Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay - Pdf 34

Mục lục

Trang

A. LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………….

1

B. NỘI DUNG……………………………………………………………..

1

I. Khái quát chung về NKT, pháp luật NKT………………………..

1

1. Định nghĩa người khuyết tật…………………………………….

1

2. Đặc điểm NKT…………………………………………………..

1

3. Khái quát chung về luật người khuyết tật…………………………

2

II. Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT………………

2

làm đối với NKT.

7

III. Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện
nay…………………………………………………………………
1. Kết quả đạt được………………………………………………

8

2. Một số hạn chế…………………………………………………

10

IV.

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải

quyết việc làm đối với người khuyết tật………………………
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………….

8

13
15

1


A. LỜI MỞ ĐẦU

● Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội:
1
2

Khoản 1 Điều 2 Luật Người Khuyết tật
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr 21

2


Từ góc độ kinh tế, khuyết tật là nguyên nhân làm giảm cơ hội việc làm, phát triển
kinh tế; khả năng sống độc lập khó hơn đối tượng khác (phụ thuộc vào gia đình, người
thân,..), không chỉ bản thân người khuyết tật gặp khóc khăn về kinh tế mà còn gặp khó
khăn cho gia đình, cộng đồng.
Từ góc độ xã hội, người khuyết tật gặp khó khăn trong sinh hoạt, học tập, gặp rào
cản trong hòa nhập (gia đình, cộng đồng, học tập,…), có xu hướng thu hẹp, tách biệt cộng
đồng. Những khó khăn càng trở lên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối
với người khuyết tật.
● Đặc điểm người khuyết tật dưới góc độ dạng tật và mức khuyết tật:
Các dạng tật và mức độ khuyết tật cũng như việc xác định mức độ khuyết tật được
quy định chi tiết trong Luật người khuyết tật Việt Nam và Nghị định 28/2012/NĐ-CP
ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật người khuyết tật năm 2010..
3. Khái quát chung về luật người khuyết tật.
3.1. Khái niệm Luật người khuyết tật
Luật người khuyết tật là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành
hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đảm bảo các quyền
và trách nhiệm của người khuyết tật.
3.2. Các nguyên tắc cơ bản của luật người khuyết tật Việt Nam
Dưới góc độ lí luận nhà nước và pháp luật, các nguyên tắc của pháp luật được hiểu

Để NKT có cơ hội và điều kiện làm việc bình đẳng như những người lao động khác
thì pháp luật Việt Nam có quy định các nguyên tắc cơ bản .
● Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm:
Nguyên tắc này xuất phát từ vấn đề quyền con người. NKT bị khiếm khuyết một
hay nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn. Thực tế hiện nay những
người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong luật có quy định bởi
vì năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa trong
một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư
cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT. Chính điều này tạo nên sự
phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật. Phân biệt đối xử bao gồm
phân biệt đối xử trực tiếp ( là sự đối xử không công bằng giữa người lao động khuyết tật
và người lao động không khuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực
tiễn gây nên sự khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này) và phân biệt đối xử gián
tiếp ( Là những quy định pháp luật hoặc các thông lệ thực tiễn gián tiếp làm triệt bỏ hoặc
làm phương hại sự bình đẳng cơ may hoặc đối xử giữa nhưng NKT và người không
khuyết tật trên thực tế).
Nguyên tắc này được hiểu là việc NKT và người không khuyết tật được đối xử bình
đẳng như nhau về việc làm, cơ hội tìm việc làm cũng như quá trình sử dụng lao động và
bảo đảm việc làm.
● Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc làm.
3
4

Điều 13, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( Sửa đổi năm 2007).
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr 204

