1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** VŨ THỊ NGỌC PHAN
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60.22.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc
HỌC SINH THPT Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 8
1.1. Khái niệm giá trị và giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam 8
c truyn thng 8
1.1.2. Mt s c truyn thn cc Vit Nam 11
1.2. Điều kiện kinh tế xã hội và tầm quan trọng của giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống cho học sinh THPT ở Thái Nguyên 25
c m kinh tn thng lch s c
c truyn thng cho hc
sinh THPT. 25
1.2.2. Mt s m ca hm quan trng c
d c truyn thng cho hc sinh THPT . 31
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH THPT
Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 42
2.1. Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh
THPT ở Thái Nguyên hiện nay 42
2.1.1. Nh c truyn thng cho
hc sinh THPT 42
2.1.2. Nhng hn ch dc truyn
thng cho hc sinh THPT n nay 50
2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống cho học sinh THPT ở Thái Nguyên hiện nay 56
3
n thc v v ng c
c truyn thi. . 58
2.2.2. Kt hp cht ch gi
dc truyn thng cho hc sinh THPT. 61
i mi nng d
cho thế hệ tương lai của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
. Ngày
nay, phương châm giáo dục đào tạo là i, dy ch, dy ngh đã cho
thấy vai trò hết sức quan trọng của công tác giáo dục – đào tạo nói chung và
giáo dục đạo đức nói riêng. và y ch và có
quan hệ mật thiết với nhau, trong đó chính là cơ sở để phát triển
là nền tảng để y ch, tất cả đều nhằm phát triển và hoàn
thiện cá nhân mỗi con người. Ðặc biệt là ở lứa tuổi học sinh, sinh viên –
những chủ nhân tương lai của đất nước. Học sinh THPT là lớp thanh niên
đang ở độ tuổi trưởng thành (chủ yếu từ 16 – 18 tuổi), đang trong giai đoạn
bước ngoặt lớn về phát triển những thuộc tính căn bản của nhân cách, luôn có
những hoài bão, ước mơ, lòng nhiệt tình muốn cống hiến. Tuy nhiên, bên
cạnh những em học sinh ngoan, tích cực trong công tác học tập, rèn luyện, tu
dưỡng đạo đức, phấn đấu trở thành những người có ích cho xã hội, cho đất
nước, thì lại có một bộ phận học sinh, sinh viên bị ảnh hưởng từ những mặt
trái của cơ chế xã hội, suy thoái về đạo đức và các giá trị nhân văn.
2
Đa
́
nh gia
́
th ực tra
̣
ng gia
́
o du
̣
c và đa
,
,
,
,
. Trong nhi c
c, ch ngh-
ng H chc cho h
cứu tiêu biểu:
Giáo sư Trần Văn Giàu tinh thn truyn thng c c
Vi (Nxb Khoa học Xã hội, 1980). Tác giả đã phân tích nội dung các
giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam bao gồm lòng yêu nước,
đức tính cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa.
Nguyễn Trọng Chuẩn truyn th
m (Tạp chí Triết học, số 2- 1998). Đề cập trong bài viết
này, tác giả đã nêu một cách khái quát giá trị truyền thống vì mục tiêu phát
triển bền vững.
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc đồng chủ biên y v
v u kin kinh t th ng hi đã nêu ra một số
vấn đề tích cực và tiêu cực về đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay.
Nguyễn Quang Uẩn- Chủ biên (1995) -
d(Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà
nước KX 07- 04). Tác giả đã đi sâu phân tích tính cấp thiết của việc nghiên
cứu vấn đề giá trị cũng như một số nội dung cơ bản lý luận về giá trị và định
hướng giá trị. Qua đó tác giả cũng nêu lên những nguyên tắc, nội dung, con
đường giáo dục giá trị đạo đức hiện nay ở nước ta.
