quy luật xã hội thể hiện một cách rõ rệt khi các quan hệ xã hội vốn có của
nó đạt đến trình độ chín muồi nhất định. Chẳng hạn, quy luật giá trị thặng dư
– quy luật kinh tế cơ bản của nền tư bản xã hội chủ nghĩa, được C.Mác phát
hiện ra khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến trình độ cao, nó phản ánh một
cách sâu sắc và đầy đủ nhất mối quan hệ cơ bản trong xã hội tư bản chủ
nghĩa.
Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người.
Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội
là lợi Ých của hoạt động chủ thể. Do vậy, lợi Ých trở thành một yếu tố quan
trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và trong sự nhận thức của
con người về nó. Điều này không làm mất đi tính khách quan vốn có của quy
luật xã hội, bởi vì: Tùy hoạt động của con người bao giê cũng nhằm theo đuổi
những lợi Ých và mục đích khác nhau, những kết quả tác động của quy luật
xã hội lại không phụ thuộc vào từng ý muốn của từng cá nhân mà hướng đến
ý muốn ưu trội của khối đông người. Do đó, lợi Ých ở đây không thể nào là
lợi Ých cá nhân, mà phải là lợi Ých của cộng đồng, của giai cấp…
Một đặc điểm nữa của quy luật xã hội là để nhận thức được nó cần phải có
phương pháp khái quát hoá và trừu tượng hài hoà rất cao. Bởi vì sự biểu hiện
và tác động của xã hội thường diễn ra trong thời gian rất lâu, có khi là trong
suốt quá trình lịch sử, do đó không thể tính thực nghiệm để kiểm tra như
những quy luật của tự nhiên, cũng không thể tính nối suy diễn logic một cách
đơn thuần. đúng như C.Mác đã viết: “ khi phân tích những hình thái kinh
tế, người ta không thể dùng kính hiển vi hay những vật phản ứng hoá học
được. Sự trừu tượng hoá phải được thể hiện cho cả hai cái đó”.
III. Đối tượng nghiên cứu của xã hội.
pháp sinh học, phương pháp thống kê… xã hội học phải tuân theo những
nguyên tắc của logic biện chứng trong quá trình nghiên cứu như nguyên tắc
toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể, nguyên tắc phân đổi cái thống nhất và
nhận thức bộ phận đối lập của nó có sự tác động qua lại, đó là nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. đồng thời xã hội học cũng sử dụng
phương pháp biến đổi của các ngành khoa học như y học, các ngành nghiên
cứu chống các căn bệnh khó chữa như máu trắng, HIV…, các ngành khoa học
khác…
2. Phương pháp riêng:
Phương pháp riêng mà xã hội học sử dụng là phương pháp điều tra xã hội
học. Trong đó phương pháp thống nhất là phân tích, quan sát đặc trưng ý
kiến…
Ngoài ra các nhà xã hội học nghiên cứu không chỉ sử dụng hai phương pháp
chung và phương pháp riêng mà còn có một số phương pháp khác như:
Phương pháp phân tích.
Phương pháp hệ thống, quy nạp, diễn dịch, phương pháp duy vật biện
chứng.
Phương pháp điều tra xã hội(phương pháp tiếp cận xã hội).
V. Dân số, môi trường trong sự phát triển của xã hội.
1. Vai trò của dân số đối với sự phát triển của xã hội:
Dân số là lượng người sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhất định. Khái
niệm dân số bao hàm nhiều mặt như: số lượng dân cư, chất lượng dân cư, mật
độ dân cư, sự phân bố dân cư, sự tăng dân số …
Vai trò của dân số đối với sự phát triển của xã hội thể hiện trước hết qua số
lượng dân cư và chất lượng dân cư.
Số lượng dân cư là số lượng người của dân số. Số lượng dân cư hiện sức
mạnh về lượng của dân số trong đó quan trọng nhất là sức mạnh thuộc về thể
lực, tính theo lao động cơ bắp của con người. Sức mạnh của số lượng dân cư
phụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức, quản lý và sự đoàn kết liên kết giữa
người với người trong một cộng đồng.