4


NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù. Do những đặc điểm về thể chất

mắn, phó mặc số phận cho ông trời và chỉ biết dựa vào gia đình hoặc của cộng đồng, họ
ngại hòa nhập với cuộc sống, họ không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại, ngại
giao tiếp. Chính vì thế nếu có việc làm, được đóng góp sức mình vào sự phát triển
chung của xã hội thì NKT sẽ cảm thấy tự tin trong cuộc sống, có ý chí vươn lên trong
5


cuộc sống và lao động như những người bình thường khác và có thể hòa nhập được với
cộng đồng bởi trong môi trường làm việc thì họ được tiếp xúc với nhiều người, được
đóng góp sức của mình, cảm thấy mình có ích. Bên cạnh đó thì việc làm cũng xây dựng
lòng tin và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự hào và nhân phẩm
cho người khuyết tật. Có thể nói : “ Việc làm là công cự quan trọng nhất để có thể tái
hòa đồng những người thường có xu hướng bị bỏ bên rìa xã hội”.
■ Việc làm cho NKT góp phần phát huy nguồn lực cho xã hội:
NKT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng có trách
nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng góp sức mình vào sự
phát triển chung của cả xã hội và cũng được hưởng những thành quả khoa học- công
nghệ. Nhưng do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần mà họ gặp rất nhiều khó
khăn và cản trở khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng. Việc có việc làm sẽ giúp họ
đóng góp được sức mình. Tuy nhiên, nếu được tạo điều kiện thuận lợi và tự mình vươn
lên thì người khuyết tật có thể sống, hoạt động và phát huy được năng lực và nguồn lực,
đóng góp vào sự phát triển nền kinh tế đất nước.
2. Chế độ làm việc của NKT.
2.1. Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm.
NKT khi tham gia vào các quan hệ lao động thì trở thành chủ thể của quan hệ lao
động, chính vì vậy, NKT cũng có những quyền và nghĩa vụ giống như những người lao
động không bị khuyết tật ở trong các lĩnh vực như tuyển dụng lao động, giao kết hợp
đồng, sử dụng lao động, bảo đảm việc làm. Tuy nhiên do những khiếm khuyết về thể
chất hoặc tinh thần mà pháp luật có một số quy định riêng đối với NKT nhằm tạo những
cơ hội, điều kiện phù hợp. Cụ thể là khi tham gia vào quan hệ lao động thì NKT được

định : “ Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người
khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết
tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án
phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn,
giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động
là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp” 8.
Bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập
quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp NKT phục hồi chức năng lao động và tạo việc
làm. Quỹ này được sử dụng với mục đích là : cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất kinh
doanh dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, duy
trì việc dạy nghề và phát triển sản xuất, để từ đó các doanh nghiệp sẽ nhận nhiều người
khuyết tật vào làm việc. Bên cạnh đó thì còn chính sách cho vay với lãi suất thấp đối với
các đối tượng : Cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật;
Cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; Cơ sở dạy nghề có nhận người tàn tật vào học
nghề; Doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ quy định
trong luật; Các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật.
Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT “có trên
51% số lao động là người khuyết tật, có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối tượng là
động là người tàn tật”9 được giúp cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng, trường, lớp, trang
thiết bị, được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp.
2.3. Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối với NKT.
■ Trách nhiệm của Nhà nước: NKT cũng là một công dân, là lực lượng lao động
của xã hội nên với vai trò là chủ thể quyền lực, nhà nước có trách nhiệm : “ Giải quyết
việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Bên
8

Điều 34 Luật Người khuyết tật năm 2010
Điều 3, Nghi định số 81/1995/NĐ-CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều Bộ Luật Lao động về lao động là người tàn tật.
9

17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các
dạng tật khác. Tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ. Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36%
bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động 11. Dự
báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm
môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam,
tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…Số lượng NKT rất nhiều tuy
nhiên vấn đề giải quyết việc làm cho đối tượng này hiện nay tuy gặp nhiều khó khăn. Để
10
11

Điều 125, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( sửa đổi năm 2007).
http://suckhoedoisong.vn/2012041705274634p61c67/nhieu-rao-can-thieu-chinh-sach.htm

