quản lý và sử dụng đất trồng lúa theo quy định của pháp luật và thực tiễn tại huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 36

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA –
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC
TIỄN TẠI HUYỆN PHÚ VANG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Họ và tên sinh viên: VƯƠNG THỊ VÂN ANH

1


Huế, 03/2016

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------

NIÊN LUẬN
KHÓA 37
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA –
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC
TIỄN TẠI HUYỆN PHÚ VANG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TH.S THÂN VĂN TÀI


Niên luận

SVTH: Vương Thị Vân Anh

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

4


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

MỤC LỤC

SVTH: Vương Thị Vân Anh

5


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần vô cùng quan trọng
của môi trường sống. Trong nông nghiệp đặc biệt ngành trồng lúa là tư liệu
sản xuất đặc biệt không thể thay thế, nguồn lực quyết định để người nông đân
tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong nhiều năm,

cơ bản có thể phát sinh, những mâu thuẫn có thể xảy ra nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người nông dân, có như vậy nhân dân mới yên tâm tiếp
tục sản xuất, không lo thất nghiệp. Làm tốt công tác quản lý sẽ giúp cho Nhà
nước củng cố chặt chẽ hơn toàn bộ đất nông nghiệp theo quy định của pháp
luật, xác lập mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng đất lúa. Tạo điều
kiện cho người dân có thể sử dụng đất lúa một cách ổn định nhất, đầy đủ và
đạt hiệu quả cao.
Từ cơ sở trên, vấn đề quản lý và sử dụng đất trồng lúa theo quy định của
pháp luật là vấn đề cần thiết cần phải tìm hiểu cả về lý luận và thực tiễn.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “ quản lý và sử dụng đất trồng lúa theo quy
định của pháp luật và thực tiễn tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”. Để
có thể nói rõ hơn tình hình quản lý Nhà nước trong những năm qua, cũng như
nguyên nhân, giải pháp để nâng cao công tác quản lý đất trồng lúa.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các nội dung về quản lý và sử dụng đất trồng lúa của Nhà
nước trong những năm qua, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành quản lý và sử
dụng đất trồng lúa., thực trạng áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Từ
đó tìm ra những bất cập, thiếu sót trong chính sách quản lý của Nhà nước,
những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề
quản lý đất trồng lúa tại huyện Phú Vang trong thời gian qua. Trên cơ sở đó
đưa ra một số kiến nghị, và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước tại huyện Phú Vang trong thời tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành
về quản lý và sử dụng đất trồng lúa.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề về quản lý và sử dụng đất trồng
lúa tại huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên Huế.
4. Phương pháp nghiên cứu
SVTH: Vương Thị Vân Anh


LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG LÚA
1.1.

Những quy định chung quản lý và sử dụng đất trồng
lúa

1.1.1. Khái niệm
Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm: “Quản lý nhà
nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện quyền bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai”.
Theo Luật Đất đai năm 2013 thì đất đai của cả nước được chia ra làm ba
nhóm là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa
sử dụng, trong nhóm đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hằng năm, lâm
nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản. Cách phân chia đã
tạo những điều kiện thuận lợi hơn trong việc quản lý đất đai của Nhà nước.
Đất trồng lúa thuộc vào nhóm đất nông nghiệp bao gồm đất chuyên trồng
lúa nước và đất trồng lúa khác: Đất chuyên trồng lúa nước là đất được trồng
từ hai vụ lúa nước trở lên trong năm, đất trồng lúa khác bao gồm đất trồng lúa
nước còn lại và đất trồng lúa nương, đất trồng lúa nước còn lại là đất chỉ phù
hợp trồng được một vụ lúa nước trong năm.
Từ những nhận định trên ta có thể rút ra khái niệm: Quản lý nhà nước về
đất trồng lúa là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện
những quy định của pháp luật để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa trên từng
địa bàn, kết hợp với các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối
lại quỹ đất theo quy hoạch, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát, điều tiết các nguồn
lợi từ đất đai xác lập chế độ pháp lý và nắm rõ hiện trạng về quản lý và sử
dụng trong đất trồng lúa ở từng địa phương trong cả nước.
Vai trò kinh tế xã hội của đất nông nghiệp
SVTH: Vương Thị Vân Anh


dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 của Chính phủ, hoạch định các chính
sách phát triển lâu dài trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp đất trồng lúa.
Thực hiện quyền quyết định và giám sát tối cao đối với việc quản lý và
sử dụng đất trồng lúa trong phạm vi cả nước.
Ủy ban thường vụ Quốc hội
SVTH: Vương Thị Vân Anh