Giải quyết tối ưu vấn đề dân số trước hết là nhiệm vụ của mỗi quốc gia
nhưng nó mang tính chất toàn cầu. Nó đòi hỏi phải xác định được và giữ tỷ lệ
tăng dân số hợp lý trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với
điều kiện môi trường tự nhiên. Mặt khác bên cạnh giữ được tỷ lệ gia tăng dân
số hợp lý phải có chính sách bố trí hợp lý và đặc biệt phải tăng cường chất
lượng dân cư để đảm bảo sự phát triển hài hoà lâu bền của cả tự nhiên và xã
hội.
2.Vai trò của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội:
Môi trường là toàn bộ những điều kiện mà trong đó con người sinh sống.
Khái niệm môi trường bao hàm cả môi trường tự nhiên và các môi trường xã
hội. Môi trường tự nhiên được sử dụng dưới nhiều cái tên khác nhau như sinh
quyển ( vùng lưu hành sự sống trên trái đất), môi trường sinh - địa - hoá học,
môi trường sống… thường được gọi chung là môi trường sinh thái.
Ở trình độ mộng muội, khi con người chỉ biết chủ yếu hái lượm những sản
phẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu như con người bị giới tự nhiên hoàn toàn
thống trị. Cuộc sống của xã hội phụ thuộc vào môi trường tự nhiên.
Ở trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi khoa học – kỹ thuật phát triển thì
con người đã từng bước chế ngự được tự nhiên, biết khai thác tự nhiên phục
vụ cho nhu cầu của mình. Nhiều ngành nghề được hình thành từ những điều
kiện có sẵn của môi trường tự nhiên như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp, các ngành khai thác khác… Song nhìn chung, môi trường tự nhiên
vẫn giữ vai trò to lớn trong việc tổ chức, phân công lao động, phân bố lực
lượng lao động sản xuất và vẫn tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho quá
trình sản xuất, do đó ảnh hưởng tới năng xuất lao động, đến tốc độ phát triển
của xã hội.
Khi con người bất chấp quy luật phạm vi nhưng nguyên tắc đảm bảo cho sự
phát triển bền vững, biến”khai thác” thành”chiếm đoạt” tự nhiên thì môi
trường tự nhiên không phải chỉ gây khó khăn cho quá trình sản xuất nữa, mà
còn đe dọa đến sự sống của toàn xã hội. Biểu hiện trước hết của sự đe doạ là
sự khan hiếm và cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất,
- Tổ chức thí điểm để thẩm định các dự kiến.
- Tổng kết phát hiện quy luật và xây dựng hệ thống lý luận xã hội.
VII. Chức năng của xã hội học:
Xã hội học có hai chức năng: chức năng nhận thức và chức năng thực tiễn.
Nói như vậy là quá chung chung, cho nên cần phải đi tới một cách cụ thể hơn
trong việc trình bày những chức năng xã hội của nó. Như vậy có thể nêu lên 4
chức năng cơ bản của xã hội học: chức năng tư tưởng, chức năng phương
pháp luận, chức năng văn hoá và chức năng quản lý.
1. Chức năng tư tưởng:
Hệ tư tưởng là một hệ thống tổng hợp của những quan điểm hay những lý
tưởng về mặt triết học, xã hội học, kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, văn
hóc nghệ thuật, tôn giáo… Đối với xã hội hay đối với vị trí của con người
trong xã hội. Quan điểm xã hội đối với đời sống là một hệ thống thống nhất,
tổng hợp của sự nhận thức về xã hội.
Những sự hình thành của quan điểm Mác-Lênin là tư tưởng Hồ Chí Minh
đối với đời sống không chỉ thu hẹp vào vấn đề nhận thức, nó còn bao gồm quá
trình biến đổi từ nhận thức thành niềm tin, thành những tư tưởng và tiêu
chuẩn, thành những nhân tố kích thích hành động. Cho nên chức năng tư
tưởng của xã hội học lại bao gồm những chức năng riêng biệt: Chức năng nội
dung, chức năng chỉ định và chức năng phê phán.