4
Trần Sỹ Phán (Tạp chí Đại
học và Giáo dục chuyên nghiệp, tháng 3- 1996). Ở bài viết này, tác giả đặt
vấn đề vì sao phải định hướng giá trị đạo đức cho sinh viên và những giá trị
đạo đức cần định hướng.
truyn thc nhc c do
Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên đồng chủ biên (Nxb Chính trị
quốc gia, 2002) đã đi sâu phân tích giá trị truyền thống Việt Nam và những
vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa. Làm thế nào để giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa.
giáo dục quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có công trình chuyên biệt nào
nghiên cứu trực tiếp về vấn đề công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho
học sinh THPT ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Trên cơ sở tiếp thu những thành
quả mà các nhà nghiên cứu trước để lại, luận văn tập trung nghiên cứu về
một số vấn đề lý luận chung và công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho
học sinh THPT ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho
học sinh THPT ở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về giá trị đạo đức truyền
thống và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống, luận văn phân tích thực trạng
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT ở Thái Nguyên
trong những năm gần đây, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT ở Thái
Nguyên hiện nay.
6
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đặt ra, nhiệm vụ của luận văn là:
- Luận giải một số vấn đề lý luận về giá trị đạo đức truyền thống,
từ đó hệ thống hóa những giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc
Việt Nam.
- Xác định rõ tầm quan trọng của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
của dân tộc cho học sinh THPT ở Thái Nguyên.
- Phân tích thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
học sinh THPT trong những năm vừa qua ở Thái Nguyên, nguyên nhân và
những vấn đề đặt ra trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT ở Thái Nguyên hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa khuyến nghị đối với công
tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT Thái Nguyên và
học sinh THPT nói chung.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 2 chương và 4 tiết.
8
Chương 1
GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC
SINH THPT Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
1.1. Khái niệm giá trị và giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm giá trị và giá trị đạo đức truyền thống
Khái niệm với tư cách là khái niệm của Giá trị học (Axiology)
xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XIX ở châu Âu, nhưng tư tưởng về giá trị xuất
hiện từ rất sớm, ngay từ thời cổ đại và gắn với Triết học. Ngày nay, khái niệm
giá trị được sử dụng trong nhiều môn khoa học như: Đạo đức học, Tâm lý
học, Xã hội học, Chính trị học, Kinh tế học, Mỹ học, Triết học…Trong mỗi
khoa học cụ thể, khái niệm giá trị được hiểu dưới các góc độ với phạm vi rộng
hẹp khác nhau.
Các trường phái triết học khác nhau có quan niệm khác nhau về giá
Th ba, giá trị được xác định và biểu hiện trong mối quan hệ của con
người với hoạt động thực tiễn, thông qua thực tiễn mà giá trị được khẳng
định. Thực tiễn vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất khách thể, vừa là
tiêu chuẩn của chân lý về giá trị của khách thể trong quan hệ với con người.
Th giá trị mang tính lịch sử khách quan, tức là sự xuất hiện, tồn tại
hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan
của con người riêng biệt. Giá trị thay đổi theo yêu cầu của từng thời kỳ lịch sử
10
nhất định mà trong đó con người là chủ thể sống và hoạt động thực tiễn. Nói
cách khác, giá trị mang tính khách quan xã hội.
Th chính vì mang tính khách quan xã hội nên mỗi một thời đại,
mỗi cộng đồng dân tộc có những giá trị tiêu biểu, đặc trưng cho thời đại mình,
dân tộc mình.
