MỞ ĐẦU
Dân tộc và giải quyết mối quan hệ dân tộc, sắc tộc là một trong những vấn
đề chiến lược vừa mang tính cấp bách trước mắt, vừa mang vấn đề cơ bản lâu dài
và được đặt ra trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia ở tất cả các châu lục
với quy mô, tính chất và mức độ, hình thức khác nhau. Trong đó, lợi ích dân tộc
trở thành tiêu chí quan trọng nhất trong quan hệ dân tộc và là nguồn gốc nảy sinh
những mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc, giữa các quốc gia, dân tộc. Cho nên,
Đảng ta đã chỉ rõ một trong những đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay là: “Đấu
tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt” 1. Và dự báo “trong
một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới. Nhưng chiến tranh
cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt
động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày
càng tăng”2. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định “Vấn đề dân
tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng
nước ta”3. Điều đó phản ánh mối quan hệ giữa các dân tộc, sắc tộc trên thế giới nói
chung và ở Việt Nam nói riêng hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp, nhanh
chóng và khó lường. Do vậy, việc nghiên cứu, hiểu rõ tình hình, thực trạng, nguyên
nhân, hậu quả của những mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới và ở
nước ta hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nhận thức đặc điểm xu
thế thời đại, xác định quan điểm chính sách dân tộc, đối ngoại nhằm thực hiện mục
tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
NỘI DUNG
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H. 2001, tr. 5.
Sđd, tr. 66.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H. 2006, tr. 121.
2
nhau ngự trị khắp nơi. Hầu hết các cuộc chiến tranh nói trên đều bắt đầu từ vấn đề
dân tộc hoặc có liên quan đến vấn đề dân tộc. Nhiều cuộc chiến tranh có nguy cơ
bị kéo dài trong khi nhiều nguy cơ xung đột mới đang đe dọa hàng triệu dân lành.
Có thể nêu một số điểm nóng tại các khu vực của thế giới trong giai đoạn gần đây.
Trong quá trình tộc người trong lịch sử luôn diễn ra theo hai xu hướng: hợp
nhất và phân ly, phân tách - là hai xu hướng khách quan. Tùy từng giai đoạn lịch
sử, với những điều kiện lịch sử, xã hội và tự nhiên nhất định mà xu hướng nào nổi
trội. Theo đó, trong hai thập kỷ trở lại đây, xu hướng phân tách đang trở thành một
trào lưu khá rộng khắp. Nhiều quốc gia bị xé lẻ, chia nhỏ, nhiều quốc mới được
hình thành: Liên Xô (cũ) bị chia tách ra làm 15 quốc gia độc lập có chủ quyền;
Nam Tư từ 6 nước cộng hòa, qua chiến tranh “huynh đệ tương tàn” gần một thập
kỷ, nay chỉ còn 2 nước cộng hòa Xecbia và Môngtênêgrô; trong đó Môngtênêgrô
và tỉnh Côsôvô của Xecbia đang tiếp tục đòi tách ra; Tiệp Khắc chia tách làm 2
nước là Séc và Slôvakia; Đông Timo tách ra khỏi Inđônêxia và chính thức trở
thành thành viên thứ 189 của Liên Hợp Quốc tháng 5/2002… đã chứng tỏ xu
hướng hợp nhất, hay tách ra của các quốc gia dân tộc là trào lưu khá mạnh mẽ.
Cùng với đó, thế giới cũng đang chứng kiến hiện tượng “phục hưng” tộc
người mạnh mẽ. Ý thức tộc người, dân tộc được thức tỉnh và đi đến đấu tranh đòi
các quyền dân tộc, đề cao độc lập tự chủ, tự quyết, tự cường, chống lại sự can thiệp
áp đặt từ bên ngoài. Đây là một xu thế trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia dân
tộc hiện nay. Như Đảng ta nhận định: “Các quốc gia độc lập ngày càng tăng
cường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển của
mình”4. Tuy nhiên, phong trào ly khai, đòi tự trị, “chủ quyền”, “độc lập” diễn ra ở
khắp các châu lục đã gây ra các cuộc xung đột đẫm máu rất thảm khốc, kéo dài dai
dẳng. Đây là biểu hiện của mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới
đang có chiều hướng gia tăng, trở nên hết sức nóng bỏng. Mâu thuẫn xung đột dân
tộc, sắc tộc diễn ra khắp thế giới không phụ thuộc vào khu vực địa lý, thể chế
4
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, H. 2001, tr. 65.