Chức năng nội dung: bảo đảm cho xã hội học góp phần mở rộng nội dung
khoa học của hệ tư tưởng một cách đáng kể. Nó có vai trò quan trọng trong
việc xây dựng nền tảng xã hội học Mác-Lênin đối với đời sống xã hội.
Chức năng chỉ định: Bắt nguồn từ vai trò của xã hội học trong việc tổ chức
và quản lý quá trình tư tưởng. Chức năng này phục vụ cho chức năng quản lý
xã hội học. Hệ tư tưởng là lĩnh vực tinh tế và nhậy cảm nhất của quản lý xã
hội.
Chức năng phê phán của xã hội: Bắt nguồn từ thực tế là sự củng cố quan
điểm xã hội chủ nghĩa và đời sống luôn nằm trong những điều kiện đấu tranh
tư tưởng với các quan điểm tư sản và tiểu tư sản và với những bước đi chệch
Chức năng văn hóa bắt nguồn từ vai trò của xã hội học trong hệ thống văn
hoá của con người. Xã hội học với tư cách là một thành tựu về một bộ môn
của văn hoá trong sự phát triển tư duy, thái độ sáng tạo, năng lực phân tích và
tổng hợp của con người cũng như trong việc xây dựng phong cách tư duy của
nó. Xã hội học góp phần vào việc tăng tính hiểu biết về lịch sử phát triển của
xã hội loài người, một quá trình phức tạp bao gồm rất nhiều vấn đề có liên
quan như thể chế, hiện tượng, cơ cấu xã hội v.v…
4. Chức năng quản lý:
Đây là một trong những chức năng cơ bản của xã hội học. Bằng chức năng
này, xã hội học có ảnh hưởng trực tiếp đối với những hoạt động thực tiễn của
các cơ quan quản lý và của quần chúng nhân dân.
Xã hội học đóng một vai trò ngày càng to lớn trong việc kế hoạch hoá xã hội
– kinh tế trong phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương. thông qua
chức năng này xã hội học đã góp phần giải quyết nhiều vấn đề trong các lĩnh
vực như: Sản xuất vật chất, quan hệ xã hội, văn hoá, giáo dục v.v… Xã hội
học cung cấp những thông tin cần thiết về cả chủ lẫn khách thể của quản lý,
về toàn cơ chế quản lý và chu kỳ quản lý.
Xã hội học có liên quan với thực tiễn xã hội học một cách chặt chẽ. Nếu triết
học gắn liền với thực tiễn chỉ bằng cách thông qua hiệu quả tư tưởng và
phương pháp của nó với các ngành khoa học chuyên biệt và cụ thể đối với xã
hội của quần chúng, thì xã hội học lại có tác dụng thực tiễn bằng cả ảnh
hưởng của nó với các khoa học khác, đối với lối suy nghĩ của con người cũng
như bằng ảnh hưởng trực tiếp, vì nó được coi là cơ sở thông qua những quyết
định quản lý.
VIII. Nhiệm vụ của xã hội học:
Căn cứ vào các chức năng trên, xuất phát từ nội dung, tính chất của xã hội
học chúng ta có thể xác định các nhiệm vụ của xã hội học như sau:
1.Nhiệm vụ hành đầu của xã hội học hiện nay: Là nghiên cứu các hình thái
biểu hiện cơ chế hoạt động của các quy luật hoạt động trong xã hội.
2. Nhiệm vụ tiếp theo của xã hội học: Là phục vụ cho công tác tổ chức và
nền văn minh phương tây vào nước ta đã phần nào tác động đến nền kinh tế,
chính trị, văn hoá ở Việt Nam đã có những đặc điểm không giống với các xã
hội truyền thống ở nơi khác. Trong xã hội truyền thống cũng có sự xuất hiện
của một số những yếu tố hiện đại, tự nhiên, ở nước ta yếu tố truyền thống
trong thời kỳ này vẫn chiếm ưu thế.