10


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Là cơ quan thường trực của Quốc hội ra các nghị quyết quan trọng, ban
hành pháp lệnh và các quy định khác về đất nông nghiệp để Chính Phủ quyết
định một cách cụ thể.
Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương
Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất trồng lúa của địa phương mình trước khi đưa cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt, thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các
dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng đồng của địa phương
theo thẩm quyền quy định tại luật đất đai 2013, giám sát việc thi hành pháp
luật về đất nông nghiệp tại địa phương
Thông qua các nghị quyết, quyết định các vấn đề cụ thể, thực hiện chức
năng giám sát đối với cơ quan hành chính nhà nước trong quản lý đất đai
cũng như đất nông nghiệp, đất trồng lúa.
Phê chuẩn các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa của Ủy ban nhân
dân cùng cấp trước khi trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
1.1.2.2. Cơ quan hành chính nhà nước

Xây dựng trình Chính phủ để xem xét, trình Quốc hội quyết định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa trong cả nước. Thẩm định quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa vào mục đích quốc phòng,
an ninh của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trình Chính phủ xét duyệt.
Chỉ đạo việc thực hiện công tác điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân
hạng và lập bản đồ địa chính đất trồng lúa, hướng dẫn và tổng hợp số liệu
thống kê, kiểm kê, lập và quản lý hồ sơ địa chính.
Thống nhất quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất trồng lúa,
chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trồng lúa. Trình Chính phủ quyết định giao đất,
thu hồi đất trồng lúa trong các trường hợp thuộc thẩm quyền của Chính phủ.
Sở tài nguyên môi trường
Là cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước đất nông nghiệp ở tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiên
chức năng quản lý tài nguyên đất nông nghiệp, tài nguyên đất lúa, đo đạc bản
đồ trên địa bàn theo quy định của pháp luật đồng thời chịu sự lãnh đạo, quản
lý về tổ chức, biên chế, công tác của ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng, chịu sự
kiểm tra chuyên môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
SVTH: Vương Thị Vân Anh

12


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Sở tài nguyên môi trường giúp Ủy ban nhân nhân dân cấp tỉnh lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Xã, phường, thị trấn có công chức làm công tác địa chính theo quy định
của Luật cán bộ, công chức. Cán bộ địa chính cấp xã là người giúp ủy ban xã,
phường, thị trấn trong công tác quản lý đất trồng lúa, chịu sự lãnh đạo kiểm
tra của Sở tài nguyên và môi trường và cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban
nhân dân cấp huyện quản lý về đất nông nghiệp.
.Cán bộ địa chính cấp xã lập văn bản để Ủy ban nhân cấp xã trình Ủy
ban nhân dân cấp huyện về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa hằng
năm, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất trồng lúa, chuyển quyền sử dụng đất,
chuyển mục đích, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng lúa theo quy
định của pháp luật.
Trình Ủy ban nhân dân cấp xã kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện quy
hoạch kế hoạch sử dụng đất trồng lúa được xét duyệt và theo dõi kiểm tra việc
thực hiện.
Thẩm định, xác nhận hồ sơ để Ủy ban nhân cấp xã cho thuê đất, chuyển
đổi quyền sử dụng đất rồng lúa.
Thực hiện việc đăng ký, lập và quản lý hồ sơ địa chính, chỉnh lý hồ sơ
địa chính, thống kê, kiểm kê đất trồng lúa.
1.1.3. Nội dung quản lý và sử dụng đất của nhà nước về đất trồng lúa.
Khảo sát, đo dạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
Để nắm số lượng, chất lượng đất nông nghiệp, Nhà nước phải tiến hành
điều tra, khảo sát đo đạc để nắm được quỹ đất trồng lúa. Bản đồ địa chính là
bản đồ phản ánh hiện trạng sử dụng đất, trên đó thể hiện những nội dung chi
tiết về diện tích, kích thước, hình thể vị trí, tọa độ và có cả các yếu tố xã hội.
Đây là nguồn tài liệu quan trọng để từ đó thực hiện những nhiệm vụ khác như