đang bị các thế lực bên ngoài lợi dụng, can thiệp làm tăng thêm mâu thuẫn, xung
đột…
Những đặc điểm trên là những cơ sở cho chúng ta thấy quan hệ dân tộc, sắc
tộc trên thế giới là vấn đề rất nóng bỏng, phức tạp, nhức nhối của nhiều quốc gia,
khu vực. Mối quan hệ dân tộc, sắc tộc đã và đang bùng nổ thành các cuộc xung
đột, chiến tranh cục bộ, khu vực ở những quy mô, phạm vi, cường độ, tính chất,
mức độ khác nhau, tạo ra rất nhiều điểm nóng trên thế giới, làm cho tình hình an
ninh, hòa bình thế giới bất ổn định có tác động ảnh hưởng tới tất cả các quốc gia,
dân tộc trên thế giới.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, muốn xóa bỏ một sự vật, hiện tượng thì
phải xóa bỏ nguyên nhân sinh ra nó. Theo đó, muốn giải quyết triệt để tình trạng
xung đột dân tộc trên thế giới hiện nay phải tìm hiểu và triệt tiêu nguyên nhân sinh
ra nó.
2. Một số quan điểm về nguyên nhân xung đột dân tộc hiện nay
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguyên nhân của xung đột
dân tộc, trong đó có một số quan điểm không chính thống của các nhà tâm lý học
đáng chú ý là:
Mac Duyal thì cho rằng: sự xâm kích không phải là phản ứng có kích thích
mà là do ở trong cơ thể con người luôn có xung động có tính bản năng. Do vậy, nó
tạo nên đặc tính xâm kích của con người dẫn đến các cuộc xung đột giữa các dân
tộc là bản năng của con người.
Freud lại cho rằng: nguyên nhân chiến tranh trong lịch sử nhân loại là do
sự thù địch giữa các nhóm là tất yếu và luôn luôn tồn tại xung đột lợi ích giữa các
dân tộc. Xung đột này chỉ được giải quyết bằng con đường bạo lực. Quan điểm của
Freud mang tính cực đoan.
Lorens thì cho rằng: hành vi của con người trong chiến tranh hay trong
phạm tội là hậu quả của tính bạo lực bẩm sinh của con người. Nếu như ở động vật,
sự hung bạo nhằm bảo tồn nòi giống thì đối với con người, xâm kích nhằm bảo vệ
Bốn là, hầu như tất cả các xung đột sắc tộc đó đều chứa đựng các lợi ích
của cả nước trực tiếp tham gia và cả những nước đứng ngoài. Trong các cuộc
xũng đột, không ít những phần tử bên ngoài muốn “đục nước béo cò” để kiếm
chác. Nhiều khi các lực lượng đế quốc núp danh “việc thiện” để làm “điều ác”.
Năm là, chính chủ nghĩa đế quốc, những kẻ lái súng, trong không ít trường
hợp đã “đổ thêm dầu vào lửa”. Để bán được nhiều vũ khí, nhưng tên lái súng của
thế giới hiện đại không bao giờ muốn một thế giới thanh bình. Ngoài miệng thì
chúng rêu rao “hòa bình”, nhưng thực chất bên trong lại xúi bẩy, tiếp tay hoặc tìm
mọi cách gây mất ổn định để có cớ kiếm chác.