Hình thức biểu hiện của giá trị là rất phong phú, đa dạng. Sự phong phú,
đa dạng đó phụ thuộc vào sự đa dạng của đối tượng và nhu cầu của con
người. Có nhiều cách phân loại giá trị khác nhau dựa trên các nguyên tắc và
mục đích khác nhau. Trong luận văn này phân chia giá trị thành hai loại cơ
bản: vt cht và tr tinh thn; việc phân chia dựa trên tiêu chí: giá
trị đó thỏa mãn nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần của con người.
c truyn thng
c là yếu tố quan trọng trong hệ thống giá trị tinh thần của
đời sống xã hội. Giá trị đạo đức gắn với nhu cầu điều chỉnh quan hệ lợi ích
giữa cá nhân và cộng đồng tạo nên sự thống nhất, hài hòa giữa chúng.
ng chun mc, nhng, nhng quy tc ng
x nhm chuu chi [59, 3]. Để tồn tại và
phát triển, xã hội nào cũng cần đến những nguyên tắc, những chuẩn mực quy
định hành vi người. Nhưng khác với các phương thức điều chỉnh khác, giá trị
đạo đức điều chỉnh hành vi người trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Những giá trị
đạo đức tiêu biểu bao giờ cũng phản ánh những yêu cầu cơ bản của xã hội.
tốt đẹp của mình. Truyền thống đạo đức cao đẹp là sức mạnh nội sinh giúp
dân tộc ta vượt qua bao khó khăn thử thách, tồn tại và phát triển.
1.1.2. Một số giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của các giá trị đạo đức truyền thống Việt
Nam được bắt nguồn từ những hoàn cảnh địa lí, điều kiện sản xuất, hoàn cảnh
12
lịch sử và xã hội. Xã hội truyền thống Việt Nam được xây dựng trên cơ sở
nền kinh tế nông nghiệp lúa nước. Trong khi đó điều kiện tự nhiên của Việt
Nam lại mưa nắng thất thường, nhiều thiên tai, hạn, lụt. Những đặc điểm này
đã ảnh hưởng tới sự hình thành giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc; tạo
nên sự gắn bó cộng đồng, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau, đặt nền móng cho
tinh thần cần cù, tiết kiệm. Về mặt địa lí, Việt Nam là đầu mối giao thông
quốc tế quan trọng, là mục tiêu xâm lược của nhiều thế lực ngoại bang. Chính
vì vậy, con người Việt Nam phải chung sức trong đấu tranh bảo vệ độc lập
dân tộc, trong lao động sản xuất và trong các quan hệ xã hội khác. Do đó,
trong nấc thang giá trị xã hội, việc đề cao các giá trị đạo đức mang tính cộng
đồng là điểm nổi bật trong đời sống dân tộc Việt Nam. Sự phát triển ưu trội
của các giá trị đạo đức còn có một nguyên nhân khác; đó là tình trạng chậm
phát triển của luật pháp (đến thế kỉ XI, bộ luật đầu tiên của Việt Nam mới
được ban hành).
Trên nền tảng của văn hóa bản địa, với điều kiện địa lí thuận lợi, Việt
Nam còn tiếp thu được những tinh hoa văn hóa nhân loại mà tiêu biểu là: Nho
giáo, Phật giáo và Đạo giáo.
Với nhiều giáo lí phù hợp với điều kiện xã hội Việt Nam, Nho giáo từng
bước được các Nhà nước phong kiến Việt Nam tiếp nhận và đề cao, đặc biệt
là trong quản lí đất nước và xây dựng đạo đức cho con người. Mặc dù có
những quan niệm tiêu cực như trọng nam khinh nữ, coi thường lao động chân
tay, song Nho giáo cũng có những yếu tố tích cực; đó là việc đề cao lòng
thương người, trọng nghĩa, trọng tín… Chính những yếu tố tích cực đó đã góp
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc bao gồm: Tinh thn c;
tinh thc cc; truyn thng a;
truyn thng hiu ho; tinh thn co trong
ng Những đức tính ấy đã trở thành những giá trị đạo đức truyền thống
14
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam mà trải qua nhiều thế kỷ nay dân tộc ta nâng niu
và gìn giữ. Những giá trị đó đã tạo ra một sức mạnh to lớn cho dân tộc ta,
giúp cho dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn thử thách và giá trị đó
sẽ tiếp tục được phát huy trong hiện tại và tương lai. Bên cạnh việc tiếp thu
những tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, chúng ta phải kế thừa, phát huy
những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc nhằm xây dựng một hệ chuẩn
đạo đức mới giàu tính dân tộc, mang đậm tính nhân văn và đáp ứng những
yêu cầu mới của xã hội.