Giao đất, cho thuê, chuyển mục đích trồng lúa là một nội dung của quản
lý nhà nước với đất đai,là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
chuyển giao trên thực tế về quyền sử dụng đất cho các tổ chức và hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất. Căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển
mục đích sử dụng đất trồng lúa phải phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hằng
năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với chủ đầu tư xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
trồng lúa phải có năng lực tài chính, có ký quỹ, không vi phạm pháp luật
nhằm khắc phục tình trạng nhiều địa phương đã giao đất mà không sử dụng
đất, chậm đưa đất vào sử dụng, dẫn đến lãng phí, gây bức xúc trong nhân dân.
SVTH: Vương Thị Vân Anh

15


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Thu hồi đất.
Thu hồi đất là biện pháp pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền sở hữu
toàn dân với đất đai mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu. Một trong
những nguyên tắc quan trọng quy định đối với việc sử dụng đất là phải sử dụng
tiết kiệm, có hiệu quả và đúng mục đích. Trong trường hợp người sử dụng đất sử
dụng không đúng theo yêu cầu của nhà nước thì có thể bị thu hồi đất.
Khi chuyển đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, nếu
chủ đầu tư không thực hiện dự án, thực hiện dự án không đúng tiến độ để đất
hoang hóa sẽ bị thu hồi đất do vi phạm quy định của pháp luật về đất đai. Ngoài
ra đất trồng lúa còn bị thu hồi trong những trường hợp sau: Vì mục đích quốc
phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, đất để sử dụng vào mục đích công

dụng, tiền thuê đất đối với người sử dụng đất nông nghiệp không chỉ nhằm
mục đích bảo vệ đất trồng lúa, mà còn hướng tới bảo đảm chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước.
Trong quá trình sử dụng đất trồng lúa người sử dụng đất phải thực hiện
các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế sử dụng đất nông
nghiệp đối với đất dùng vào sản xuất nông nghiệp, tiền xử lý vi phạm pháp
luật đất đai, tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong
quản lý và sử dụng đất.
Bên cạnh đó nhà nước cũng miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
đối với tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trồng lúa được Nhà nước
giao trong hạn mức giao đất nông nghiệp để sản xuất, đất được thừa kế, cho
tặng, nhận chuyển quyền sử dụng mà trong hạn mức cũng được Nhà nước áp
dụng chính sách này.
Giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ tính tiền thuê đất đối với đất
nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân. Giá của loại đất trồng lúa tính
theo Bảng giá đất đang được áp dụng tại thời điểm chuyển mục đích sử dụng
đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành. Cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm kê khai số tiền bảo
vệ, phát triển đất trồng lúa phải nộp, tương ứng với diện tích đất chuyên trồng
lúa nước được Nhà nước giao, cho thuê.
1.2.

Những vấn đề pháp luật về quản lý và sử dụng đất
trồng lúa

SVTH: Vương Thị Vân Anh

17




3.

không được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích phi
nông nghiệp từ đất chuyên trồng lúa nước phải nộp một khoản tiền để Nhà
nước bổ sung diện tích đất trồng lúa bị mất hoặc tăng hiệu quả sử dụng đất
trồng lúa theo quy định của Chính Phủ.
Để khắc phục tình trạng nhiều dự án đầu tư sau khi được giao đất, cho
thuê đất nhưng không sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí đất
đai tại địa phương. Thì luật đất đai năm 2013 đã đưa những điều kiện để kiểm
SVTH: Vương Thị Vân Anh

18


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

soát chặt chẽ hơn, các cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đảm bảo an ninh, quốc
phòng, bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa, đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia và bảo vệ môi trường sinh thái. Quy định của pháp luật hiện hành về điều
kiện chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa có mở hơn. Căn cứ khoản 1 điều
58 Luật đất Đai năm 2013 quy định:
Đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc
dụng vào mục đích khác mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyết
định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà
nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất cho thuê đât, cho phép


GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công
nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử
dụng đất không đúng mục dích mà tiếp tục vi phạm.

b)

Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất.

c)

Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoạc không đúng thẩm quyền.

d)

Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà
nhận chuyển nhượng nhận tặng cho.
đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn chiếm.

e)

Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luậy này mà để
bị lấn chiếm.

g)

Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử
phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành.


