BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ DỊU ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ BỆNH
SẢN KHOA Ở ĐÀN LỢN NÁI NGOẠI THUỘC KHU VỰC
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS: NGUYỄN HỮU CƯỜNG
2. PGS.TS: NGUYỄN VĂN THANH
HÀ NỘI, NĂM 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
tại cơ sở.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân,
bạn bè, những người luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu cũng như hoàn thành luận văn. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Dịu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ, ảnh viii
1.3.4 Khoảng cách giữa các lứa đẻ 11
1.3.5 Thời gian động dục sau khi cai sữa: 12
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái 12
1.4.1 Tỷ lệ đậu thai 12
1.4.2 Số con đẻ ra trên lứa: 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4.3 Số lợn sinh ra còn sống 12
1.4.4 Khối lượng lợn con lúc sơ sinh/ổ: 12
1.4.5 Khối lượng lợn con lúc cai sữa/ổ 12
1.4.6 Tỷ lệ chết trong thời gian theo mẹ 12
1.4.7 Thời gian nuôi con 13
1.5 Một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn 13
1.5.1 Bệnh viêm tử cung 13
1.5.2 Sẩy thai 17
2.3.2 Xác định các bệnh sản khoa thường gặp 26
2.3.3 Xác định thành phần và mức độ mẫn cảm của các vi khuẩn có
trong dịch đường sinh dục của lợn nái bằng phương pháp nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
cấy, phân lập trong các môi trường chuyên dụng và làm kháng
sinh đồ. 26
2.3.4 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung 26
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Kết quả nghiên cứu xác định một số chỉ tiêu sinh sản trên lợn
nái ngoại 28
3.1.1 Tuổi phối giống lần đầu 28
3.1.2 Thời gian mang thai 33
3.1.3 Tuổi đẻ lứa đầu 36
4.1.4 Thời gian động dục lại sau cai sữa 40
3.1.5 Khoảng cách lứa đẻ 43
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
n Số mẫu khảo sát
L Landrace
Y Yorshire
PGF
2α
SL
Prostaglandin F2α
Số lượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 16
3.1 Kết quả theo dõi tuổi phối giống lần đầu của của lợn nái giống
Landrace và Yorshire 29
3.2 Kết quả theo dõi thời gian mang thai của lợn nái giống Landrace và
Yorshire 34
3.3 Kết quả theo dõi tuổi đẻ lần đầu của của lợn nái giống Landrace và
Yorshire 38
3.4 Kết quả theo dõi thời gian động dục lại sau khi cai sữa lợn con của lợn
STT Tên ảnh Trang
3.1 Lợn nái Landrace nuôi tại trại 32
3.2 Lợn nái động dục 32
3.3 Chuồng lợn nái chửa 36
3.4 Chuồng lợn nái đẻ 40
3.5 Lợn mắc bệnh viêm tử cung nuôi tại trại 49
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, sự tăng trưởng
của nền kinh tế, đời sống của nhân dân ta không ngừng được cải thiện và nâng cao,
nhu cầu tiêu thụ thịt ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng đã thúc đẩy ngành
chăn nuôi bước sang bước phát triển mới, đó là phát triển chăn nuôi những giống
gia súc cao sản theo hướng công nghiệp hiện đại gắn với thị trường. Chăn nuôi lợn
đã trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chính trong ngành chăn nuôi. Thịt
sữa, rối loạn sinh sản, chậm sinh…xuất hiện khá nhiều. Do điều kiện khí hậu miền
bắc nước ta rất phức tạp, khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện
khí hậu nước ta còn kém, đồng thời trình độ quản lý, chăm sóc và khai thác của một
số hộ chăn nuôi chưa thực sự khoa học. Các bệnh sinh sản không những ảnh hưởng
trực tiếp làm giảm khả năng sinh sản của lợn mẹ, mà còn gây cản trở tới sự sinh
trưởng và phát triển của đàn lợn con từ đó làm giảm năng suất sinh sản của đàn lợn
nái gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi.
Những vấn đề nêu trên chỉ ra rằng: Để góp phần đẩy mạnh công tác chăn nuôi
lợn sinh sản ở Việt Nam việc nghiên cứu đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản cũng như
bệnh sản khoa ở đàn lợn nái ngoại nhằm tìm ra phương pháp phát huy, nâng cao năng
suất sinh sản của đàn lợn nái đồng thời phòng và chống các bệnh sinh sản, giảm thiểu
thiệt hại do bệnh gây ra là một nhu cầu cấp thiết.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất đồng thời bổ sung thêm tư liệu về
lĩnh vực sinh sản của đàn lợn nái ngoại, chúng tôi tiến hành đề tài: Đánh giá một số
chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa trên đàn lợn nái ngoại thuộc khu vực đồng
bằng Sông Hồng.
2. Mục đích của đề tài
Theo dõi và đánh giá được một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái ngoại nuôi ở
một số địa phương tại các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng.
Theo dõi và xác định được một số bệnh sản khoa thường gặp trên đàn lợn nái ngoại
nuôi tại một số địa phương thuộc khu vực ĐBSH.
Thử nghiệm và đánh giá được hiệu quả của phương pháp điều trị bệnh viêm
tử cung trên đàn lợn nái ngoại.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò sinh sản
Sinh sản là một trong những thuộc tính đặc trưng nhất của cơ thể sống, nó
hành, ở lợn đực có phản xạ sinh dục (nhảy). Song song với quá trình trên thì các đặc
điểm sinh dục phụ cũng xuất hiện như gà trống biết gáy, mọc cựa.