8


thực hiện tốt vấn đề giải quyết việc làm cho NKT thì Đảng và nhà nước đã ban hành
những quy định pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện trên thực tế,
nhìn chung thì đã tương đối đủ, đặc biệt là đã có những quy định về việc làm đối với
NKTnhư đã ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là
NKT; đối với hoạt động tạo việc làm cho NKT phải đảm bảo bình đẳng trong tuyển dụng,
sử dụng, bố trí công việc, cải tạo cơ sở vật chất bảo đảm môi trường tiếp cận để NKT làm
công việc như những người bình thường khác ….Việc ban hành các văn bản điều chỉnh
vấn đề việc làm cho người khuyết tật đã góp phần không nhỏ vào những thành quả trong
công tác giải quyết việc làm cho NKT. Cụ thể:
Hiện nay, trên cả nước đã có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh có NKT. Qua thống
kê, cả nước hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thu hút trên 15.000 lao
động khuyết tật tham gia, trong đó Hội Người mù có 146 cơ sở với khoảng 4.000 lao
động. Các cơ sở này thường nhận lao động khuyết tật ở mọi hình thức sau đó phân loại,
hướng nghiệp dạy nghề, giải quyết việc làm cho họ. Ví dụ như HTX thủ công mỹ nghệ An

tại nhà máy cho các doanh nghiệp có quy mô từ vừa đến lớn tại 4 tỉnh, thành phố là Hà
Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên và Hải Dương với mục tiêu “Cơ hội cho mọi người”, tạo điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và NKT có được sự hợp tác và gắn kết. Qua đó,
doanh nghiệp có được những thông tin cần thiết để tuyển dụng người lao động là NKT.
Về phía NKT cũng chủ động hơn trong việc trau dồi kiến thức, kỹ năng chuyên môn để đủ
tự tin tham gia tuyển dụng vào làm việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu. Tại đây thì
nhiều doanh nghiệp đã tuyển chọn được lao động là NKT cho doanh nghiệp mình như
Công ty Cổ phần Hoa Lan là doanh nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh hóa mỹ phẩm,
chất diệt trùng, xà phòng thơm, bao bì carton... đã tuyển dụng được 3 người khuyết tật vào
làm việc tại xưởng đóng gói. Theo Chủ tịch Công đoàn công ty Hoàng Đình Duy thì
những người lao động khuyết tật được tuyển vào làm việc rất có trách nhiệm và đạt hiệu
quả lao động cao như những người lao động bình thường. Đây là bước khởi đầu khả quan,
mở ra một hướng mới cho các doanh nghiệp về kênh thông tin trong tuyển dụng lao động,
mặt khác, giúp người khuyết tật có được công việc ổn định để nuôi sống bản thân và gia
đình, xóa bỏ mặc cảm, tự ti, tạo thêm niềm tin vào cuộc sống. Chia sẻ cảm xúc của mình
khi được tuyển vào làm việc vào Công ty Ford Việt Nam đóng tại Hải Dương, chị Nguyễn
Thị Phượng một người bị khuyết tật cho biết: “ Tôi rất may mắn sau khi tốt nghiệp đại
học đã được tuyển dụng vào làm việc tại Công ty và gắn bó từ đó cho đến nay đã gần 10
năm. Đối với những người khuyết tật như chị, đó là sự may mắn và hạnh phúc, môi
trường làm việc rất thuận lợi, được đồng nghiệp chia sẻ, giúp đỡ, được lãnh đạo quan
tâm, tạo điều kiện để chị hoàn thành tốt công việc và có thu nhập ổn định. Mong sao,
những người khuyết tật khác cũng có được cơ hội được làm việc, được cống hiến, cộng
đồng có sự đồng cảm hơn đối với những người khuyết tật kém may mắn” 13.
2. Một số hạn chế.

12

http://www.nguoikhuyettat.org

13

mất việc, không có thu nhập và cũng chưa chuyển đổi nghề khác phù hợp. Đi lại bằng
giao thông công cộng thì xe buýt không tiếp cận được, thái độ phục vụ còn thờ ơ. Đến đi
lại bằng đường hàng không còn trường hợp bị từ chối phục vụ. Khó khăn trong đi lại đồng
nghĩa với khó khăn tìm kiếm việc làm .
Thứ hai, về phía cơ sở sản xuất, kinh doanh: Do NKT có những khiếm khuyết về thể
chất và tinh thần nên luật có những quy định nhằm bảo vệ sức khỏe cho họ như về thời
gian làm việc, về điều kiện làm việc….Nhìn ở khía cạnh nào đó thì nó bảo vệ NKT nhưng
trên thực tế những quy định này chính là rào cản đối với NKT bởi so với người bình
thường thì năng suất lao động của NKT thấp hơn nhưng người sử dụng lao động vẫn phải
trả mức lương như người bình thường, ngoài ra khi sử dụng lao động là NKT thì người sử
dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để tạo môi trường làm việc cho
11