Trong thời kỳ này, những giá trị chuẩn mực văn hoá - xã hội chịu ảnh hưởng
của các tôn giáo nói chung, đặc biệt là phật giáo và nho giáo, nhưng các hệ tư
tưởng và các tôn giáo ở bên ngoài khi vào việt nam đều được điều chỉnh và
cấu trúc lại cho phù hợp với điều kiện kinh tế – văn hoá và truyền thống văn
hoá của người Việt Nam. Các kênh chủ yếu thực hiện chức năng xã hội hoá
giáo dục và rèn luyện nhân cách con người là gia đình và dòng họ. Gia đình
và dòng họ thực hiện chức năng xã hội hoá giáo dục đạo đức tức là lễ, cái gốc
của nhân cách, giáo dục tôn ti trật tự và thứ bậc trong gia đình, ý thức tôn
kính tổ tiên, giáo dục đức hiếu với cha mẹ, ông bà…
Phương pháp thực hiện chức năng xã hội hoá chủ yếu sử dụng quyền uy của
chủ thể xã hội hoá phải tuân theo và chấp hành dưới sự kiểm soát nghiêm
ngặt của chủ thể xã hội hoá. Điều đó cũng phản ánh phần nào đặc điểm của
chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến.
Ngoài ra, phương thức thực hiện chức năng xã hội hoá còn sử dụng hình
thức nêu gương đối với khách thể xã hội hoá, cũng như hình thức lao động và
thông qua lao động để xã hội hoá con người.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tuy tiếp xúc với văn hoá phương Tây những ảnh
hưởng của giá trị văn hoá phương Tây mới dừng lại ở một số thành thị. Còn
nông thôn việt nam dường như vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống của nó
trong việc thực hiện chức năng xã hội hoá con người ở mỗi gia đình.
Xã hội hiện đại khác hẳn các xã hội truyền thống. Về mặt lịch sử ở nhiều
nước, xã hội hiện đại ra đời cùng với chủ nghĩa tư bản và quá trình công
nghiệp hoá. Những đặc trưng cơ bản của nó thể hiện như sau:
+ Kinh tế hàng hoá phát triển.
+ Phân công lao động phát triển theo chiều sâu, đạt trình độ cao.
- Về thãi quen nếp sống: có thãi quen “dĩ hoà vi quý” nói thay làm, có tính
quan liêu, gia trưởng.
Hiện nay, dưới tác động của cơ chế thị trường, hệ giá trị, thang giá trị và các
định hướng giá trị đang dần dần biến đổi.
II. Một số vấn đề bức xúc hiện nay của xã hội ở Việt nam.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ đổi mới. Nhà nước đang xây dung chiến
lược ổn định và phát triển kinh tê – xã hội đến năm 2010. một tư tưởng xuất
phát điểm của chiến lược này là tư tưởng đặt con người vào vị trí trung tâm
của chiến lược kinh tế – xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội của đảng ta đang khẳng định: “ nguồn lực lớn
nhất, quý báu nhất là tiềm lực con người Việt Nam “. đầu tư vào con người là
cơ sở chắc chắn của sự phát triển kinh tê – xã hội. Việt Nam đang ở trong quá
trình vận động từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Có thể vạch ra một số vấn đề bức xúc nhất của xã hội hoá hiện nay ở nước
việt nam ta hiện nay như sau:
- Sù chuyển đổi hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị. Sự định hướng giá
trị bảo đảm cho sự kế thừa và duy nhất của giá trị bảo đảm cho sự kế thừa và
duy trì các giá trị truyền thống, hình thành những giá trị chuẩn mực văn hoá
xã hội phù hợp với nhu cầu mới của xã hội.
- Các kênh thực hiện chức năng xã hội hóa cũng nằm trong sự vận động,
biến đổi theo sự vận động và biến đổi theo quan hệ thị trường.
- Gia đình truyền thống dần dần chuyển sang gia đình hiện đại.