Sáu là, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã có
tác động rất lớn đến vấn đề dân tộc. Gần hai thập kỷ sau khi Liên Xô tan rã, vấn đề
dân tộc ở các nước thuộc Liên Xô trước đây bùng lên tại nhiều nơi. Điều này
chứng tỏ rằng, chính phủ chủ nghĩa xã hội đã giải quyết rất thành công vấn đề dân
tộc. Rằng dưới thể chế xã hội chủ nghĩa, nếu thực hiện đúng nguyên lý của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc thì các dân tộc, các bộ tộc, các tôn giáo, các
màu da đều có thể sống chung hòa thuận bên nhau trong tòa nhà xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, sau khi “chiến tranh lạnh” kết thúc, ảnh hưởng của nhân tố dân
tộc, nhân tố tôn giáo trong môi trường quốc tế ngày càng tăng lên với trào lưu tư
tưởng và hoạt động của chủ nghĩa dân tộc sôi động ở một số khu vực. Các thế lực
ly khai, cực đoan tôn giáo và khủng bố cấu kết, lợi dụng nhau, càng làm cho vấn đề
dân tộc, mâu thuẫn dân tộc có cục diện ngày càng phức tạp. Trong những năm gần
đây, trên thế giới đã xảy ra nhiều cuộc xung đột sắc tộc cướp đi sinh mạng hàng
triệu người ở các quốc gia trên thế giới.
Những quan điểm trên chưa phản ánh đúng đắn, toàn diện nguyên nhân
khách quan và chủ quan dẫn đến các cuộc xung đột dân tộc đã xảy ra trong lịch sử,
nhất là trong lịch sử đương đại. Đứng vững trên lập trường, quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin và của Đảng ta, đồng thời kế thừa có phê phán những quan điểm
trên, chúng ta có thể nêu một số nguyên nhân chủ yếu của những cuộc xung đột sắc
Hai là, nguyên nhân từ chủ nghĩa dân tộc
Chủ nghĩa dân tộc là dự trên sự khẳng định, tuyệt đối hóa tính biệt lập, đặc
thù của mỗi dân tộc,đề cao dân tộc mình, phủ nhận hoặc xem thường dân tộc khác.
Chủ nghĩa dân tộc biểu hiện dưới hai hình thức: chủ nghĩa sôvanh nước lớn của
dân tộc thống trị mà đặc điểm của nó là miệt thị các dân tộc khác và chủ nghĩa dân
tộc hẹp hòi, bế quan tỏa cảng, ngờ vực dân tộc khác.
Chủ nghĩa dân tộc lớn, chủ nghĩa sôvanh không chỉ xuất hiện ở các dân tộc
đi thống trị, áp bức dân tộc khác, mà ngay ở một quốc gia, tư tưởng dân tộc lớn có
thể xuất hiện ở dân tộc (tộc người) đa số, có trình độ phát triển cao hơn, thường là
dân tộc nòng cốt, đại diện trong nước đó. Biểu hiện của nó là sự thiếu tôn trọng
hoặc đối xử thiếu bình đẳng với các dân tộc thiểu số có trình độ phát triển thấp
hơn.
Tư tưởng dân tộc lớn trong một quốc gia đa dân tộc làm tổn thương đến
tình đoàn kết trong cộng đồng dân tộc, vi phạm quyền bình đẳng dân tộc, làm nảy
sinh những mâu thuẫn, những xích mích giữa các dân tộc này với các dân tộc khác,
nhất là giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, là nguy cơ dẫn đến xung đột dân
tộc. Ở một thái cực khác, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi có xu hướng khép kín, đóng
cửa, biệt lập, dẫn đến sự bài xích một cách mù quáng, không muốn tiếp thu những
tinh hoa văn hóa, những mặt tích của dân tộc khác. Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng
làm cản trở bước tiến của các dân tộc. Có nhiều dân tộc nhỏ yếu, dùng tư tưởng
hẹp hòi như một lá chắn, ngăn chặn ảnh hưởng từ dân tộc khác…
Ba là, vấn đề dân tộc chưa được giải quyết chưa đúng đắn
Trong một quốc gia đa dân tộc, nếu như mối quan hệ giữa các dân tộc, lợi
ích dân tộc không được giải quyết đúng đắn thì dễ phát sinh mâu thuẫn và có thể
dẫn đến xung đột kéo dài.