NKT. Chính vì điều này mà các cơ sở sản xuất kinh doanh rất ít khi nhận lao động là
NKT. Trên thực tế việc làm dành cho NKT vẫn chủ yếu được tạo ra từ các cơ sở kinh
doanh dành riêng cho họ, tức là những cơ sở có trên 51% lao động là NKT hoặc trong các
tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện, rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổn
định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Thống kê năm 2008, đã có 15.000 lao
động là NKT làm việc ổn định trong 400 cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh và
NKT. Phần đông NKT là lao động tự do. Đặc biệt ở các vùng nông thôn, NKT chủ yếu
tham gia vào công việc nhà nông là chính. Một số ít tham gia buôn bán nhỏ..
Thứ ba, về phía người khuyết tật:. Bản thân NKT chưa đáp ứng được yêu cầu
tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời do tính chất sản xuất, kinh doanh các
doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm
của người khuyết tật, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề đặc thù
như luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác
khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải...Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TB & XH) năm 2001, có 97.64% NKT ở Việt Nam không
được đào tạo qua trường lớp chính thức, trong đó 1,22% đã có trình độ kỹ thuật đủ để
đáp ứng nhu cầu công việc, 0,53% mới tốt nghiệp từ những trường dạy nghề và chỉ có

được như mong đợi. Cùng với đó là bản thân NKT còn tự ti không mạnh dạn liên hệ
hoặc chủ động đề nghị giới thiệu, giúp đỡ. Anh Lê Quang Tuấn , sinh 1974, quê xã Hải
Yến, Tỉnh Gia, Thanh Hóa bước vào nghề ăn xin cách đây 5 năm với lý do phải tự nuôi
thân. Anh Tuấn cho rằng: "Học nghề thì cần phải có nhiều văn hóa. Mình học hết lớp 5,
người thì trông như thế này, làm gì có ai nhận dạy nghề, tạo việc làm cho "15. Bởi vậy,
anh Tuấn chưa từng nghĩ xem mình có thể làm việc gì bằng sức lao động chính đáng mà
tự cho mình chỉ có thể đi ăn xin. Điều đáng buồn là gia đình anh còn bố mẹ, anh chị
cũng ủng hộ việc anh đi ăn xin khắp nơi.
Các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật: Một biểu hiện cụ thể đấy
chính là quỹ việc làm cho người khuyết tật. Quỹ Việc làm cho người tàn tật dùng để hỗ
trợ cho cơ sở dạy nghề, cơ sở SXKD dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng nhà
xưởng, mua máy móc, thiết bị, duy trì dạy nghề và phát triển sản xuất. Các cơ quan
quản lý để đào tạo nâng cao năng lực đối với người làm công tác dạy nghề, tư vấn, giới
thiệu việc làm cho người khuyết tật cũng được hưởng từ nguồn quỹ này...Rất nhiều địa
phương đã lập quỹ việc làm, điển hình như Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả
nước thành lập được Quỹ Việc làm cho người tàn tật vào năm 2006 với tổng quỹ hiện
nay là hơn 10 tỷ đồng nhưng đến nay Quỹ vẫn chưa phát huy được hiệu quả như mong
muốn: cơ chế chi trả quỹ, hỗ trợ các dự án của các cơ sở có người khuyết tật chưa đồng
bộ, thống nhất, nhiều điểm còn chồng chéo. Bởi vậy không ít các dự án dạy nghề hoặc
việc làm rất có lợi cho người khuyết tật, phù hợp với đối tượng hỗ trợ của Quỹ nhưng
lại vướng ở khâu hồ sơ, thủ tục. Chính vì vậy, hiện nay Quỹ Việc làm cho người tàn tật
vẫn còn tồn đọng hơn 9 tỷ đồng.
Việc làm của người khuyết tật gắn liền với đào tạo nghề, tuy nhiên việc đào tạo nghề
cho người khuyết tật hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn. Một số trung tâm đào tạo nghề
như Trường đào tạo nghề cho người khuyết tật quận Kiến An, Trường khiếm thính (quận
Hải An), Trường nuôi dạy trẻ em khiếm thị (quận Ngô Quyền), điển hình có tỉnh chỉ có
một trung tâm đào tạo nghề cho người khuyết tật như Nghệ An ( Trung tâm dạy nghề
người tàn tật Nghệ An) trong khi tỉnh có 203.000 người khuyết tật các loại, trong đó có
15