Từ những vấn đề bức xúc trên đòi hỏi Đảng và nhà nước cần xác định hệ
thống giá trị cơ bản của người Việt Nam để thực hiện chức năng xã hội hoá
qua những môi trường của nó như gia đình, nhà trường, đoàn thể xã hội, các
phương tiện thông tin đại chúng và xã hội nói chung. Hệ thống giá trị của một
xã hội, một quốc gia luôn thể hiện tập trung trong các chủ trương, chính sách,
luật pháp của nhà nước. Vì vậy, đảng và nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến
chính sách đồng bộ về mọi mặt nhằm tạo nên hệ thống giá trị ổn định, bền
Hiện nay, thanh niên nước ta có trên 27533 nghìn người, trong đó hoạt
động kinh tế chiếm 72.8%
(2)
. Nhìn chung trình độ học vấn của thanh niên
trong những năm gần đây được nâng lên rõ rệt. Song chất lượng đào tạo vẫn
chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động: tri thức nặng về lý thuyết,
kém về thực hành, tính chủ động, sáng tạo chưa cao. Bên cạnh đó là một số
lượng lớn hiện chưa có việc làm. Những con sè 70% thanh niên đô thị và 94%
thanh niên nông thôn không có chuyên môn nghiệp vụ…đủ cho thấy mức độ
đáng báo động về công tác đào tạo nghề cho thanh niên.
Theo kết quả tổng điều tra dân số và việc làm, số người đủ 15 tuổi trở
lên hoạt động kinh tế thường xuyên có trình độ tốt nghiệp tiểu học tăng từ
32.2% năm 2001 lên 35% năm 2003, số người đã tốt nghiệp THCS ổn định
khoảng 30-32% và số đã tốt nghiệp THPT tăng từ 17.3% năm 2001 lên 20%
năm 2003. Năm 1999, sè thanh niên không có chuyên môn kỹ thuật, nghiệp
vụ chiếm 94.1% so với tổng số thanh niên, đến năm 2003, con số này giảm
xuống còn 90%. Đặc biệt, số thanh niên có trình độ CĐ, ĐH tăng 4 lần so với
năm 1999.
T l lao ng thanh niờn cú trỡnh chuyờn mụn, k thut, nghip v
tng khỏ nhanh trong nhng nm qua nhng n nm 2003 mi t 10% l
quỏ thp trc yờu cu CNH, HH t nc v ch ng hi nhp kinh t
quc t.
(1)
. http://www.hanoimoi.com.vn, Thiu vic hay thiu tay ngh 22/03/2005, 08:01 AM
(2)
. Thụng tin kinh t xó hi, trang 19, số 10 thỏng 3/2005, T.H
Theo s liu c cu ngnh ngh nm 2002-2003, tớnh riờng trong gn
605 nghỡn sinh viờn h chớnh quy tp trung, t l sinh viờn hc nụng nghip
ch cú 5.77%. Qua cỏc hi ch vic lm c t chc gn õy thỡ ch cú 20%
lao ng ỏp ng c nhu cu tuyn k s nụng, lõm, ng nghip. sinh
(2)
. Thu thập thông tin qua phỏng vấn
buồn: Người lao động đến HC tìm việc nhưng với thái độ thờ ơ, cẩu thả,
không chuẩn bị kỹ về tâm lý, các loại giấy tờ hồ sơ cũng không đầy đủ. Trong
sè 400 hồ sơ mà VINACONEX (Hà Nội) nhận được, không có bộ hồ sơ nào
đủ giấy tờ cần thiết (thiếu bằng tốt nghiệp, thiếu giấy khám sức khoẻ…). Bởi
vậy trong 3 ngày HC, Tổng Cty đã không thể tiến hành phỏng vấn, tuyển
dụng trực tiếp như kế hoạch”
(1)
.
Cũng tương tự như trên, tại “Ngày tuyển dụng 12/3” do trường Đại học
Ngoại Thương Hà Nội tổ chức, so với 1.640 chỉ tiêu nhận người của 67 nhà
tuyển dụng, con sè 214 người lao động tìm được việc làm là quá nhỏ bé. Điều
này không chỉ khiến người lao động nuối tiếc vì để vuột mất cơ hội tìm việc
trực tiếp mà ngay cả nhà tuyển dụng cũng cảm thấy thất vọng.
Lê Văn Đức, cán bộ quản lý nhân sự Công ty Cổ phần Bánh kẹo Kinh
Đô nhận xét: “Trong 100 hồ sơ ứng tuyển vào các vị trí, chúng tôi chỉ chọn
được rất Ýt. Riêng vị trí kế toán quản trị, chúng tôi không tìm nổi ứng viên
nào vì lĩnh vực này không chỉ đòi hỏi trình độ nghiệp vụ chuyên môn mà cần
có cả kinh nghiệm làm việc nữa”
(2)
.