1.1.2.1. Truyn thc
Bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào trên thế giới đều có tình yêu đối
với đất nước. Dân tộc Việt Nam cũng vậy, tình yêu quê hương đất nước là
một thứ tình cảm thiêng liêng, trở thành một triết lý sống, triết lý nhân sinh
tạo thành truyền thống của cả cộng đồng, hình thành chủ nghĩa yêu nước của
con người Việt Nam. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “ Dân tộc ta có một lòng
nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay,
mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn
sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn
chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [30, 171]. Trong cuốn “ Giá trị tinh
thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định:
“Yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến
hiện đại” [18, 94].
Lòng yêu nước là giá trị đạo đức cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có tinh thần yêu nước
nhưng sắc thái biểu hiện không hoàn toàn giống nhau. Đối với dân tộc Việt
biểu hiện sức mạnh quật cường, sự vươn lên thần kỳ của dân tộc với những
16
chiến công hiển hách in đậm trang sử vàng của dân tộc: Chiến thắng Bạch
Đằng oanh liệt với tên tuổi của vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Lê Hoàn
đánh tan quân Tống, nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên - Mông, Lê
Lợi đánh bại quân Minh, Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh Tiếp đến
những thắng lợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Trong những cuộc chiến tàn khốc đó, nếu không phải là tinh thần yêu nước,
lòng tự hào tự tôn dân tộc, làm sao một dân tộc nhỏ bé như chúng ta có thể
làm nên những chiến thắng vang dội, đánh thắng được những kẻ thù hùng
mạnh nhất thế giới. Tinh thần yêu nước trong mỗi người dân Việt Nam
được thể hiện ở tinh thần dám xả thân vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của
quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân mình với ý chí
hy sinh tt c ch u mc, nh.
Sự đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành
lại độc lập tự do cho Tổ quốc với tinh thần x dc,
i d. Xúc động và tự hào với những tấm gương
về những người con ưu tú của dân tộc đã tự nguyện dâng hiến tuổi thanh
xuân cho đất nước, hình ảnh người mẹ tạc nên thành đồng Tổ quốc. Biết
bao nhiêu người mẹ, người vợ tiễn chồng con ra mặt trận mà không có
ngày trở lại. Đó là sự hy sinh thầm lặng nhưng vô cùng vĩ đại bởi tinh thần
yêu nước cháy bỏng trong trái tim của những người con đất Việt. Bấy
nhiêu cũng quá đủ để thấy rõ tinh thần yêu nước đã được tôi luyện và hun
đúc trong lòng dân tộc. Hình thành và khẳng định qua bao thăng trầm của
lịch sử, chủ nghĩa yêu nước anh hùng tiếp tục được bổ sung và phát triển
qua từng thời kỳ, là một trong những giá trị truyền thống cao quý và bền
vững của dân tộc. Ngày nay, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam
được thể hiện trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, yêu
nước là niềm tự hào của dân tộc, là một truyền thống quý báu của dân tộc
triết lý nhân sinh, thành tình cảm sâu nặng trong tâm hồn mỗi con người. Bởi
18
vậy, lối sống của người Việt Nam là lối sống tình nghĩa, thủy chung, gắn bó,
chia ngọt sẻ bùi, vui cùng niềm vui của người khác và đau cùng nỗi đau của
đồng loại, t con ng chay “ sn
n. Lòng yêu thương con người đã hình
thành nên tinh thần tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống
sinh hoạt hàng ngày, trong lao động sản xuất và trong chiến đấu. Trải qua lịch
sử trường kỳ của dân tộc, truyền thống nhân nghĩa đã phát huy sức mạnh, góp
phần vào những chiến thắng oanh liệt của dân tộc và khẳng định giá trị truyền
thống quý báu của dân tộc ta.
Truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện ở
tình cảm, hành động trong cuộc sống hàng ngày của những người cùng huyết
thống, cùng dân tộc mà còn biểu hiện ở lòng vị tha cao thượng. Tư tưởng
“ li ngh th ng b trong
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là sự thể hiện đỉnh cao của lòng nhân ái
đó. Lịch sử đã từng ghi lại những ứng xử nhân đạo của ông cha ta,
ch chy l với những tù binh chiến tranh họ luôn được
đối xử tử tế, được mở đường hiếu sinh để trở về. Truyền thống nhân nghĩa
Việt Nam thể hiện sâu sắc ở lòng vị tha cao thượng, không cố chấp với người
có lỗi lầm biết hối cải, đối xử khoan hồng với tù binh trong chiến tranh.
Đặc trưng nổi bật thể hiện truyền thống nhân nghĩa của dân tộc Việt
Nam là các thế hệ sau luôn ghi lòng tạc dạ công lao cống hiến của các thế hệ
đi trước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khai sáng nền văn hóa
của cộng đồng và dòng họ. Tiếp nối truyền thống đó, những phong trào xóa
đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn như chăm sóc bà mẹ
Việt Nam anh hùng, chính sách đối với các gia đình thương binh liệt sỹ, ủng
hộ nạn nhân chất độc màu da cam, ủng hộ đồng bào bị lũ lụt đã đem lại
nhiều kết quả và phát huy truyền thống nhân nghĩa của dân tộc. Với chủ
20
với những tôn ti trật tự chặt chẽ có tác dụng giáo dục rõ nét. Nhân dân ta quan
niệm rằng: “ t bng non chng bc hay “ mt kho
ng mt nang ch. Việc học là một nét đặc trưng nổi bật trong
gia đình Việt Nam truyền thống. Truyền thống ấy được lan rộng ra trong dòng
họ, làng xã trở thành nét sinh hoạt văn hóa trong làng xã Việt Nam. Truyền
thống ấy đã được bồi đắp, củng cố trong nhân dân bằng các điều khoản trong
lệ làng, phép nước, thể hiện trong các chính sách sử dụng và đãi ngộ của các
triều đại đối với các nhà khoa bảng.
Hiếu học được hiểu là sự quan tâm, coi trọng việc học của cả cộng đồng,
sự nỗ lực học tập của người học. Truyền thống hiếu học là tập hợp những thói
quen, thái độ, tập quán lâu đời, những quan niệm về sự quan tâm, coi trọng
việc học, sự nỗ lực học tập cũng như các biểu hiện về mục tiêu học tập được
hình thành trong lịch sử. Cũng như truyền thống yêu nước và truyền thống
nhân nghĩa, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam. Đó là thói quen ham thích, coi trọng việc học hành được hình thành từ
lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác.
Trước hết, biểu hiện của truyền thống hiếu học là tinh thần ham học hỏi,
ham hiểu biết. Người hiếu học là người có nhu cầu học tập suốt đời. Với tinh
thần ấy, lịch sử dân tộc đã ghi nhận biết bao tấm gương hiếu học như Nguyễn
Hiền, mồ côi cha sống trong túp lều ở chùa, nghèo nhưng với ý chí và tinh
thần hiếu học, dưới ánh đèn đom đóm để học, năm mười ba tuổi đã đỗ trạng
nguyên (vị trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử khoa bảng Việt Nam);
Mạc Đĩnh Chi, mồ côi cha từ sớm, nhà nghèo phải đốt lá rừng để học và đã
trở thành vị trạng nguyên tài giỏi của dân tộc. Lịch sử dân tộc còn biết đến
biết bao tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, đức cao đạo trọng như Chu
Văn An, Lương Thế Vinh, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn Vị vua đầu tiên
coi trọng sự học ở nước ta là Lê Thánh Tông (1442- 1497). Ông là người đầu