Trong xã hội có gia cấp đối kháng thì tất yếu có sự áp bức, bóc lột giữ các
dân tộc. Ph. Ăngghen viết, một dân tộc đi áp bức, bóc lột dân tộc khác thì dân tộc
đó không có tụ do, bởi vì một thiểu số bóc lột của dân tộc đó đang áp bức, bóc lột
Như vậy, sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sự
giải quyết chưa thỏa đáng vấn đề dân tộc trong một quốc gia, sự can thiệp của các
nước đế quốc vào công việc nội bộ của các nước khác là nguyên nhân dẫn đến mâu
thuẫn, xung đột giữa các dân tộc trên thế giới đang tăng lên. Sự thức tỉnh của ý
thức dân tộc và đấu tranh giành quyền bình đẳng, xây dựng quan hệ hợp tác, hữu
nghị giữa các dân tộc là nhằm thủ tiêu vĩnh viễn sự áp bức dân tộc trên thế giới.
Xét đến cùng, mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc bao giờ cũng xuất phát và
mang nội dung lợi ích giai cấp và dân tộc, bị kích động bởi chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, dân tộc sô vanh, dân tộc ly khai, dân tộc hẹp hòi, phân biệt chủng tộc… Do
vậy, chỉ có đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp công nhân mới nhận thức
và giải quyết một cách đúng đắn vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc, sắc tộc, mới
xóa bỏ tận gốc những mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc.
Như vậy, các cuộc xung đột dân tộc trên thế giới xảy ra cố nhiên có nhiều
nguyên nhân, song những nguyên nhân được chỉ ra ở trên là những nguyên nhân cơ
bản nhất, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động và thâm nhập vào nhau
làm cho các cuộc xung đột dân tộc trở nên gay go, phức tạp, diễn biến khó lường. Xét
trên một bình diện chung, những xung đột dân tộc nảy sinh là do mâu thuẫn về lợi ích.
Trong một quốc gia đa dân tộc, nhất là các quốc gia phát triển theo con đường tư bản
chủ nghĩa, các dân tộc lớn thông qua đại biểu của mình, giữ vị trí thống trị trong cơ
cấu quyền lực, dẫn đến chi phối nhất định về phân phối của cải vật chất, ban hành các
quy chế pháp lý có lợi cho mình, làm các dân tộc thiểu số bị thiệt thòi buộc họ phải
đứng lên đấu tranh đòi lại những quyền lợi. Bên cạnh đó, ở nhiều quốc gia, xung đột
giữa các dân tộc là do những vấn đề về lịch sử và âm mưu của chủ nghĩa đế quốc mới.
Với học thuyết “một quốc gia, một dân tộc”, chúng gây ra chia rẽ, xung đột, kích
động chủ nghĩa ly khai, mục đích tạo ra các cuộc chiến tranh giúp chúng được hưởng
lợi ích từ những xung đột, mâu thuẫn đó.
3. Một số biện pháp nhằm giải quyết có hiệu quả xung đột dân tộc trên
thế giới hiện nay
tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.
Hai là, các dân tộc được quyền tự quyết
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh
dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát
triển của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị
tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc (chứ
không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và cũng bao gồm quyền
tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có đủ
sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có
thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc.
Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập
trường của giai cấp công nhân. Triệt để ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ phù
hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên
quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế quốc và phản
động lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của
các nước, giúp đỡ các thế lực phản động dân tộc chủ nghĩa (sôvanh, hẹp hòi) đàn
áp các lực lượng tiến bộ, đòi ly khai và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới,
chủ nghĩa tư bản.
Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Liên hiệp công nhân của tất cả các dân tộc là tư tưởng cơ bản trong cương
lĩnh dân tộc của các đảng cộng sản: nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào
công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải
phóng giai cấp. Nó bảo đảm cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng
lợi.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu hướng tới; quy
định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết,
quyền bình đẳng dân tộc. Đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp
công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí
sống vật chất, tinh thần của các dân tộc và những thiếu sót trong thực hiện chính
sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm nhất để các
thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Đối với nước ta, mục tiêu của các
thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại là chia rẽ dân tộc, nhất là chia rẽ đồng bào
các dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh, kích động ly khai, tự trị, làm suy yếu, đi
đến thôn tính nền độc lập của nhân dân ta. Chia rẽ các dân tộc với Đảng, Nhà nước
và chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân. Chúng đưa ra luận điệu - công thức
“một dân tộc - một quốc gia” để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng li
khai dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Thời gian qua, chúng tiến hành nhiều hoạt động, như: nhen nhóm, khuấy động,
thổi bùng cái gọi là “quyền tự trị” của các dân tộc để yêu sách thành lập cái gọi là
“Nhà nước Đềga” của người Thượng ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer Krôm” ở
Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Vương quốc Chăm pa” ở Nam
Trung Bộ. Chúng tạo sự đối lập giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số để kích
động đồng bào dân tộc chống chính quyền, mất lòng tin đối với Đảng, đối với Nhà
nước.
Để thực hiện âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch
đã và đang tiến hành nhiều phương thức, thủ đoạn. Trước đây, chúng thường hoạt
động bí mật, lén lút, ta khó phát hiện, nay chuyển sang phương thức mới, núp dưới
chiêu bài “dân tộc, dân chủ, nhân quyền”, vừa bí mật, vừa “công khai hóa, quốc
tế hóa”, kêu gọi bên ngoài can thiệp, gắn vấn đề dân tộc với tôn giáo, tăng cường
phát triển giả đạo Tin Lành ở các vùng dân tộc thiểu số để tập hợp quần chúng tín
đồ. Hoạt động ở từng dân tộc, từng vùng dân tộc có khác nhau, thay đổi tùy theo
tình hình, khả năng, nhưng nổi lên trong giai đoạn hiện nay là chúng triệt để lợi
dụng những điều kiện mới của thế giới, trong nước để đẩy mạnh các hoạt động
chống phá bằng “diễn biến hòa bình”, khi có thời cơ, điều kiện thì hoạt động bạo
loạn chính trị. ý đồ của chúng là kết hợp tổ chức lực lượng từ bên ngoài với tạo
dựng lực lượng ở bên trong, phối hợp cấu kết trực tiếp, chặt chẽ, thường xuyên.
tộc hẹp hòi phục hồi và phát triển mà đỉnh cao là sự bùng nổ trào lưu ly khai, tự trị
và các cuộc xung đột vũ trang. Lợi dụng ngay điều đó, các thế lực thù địch quốc tế
đứng đầu là Mỹ đã triệt để lợi dụng và khai thác vấn đề dân tộc để thực hiện ý đồ
toàn cầu hoá chính trị của mình. Cụ thể khi chiến tranh lạnh kết thúc, những người
cầm đầu nhà trắng đưa ra hàng loạt các chiến lược và thực thi “Diễn biến hoà
bình”, thực hiện ý tưởng đóng vai trò đứng đầu thế giới, xây dựng một nền kinh tế
thị trường tư bản thuần khiết, xây dựng một định chế dân chủ kiểu Mỹ trên toàn
cầu, xoá bỏ các quốc gia cộng sản, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt Hoa Kỳ khoét
sâu góc độ nhân quyền trong vấn đề dân tộc, coi đây là một cửa đột phá quan trọng
để thực hiện mưu đồ của mình.
“Chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ XXI” của Mỹ (tháng 1 năm
2000) đã xác định: “Xung đột sắc tộc… là thách thức lớn lao đối với các giá trị
về an ninh của Mỹ”. Đây là một “hình thức vi phạm nhân quyền” mà Mỹ có
thể “hành động quân sự tập thể” và dùng “áp lực đồng thời kinh tế - chính trị
kết hợp với ngoại giao” để chặn đứng ở bất cứ quốc gia nào. Đối với Việt
Nam, Mỹ xác định “cũng không làm ngơ” trước những “người miền núi anh
em” (dân tộc thiểu số) đã từng “giúp đỡ Mỹ” trong chiến tranh ở Việt Nam và
Đông Dương trước đây. Các “Báo cáo tình hình nhân quyền” hàng năm, mới
đây nhất là “Báo có tình hình nhân quyền năm 2010” do Bộ Ngoại giao Mỹ
công bố đã xuyên tạc, bóp méo sự thật về vấn đề dân tộc, tôn giáo của nhiều
quốc gia, trong đó trắng trợ vu cáo Việt Nam “không có nhân quyền”, “đối xử
không bình đẳng với các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, vu cáo “Việt Nam đàn
áp dân tộc, tôn giáo”. Thâm độc hơn chính quyền Mỹ còn hỗ trợ cho các lực
lượng phản động người dân tộc thiểu số Việt Nam sống lưu vong ở nước ngoài
mà tập trung ở Mỹ, Pháp, Canađa để chống phá Nhà nước Việt Nam.