Còng theo ông Đức, đa phần các ứng viên chưa có sự chuẩn bị chu đáo
về tâm thế tìm việc nên khi đến tuyển dụng còn bị động trong cách chọn
ngành nghề, chưa tạo sự tin tưởng, yên tâm cho nhà tuyển dụng.
Cùng mét quan điểm, chị Tuấn Anh, người đảm nhận phụ trách tuyển
dụng của Công ty Canon cho biết: “Suốt buổi sáng phỏng vấn gần 60 ứng
tuyển, tôi chỉ chọn được 36 hồ sơ vào vòng I để ngày mai kiểm tra lần thứ hai
tại Công ty. Những ứng viên tốt nghiệp ĐH thì trình độ chuyên môn còn
được, trong khi những em tốt nghiệp CĐ thì chuyên môn rất kém, nhiều em
nhiệt tâm và trung thực của họ đối với công việc mà họ đang dự tuyển. Trên
thực tế, không Ýt doanh nghiệp chấp nhận tái đào tạo những người chưa
hoàn thiện lắm về kiến thức, kinh nghiệm, miễn sao họ có thái độ chân thành,
đúng đắn và bản lĩnh”
(2)
.
“Bi kịch của phần lớn đội ngò lao động ở nước ta hiện nay, đặc biệt là
giới trẻ, chính là tư tưởng hưởng thụ quá sớm và quá coi trọng quyền lợi vật
chất trong khi chính bản thân họ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà
tuyển dụng, nhu cầu của xã hội.”
(3)
– Dương Thế Nguyên, phó Phòng Dự án
II, Công ty TNHH Thương mại & Hỗ trợ việc làm “Cô Tấm” nhận xét.
Trong năm 2004, các nhà tuyển dụng luôn than thở thiếu người, các
công ty cung ứng nguồn nhân lực cũng than đơn đặt hàng rất nhiều nhưng
ứng viên giỏi không đủ để “săn”. Năm nay, theo nhận xét của các đơn vị này,
“điệp khúc” Êy tiếp tục lặp lại, đặc biệt, nhân sự cấp cao sẽ càng khan hiếm.
(1)
. http://www.tintucvietnam.com, “Rớt đài” từ những điều sơ đẳng, kỳ 1, 04/08/2004,
10:15 AM
(2)
. http://www.tintucvietnam.com, “Rớt đài” từ những điều sơ đẳng, kỳ 2, 05/08/2004,
13:15 PM
(3)
. http://www.tintucvietnam.com, “Thông tin tuyển dụng”. 07/08/2004, 12:45 PM
Các ứng viên trẻ, theo chị Thiên Hương, Trưởng Phòng Phân tích và
Hỗ trợ chiến lược của Công ty Bảo hiểm Prudential: “các trường đại học
cũng có dạy nhưng lý thuyết không cập nhật, không đào tạo sự năng động và
xử lý tình huống thực tiễn, nên các ứng viên trẻ thiếu khả năng phản ứng,
trong khi rất nhiều bạn trẻ bây giê lại quá nóng vội, chê các vị trí thấp, muốn
Chớ Minh ó cho thy nhiu iu bt ng
(1)
. http://www.neutoday.net, Khan him nhõn lc cp cao, 07/03/2005, 09:02 AM
(2)
. http://www.tintucvietnam.com, Rt i t nhng iu s ng, k 2, 09/08/2004,
13:15 PM
Sinh viờn mi ra trng: Lng ln, cht thp!
“Họ rất nhiệt tình và mong muốn được chứng tỏ năng lực của mình.
Họ cũng sẵn sàng học hỏi và công ty thấy đối tượng này dễ đào tạo, định
hướng. Nếu tốt nghiệp từ những trường đào tạo chuyên ngành liên quan (như
kinh tế, hoá mỹ phẩm, dược, kỹ sư công trình…) thì họ có những kiến thức
khá cơ bản để có thể bắt đầu làm việc. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu rằng gần
như phải đào tạo lại, bởi họ rất thiếu kiến thức chuyên sâu, đặc biệt là kiến
thức thực tế và thiếu kinh nghiệm làm việc”
(1)
– Giám đốc nhân sự ở một
công ty đa quốc gia về ngành hàng tiêu dùng phát biểu.