trồng lúa được hỗ trợ, xác định theo số liệu thống kê đất đai của các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố
của năm liền kề trước năm phân bổ ngân sách.
Theo điều 7, điều 8 nghị định 35/2015/NĐ-CP Nhà nước đã có những
chính sách hỗ trợ và bảo vệ đất trồng lúa trong phạm vi cả nước.
Nhà nước thực hiện hỗ trợ với mức cố định đối với tất cả hộ gia đình, cá
nhân trên toàn quốc với mức 10.000.000 đồng/ha đất trồng lúa được khai
hoang, cải tạo (trừ đất trồng lúa nương được khai hoang từ đất chưa sử dụng
hoặc phục hóa từ đất bỏ hóa) để phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 9 luật
đất đai 2013 là “ nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu
tư lao động, vật tư tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào
khai hoang, phục hóa, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có
mặt nước hoang hóa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” . Và
5.000.000 đồng/ha đất chuyên trồng lúa nước được cải tạo từ đất trồng lúa
nước một vụ hoặc đất trông cây khác, để phù hợp với quy định tại khoản 2
điều 165 là “ khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư để đưa đất
chưa sử dụng vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ”.
Đối với các chính quyền địa phương điều đẩy mạnh phát triển công
nghiệp hóa, chuyển không ít diện tích đất nông nghiệp nói chung đất trồng lúa
nói riêng để phục vụ nhu cầu này. Do đó Nhà nước quy định một số chính
sách tài chính đối với địa phương sau đây:
Ngân sách nhà nước hỗ trợ chi đầu tư và chi thường xuyên của địa
phương với mức 1.000.000 đồng/ha/năm đối với đất chuyên trồng lúa nước và
500.000 đồng/ha/năm đối với đất trồng lúa khác, trừ đất lúa nương được mở
rộng tự phát không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng lúa. Địa
phương được hỗ trợ theo diện tích đất trồng lúa của mình. Nhưng chỉ các địa
phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương và tỉnh Quảng Ngãi
được hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách trung ương, các địa phương điều tiết

Khí hậu.
Phú Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm của vùng
ven biển, có hai mùa mưa, nắng rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 8 năm trước đến
tháng giêng năm sau, lượng mưa hàng năm khá lớn, trung bình khoảng
3.000mm. Mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu vào các
tháng 9,10,11 và 12 chiếm 75-80% lượng mưa cả năm, gây úng lụt ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp, trồng lúa, khai thác thủy sản, cũng như đời sống
của nhân dân.
SVTH: Vương Thị Vân Anh

22


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Mùa nắng gió Tây-Nam khô nóng oi bức, bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8,
lượng bốc hơi cao nhất là từ tháng 2 đến tháng 4 (lúc nước thủy triều thấp)
gây khó khăn việc cung cấp nước cho trồng lúa, làm cho đất ngập mặn

SVTH: Vương Thị Vân Anh

23


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài


24


Niên luận

GVHD: Th.S Thân Văn Tài

Theo số liệu kiểm kê đất nông nghiệp năm 2014, tổng diện tích đất nông
nghiệp của huyện Phú Vang là 13.500,15 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa
7.461,67 chiếm 55,27% diện tích đất nông nghiệp. Trong quá trình sử dụng
đất nông nghiệp năm 2014 phân theo đơn vị hành chính của huyện, diện tích
trồng lúa lớn nhất là ở xã Phú Lương với 1.156,39 ha chiếm 15,49% so với
tổng diện tích đất trồng lúa và xã Phú Thuận là xã duy nhất ở huyện không có
diện tích đất trồng lúa, ở đây người dân sử dụng đất chủ yếu vào việc nuôi
trồng thủy hải sản..
Bảng 2.1: Thống kê, kiểm kê diện tích đất trồng lúa
phân theo đơn vị hành chính
( Đến ngày 31/12/2014)
Đơn vị tính diện tích: ha
TT
1

Tên đơn vị
Huyện Phú Vang

Diện tích (ha)
7.461,67

Cơ cấu %
100


4,88

6

Xã Phú Thuận

7

Xã Phú Thượng

177,74

2,38

8

Xã Phú Mỹ

519,77

6,97

9

Xã Phú An

236,22

3,17


Xã Phú Lương

1156,39

15,49

15

Thị trấn Phú Đa

889,80

11,92

16

Xã Vinh Xuân

208,71

2,79

17

Xã Vinh Thanh

81,32

1,09


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status