Chính quyền Mỹ thường xuyên đẩy mạnh hoạt động gây ảnh hưởng trong
cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam ở Mỹ thông qua các hoạt động văn hoá,
xã hội, tôn giáo. Nước Mỹ là nơi tổ chức các cuộc gặp gỡ, lễ hội mang tính quốc tế
gửi thư về chỉ đạo, kích động đồng bào ở Tây Nguyên; lừa phỉnh, dụ dỗ một số
người tiếp tục vượt biên trái phép sang Campuchia để đi Mỹ với chiêu bài được
“hưởng cuộc sống sung sướng”...
Với thủ đoạn vừa chia rẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong dân tộc thiểu số,
vừa âm mưu quốc tế hoá để can thiệp vào vấn đề dân tộc ở nước ta, chúng đã triệt
để lợi dụng những vấn đề phức tạp do lịch sử để lại nhằm khởi dậy những mâu
thuẫn, hận thù dân tộc, kích động tư tưởng đòi tự trị đồng thời lợi dụng những
thiếu sót của Nhà nước ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc cùng những khó
khăn trong đời sống hiện tại của đồng bào dân tộc thiểu số để xuyên tạc, gây hoài
nghi, làm mất lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước. Bằng nhiều con đường
khác nhau các thế lực thù địch chống Việt Nam tìm mọi cách nâng đỡ, tung hô
những kẻ mang tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai; lôi kéo những người có ảnh
hưởng trong đồng bào dân tộc để nắm quần chúng, tạo dựng “ngọn cờ”. Trước đây
trong chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ lựa chọn trong tầng lớp trên, thì nay họ lại tập
trung vào số người có uy tín là trí thức do cách mạng đào tạo. Đó là nét mới đáng
lưu ý.
Nham hiểm hơn, các thế lực thù địch bằng phương thức tạo ra các xu
hướng và lực lượng đối lập từ bên trong, làm điểm tựa để hỗ trợ đẩy mạnh hoạt
động chống phá. Mặt khác chúng còn sử dụng khả năng quốc tế hoá vấn đề dân tộc
để chống phá Việt Nam ở mức độ khác nhau như vấn đề Fulro ở Tây Nguyên với
“Nhà nước Đề-ga”; vấn đề Khmer Nam Bộ, vấn đề người Mông. Từ đó cho thấy
trong vấn đề dân tộc, sự câu kết giữa bọn phản động trong nước và ngoài nước
ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, chặt chẽ và tinh vi hơn, thích ứng với tình hình
mới. Phân tích vấn đề “Nhà nước Đềga” ở Tây Nguyên ta càng thấy rõ điều đó.
Chính sách “chia để trị” nằm trong âm mưu thôn tính Việt Nam của thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ; ý đồ thành lập “Tây Nguyên tự trị” được chúng thực thi triệt để.
Ngày 20/9/1964 lực lượng quân sự Fulro ra đời để phục vụ cho mưu đồ này.
Sau đại thắng mùa xuân 1975, ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
Mỹ, EU, UNHCR và một số nước phương Tây cử hàng chục đoàn đến các vùng
dân tộc với mục đích tìm hiểu tình hình, tạo cớ để đánh giá sai lệch về tình hình
dân tộc, tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời lồng ghép ý đồ chỉ đạo,
kích động gây rối. Sau các chuyến đi đều có báo cáo đánh giá rất tiêu cực về tình
hình cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
Toàn bộ những âm mưu và thủ đoạn nham hiểm, vừa trắng trợn, vừa tinh vi
xảo quyệt đó đã, đang và sẽ làm cho tình hình dân tộc và công tác dân tộc ở nước
ta nói chung và cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu và hành động của các thế lực thù
địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam nói riêng ngày càng trở
nên khó khăn, phức tạp hơn.