Một điểm quan trọng nữa là khả năng sử dụng tiếng Anh trong môi
trường công việc của thí sinh mới ra trường còn rất kém, do họ chưa có điều
kiện để tiếp xúc với tình huống công việc thực tế. Họ thường bị “khớp”,
không biết phải trả lời phàn nàn của khách hàng trên điện thoại như thế nào,
không có kỹ năng đàm phán thuyết phục, hay không thể trình bày vấn đề một
cách logic, chuyên nghiệp và thành thạo bằng tiếng Anh.
Điểm qua các DN, việc tuyển dụng chú trọng vào tiếng Anh, vào trình
độ, vào chỉ số thông minh của sinh viên qua các bài test. Như Nestle VN chỉ
cần có 2 ngày cho việc tìm 10 người phù hợp từ hơn 400 ứng viên. Cách của
họ là đến một trường ĐH tiếng tăm có nhiều chuyên ngành họ cần, tổ chức
một buổi hội thảo nghề nghiệp vài giê đồng hồ cho tất cả các ứng viên là sinh
viên năm cuối các trường thuộc khối kinh tế. Bài test IQ được đưa ra cho
những người tham gia, kết thúc buổi hội thảo cũng là lúc họ chọn được 28
trong khi thị trường lao động thì vẫn thiếu việc làm. Hầu hết những sinh viên
mới ra trường đều tồn tại một nhược điểm mà bất cứ nhà tuyển dụng nào cũng
đòi hỏi, đó là kinh nghiệm và phản ứng nhanh nhạy khi giải quyết các công
việc.
Tuy nhiên trước tình hình khủng hoảng nhân sự quản lý hiện nay, chị
Mai Thảo, chuyên viên phỏng vấn của HRVietnam, cho biết: “Một số công ty
sẽ không đòi hỏi ứng viên có kinh nghiệm sẵn nữa mà sẽ tuyển những người
trẻ có kết quả học tập cao, tố chất tốt – chủ yếu theo nhận xét cảm tính của
người tuyển dông - để đào tạo thành nhà quản lý theo yêu cầu công việc và
văn hoá của doanh nghiệp mình”
(1)
. Chị Thảo cũng cho biết thêm, ưu điểm
lớn nhất của một số ứng viên trẻ là tự tin, nhưng lại có “biên giới” rất mong
manh với tính tự phụ và ảo tưởng. Còn theo chị Thiên Hương, những sinh
viên du học trở về sẽ được ưu tiên hơn, vì ngoài kiến thức mới mẻ, các ứng
viên này đã tiếp nhận được lối tư duy và cách làm việc năng động của người
nước ngoài.
(1)
. http://www.neutoday.net, “Khan hiếm nhân lực cấp cao”, 07/03/2005, 09:02 AM
Tất cả các thợ “săn đầu người” đều khẳng định cơ hội việc làm hiện
nay là rất nhiều. Sức hót của các công ty nước ngoài vẫn còn mạnh và các
công ty trong nước cũng đã bắt đầu chiêu hiền đãi sĩ, mức lương gần như
tương đương nhau. Vì thế, điều quan trọng là sinh viên, các ứng viên trẻ phải
tự trang bị trước cho mình để sẵn sàng đón nhận. Chị Thuỳ Dương, Trưởng
Phòng Tư vấn tuyển dụng của Navigos và chị Mai Thảo, chị Thiên Hương
đều có lời khuyên chung cho các ứng viên trẻ rằng nên tự đào tạo mình bằng
mọi khả năng và cơ hội, nên làm bất kỳ việc gì phù hợp trong thời gian đi học
để nâng tầm nhìn của mình vượt qua khỏi cổng trường; nên hoạt động xã hội
để tập khả năng làm việc theo nhóm và đừng quên rằng tiếng Anh, vi tính là
chìa khoá cơ bản để mở những cánh cửa việc làm.