+ Nên quy định thời giờ làm việc của NKT không quá 7 giờ/ngày để tạo điều kiện
cho những NKT có nhu cầu được làm việc như những người bình thường và người sử
dụng lao động không còn dè dặt trong tuyển chọn lao động là NKT . Bên cạnh đó, Nhà
nước tạo điều kiện cho NKT đạt được đầy đủ các trách nhiệm của họ như các thành viên
khác trong xã hội chẳng hạn tạo các cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo để nâng cao trình
độ chuyên môn của người tàn tật, cung cấp cho họ các phương tiện chuyên dùng, sáng chế
và cải tiến công cụ làm việc phù hợp với từng dạng tật, cải thiện điều kiện và môi trường
làm việc.
■ Nâng cao chất lượng lao động là NKT: : Để giải quyết việc làm cho người khuyết
tật không chỉ trông chờ vào các chính sách xã hội hay tình thương. Về phía người khuyết
tật cũng phải tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng chuyên môn, sẵn sàng đảm
14


đương được công việc của nhà tuyển dụng để khẳng định được mình là những người “tàn
mà không phế”. Xuất phát từ nguyên nhân khiến các doanh nghiệp không mặn mà nhận
người lao động khuyết tật bởi trình độ, hiểu biết của họ với công việc còn hạn chế, một số
doanh nghiệp nhận người lao động khuyết tật đã qua đào tạo ở các trường dạy nghề,
nhưng vẫn phải đào tạo lại tay nghề mới đáp ứng được công việc. Chính vì thế để người
khuyết tật có được công việc ổn định thì cần nâng cao trình độ nghề cho họ. Như vậy, việc
đào tạo nghề tại chỗ ngay tại doanh nghiệp, đồng thời giải quyết việc làm cho người
khuyết tật ngay tại doanh nghiệp là giải pháp tích cực, tiết kiệm chi phí phải đào tạo đi,
đào tạo lại, khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp gắn bó với người lao động.
Người lao động khuyết tật cũng phát huy cao hiệu quả lao động của mình phục vụ doanh
nghiệp. Bên cạnh đó thì có thể mở thêm các trung tâm đào tạo nghề cho người khuyết tật
để nâng cao tay nghề cho họ, chương trình việc làm cho người khuyết tật phải lồng ghép
vào các chương trình dạy nghề, chương trình việc làm. Mở các trung tâm tư vấn việc làm
cho người khuyết tật để họ có thể tìm được công việc phù hợp với thể lực của bản thân,
tăng cường gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nghề để giải quyết tốt hơn việc
làm cho người khuyết tật. Hằng năm thường xuyên tổ chức Hội thi tay nghề, ngày hội việc

C. KẾT LUẬN
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và Việt Nam vừa gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), yêu cầu về nguồn nhân lực có trình độ cao là rất lớn,
vấn đề tạo việc làm cho người lao động đang là mối quan tâm bức thiết của người dân nói
chung và người tàn tật nói riêng. Tạo việc làm cho người tàn tật, tạo điều kiện cho họ vượt
qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt động có ý
nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Có như vậy mới giải quyết được việc
làm cho NKT một cách có hiệu quả và đảm bảo tính ổn định, bền vững.

DANH MUC TAI LIÊU THAM KHAO

1. Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB,
Công an nhân dân năm 2011.
16


2. Luật người khuyết tật 2010
3. Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm 2012 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
năm 2010.
4. Nghi định số 81/1995/NĐ-CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ về quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Bộ Luật Lao động về lao động là người
tàn tật
5. Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006)
6. Bộ luật lao động Việt Nam 1994 (sửa đổi 2002, 2006, 2007)
7. Http:// www.chinhphu.vn
8. Http:// www.molisa.gov.vn
9. Http:// www.vietlaw.gov.vn
10. Http://www.nguoikhuyettat.org


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status