4.2. Đấu tranh làm thất bại âm mưu và hành động của các thế lực thù địch lợi
dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam
Đây là vấn đề khó khăn, phức tạp và lâu dài, vì phải giải quyết tận gốc rễ của
một vấn đề rất nhạy cảm - vấn đề dân tộc; do đó, phải có một đường lối chiến lược và
một hệ thống chính sách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để giải
quyết hiệu quả vấn đề dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa. Để giải quyết tốt vấn đề này một mặt, trên cơ sở vận dụng đúng đắn
quan điểm của Lê-nin về quyền tự quyết của các dân tộc trong hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của thế giới đương đại (như đã nêu ở trên); mặt khác, để đấu tranh làm thất bại
âm mưu và hành động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá
cách mạng Việt Nam hiện nay cần thực hiện tốt một số dung chủ yếu sau:
4.2.1. Xử lý mối quan hệ dân tộc từ góc độ lợi ích các dân tộc
Trước âm mưu thâm độc lợi dụng vấn đề dân tộc của chính quyền Mỹ và
các thế lực thù địch quốc tế, các quốc gia đều rất cảnh giác. Với nước ta, Đảng và
Nhà nước đã thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc của một quốc gia
có 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số. Tạo sự bình đẳng, đoàn kết tương
trợ, giúp nhau cùng phát triển. Tập trung đầu tư phát triển vùng miền núi, dân tộc,
tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ tri thức người dân tộc, góp phần quan trọng
chính sách hỗ trợ các dân tộc thiểu số khó khăn. Giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi
ích giữa các dân tộc, chúng ta mới tập hợp, đoàn kết được các dân tộc, duy trì
thống nhất đất nước và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Cụ thể tập trung các lĩnh vực:
Về chính trị: Bảo đảm quyền làm chủ của các dân tộc, chú trọng đào tạo,
bồi dưỡng và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số, để đội ngũ này ngày càng có
khả năng gánh vác nhiều hơn công việc của địa phương; tăng số lượng đại biểu của
các dân tộc thiểu số trong Quốc hội và Chính phủ. Trang bị nhân lực, vật lực giúp
mỗi dân tộc thiểu số dần dần tự quản lý được mọi công việc của mình, với sự hỗ
trợ của các dân tộc anh em. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, xóa bỏ những
quy định mang tính bất bình đẳng, loại bỏ thành kiến giữa các dân tộc. Các dân tộc
được tự do bày tỏ nguyện vọng và mong muốn của mình.
Về kinh tế: Phát triển kinh tế, tập trung xóa đói, giảm nghèo vùng đồng bào
dân tộc thiểu số. Khuyến khích đồng bào chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản
xuất hàng hóa, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức định canh, định cư;
phát triển chăn nuôi, cây công nghiệp, trồng rừng; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng,
tăng cường cho đồng bào tiếp cận với khoa học - kỹ thuật trong sản xuất.
Về văn hóa - xã hội: Có chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết
của các dân tộc thiểu số, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như: các làn điệu
dân ca, lễ hội... Tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục tập quán của các dân
tộc thiểu số; xử lý thỏa đáng mâu thuẫn và vấn đề ảnh hưởng tới quan hệ dân tộc.
Làm tốt công tác định canh, định cư và thành thị hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu
số; bảo đảm quyền lợi chính đáng của các dân tộc theo pháp luật. Chú trọng công
tác giáo dục, phát triển loại trường thanh niên dân tộc vừa học vừa làm; xóa bỏ các
hủ tục lạc hậu. Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe, giữ vệ sinh môi trường...
4.2.2. Làm tốt công tác tuyên truyền, đấu tranh làm thất bại các luận điệu
xuyên tạc lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc ở
Việt Nam đã được qui định trong Hiến pháp. Nghị quyết các Đại hội Đảng toàn