Sự thành thục về tính của gia súc được đặc trưng bởi hàng loạt những thay đổi
bên trong lẫn bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự thay đổi bên trong cơ quan sinh dục.
Cùng với sự biến đổi bên trong cơ qua sinh dục là sự biến đổi bên ngoài mang tính chất
qui luật, nó đặc trưng cho từng loài gia súc. Sự thành thục về tính có ý nghĩa rất lớn đối
với quá trình sinh sản, gia súc chỉ có thể bước vào giai đoạn sinh sản khi đã có sự thành
thục về tính, tuỳ theo các gia súc khác nhau mà có sự thành thục về tính khác nhau.
Theo Bidanel J.P., J. Gruand and C. Legault (1996), tuổi thành thục về tính của lợn
vào khoảng 6 tháng dao động trong khoảng 5 đến 8 tháng.
Theo Lưu Kỷ và Phạm Hữu Doanh (1994) thì tuổi phối giống tốt nhất của
lợn nái là bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu, phối giống ở độ 8 tháng tuổi và
đạt trọng lượng 130kg.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính
Yếu tố giống: Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào từng giống khác nhau
nói đúng hơn là nó phụ thuộc vào yếu tố di truyền. Thông thường các giống lợn
có khối lượng nhỏ thì thành thục về tính sớm hơn các giống lợn khối lượng lớn.
Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi thành thục về tính lúc 4 - 5 tháng tuổi, lợn Yorkshire có
tuổi thành thục về tính ở 5 - 6 tháng tuổi.
Yếu tố dinh dưỡng: Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến tuổi thành
thục về tính của lợn nái, thường thì những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt
thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi dưỡng trong những
điều kiện kém. Brumm M.C. and P S. Miller (1996) chỉ rõ những lợn nái được
nuôi dưỡng trong những điều kiện dinh dưỡng tốt thành thục ở độ tuổi trung bình
188,5 ngày với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chế ăn thì sự thành thục về
tính sẽ xuất hiện vào 234,8 ngày với khối lượng cơ thể 48,8 kg.
Campell R.G., M.R.Taverner and D.M. Curic (1985) nhận thấy: Nuôi
dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục
lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ. Nuôi dưỡng tốt lợn nái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Ảnh hưởng của đực giống đến tuổi phối giống lần đầu: Nếu nuôi nhốt nái hậu
bị với nhau sẽ kéo dài thời gian tuổi phối giống lần đầu, sử dụng đực để kích thích
là một biện pháp rút ngắn tuổi phối giống của nái hậu bị. Thông qua mùi, động tác
kích thích của đực giống làm xuất hiện các phản xạ sinh dục đối với nái hậu bị. Tuy
nhiên sử dụng đực kích thích phải có phương pháp tiến hành thích hợp, có thời gian
kích thích và tuổi của đực giống đưa vào sử dụng phải phù hợp. Không sử dụng lợn
quá già hoặc trẻ, tuổi thích hợp để sử dụng là 18 - 36 tháng tuổi, không nên kích
thích quá lâu, khoảng 15 phút mỗi ngày.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
1.2.3. Chu kỳ tính
Chu kỳ sinh dục được bắt đầu khi gia súc đã thành thục về tính, nó tiếp tục
xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu. Chu kỳ sinh dục là một quá
trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh
dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì ở bên trong buồng trứng
có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng.
Sau khi thành thục về tính gia súc cái bắt đầu hoạt động sinh sản. Dưới sự
điều hòa của hormon tuyến yên, nang trứng tăng trưởng thành thục, chín và trứng
rụng. Mỗi lần xuất hiện trạng thái rụng trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là
cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái, cấu tạo, chức năng
sinh lý. Các biến đổi trên lặp đi lặp lại theo chu kỳ được gọi là chu kỳ đông dục
(chu kỳ tính).
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới
thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn
định. Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), lợn động dục không theo mùa, chu
kỳ sinh dục của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21
ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục,
giai đoạn sau động dục, giai đoạn yên tĩnh.
Giai đoạn trước động dục (Preoestrus): Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ
cho con đực nhảy sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy.
Trứng rụng: ở lợn sau khi động dục 24- 30 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng
rụng kéo dài 10- 15 giờ. Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao.
Các biến đổi khác về sinh lý khi trứng rụng: thân nhiệt tăng 0,8 - 1,2
o
C, nhịp tim
tăng, bạch cầu trung tính tăng. Sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì chuyển sang thời
kỳ chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục.
Giai đoạn sau động dục (Postoestrus): Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày,
toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý
bình thường. Trên buồng trứng thể hồng chuyển sang thể vàng, đường kính lên đến 7-
8 mm và bắt đầu tiết Progesteron. Progesteron tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế
điều hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật
dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu khó ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh
dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại. Hoạt động
sinh dục đã giảm rõ rệt, âm hộ teo dần tái nhạt, không muốn gần con đực, không cho con
khác nhảy lên lưng, lợn ăn uống tốt hơn, con vật dần trở lại trạng thái bình thường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Giai đoạn yên tĩnh (Dian- Oestrus): Giai đoạn này đặc trưng bởi sự tồn tại
của thể vàng, là giai đoạn dài nhất kéo dài 12 - 14 ngày, bắt đầu từ ngày thứ 4 sau
khi trứng rụng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy. Giai đoạn này,
thể vàng thành thục, hoạt động tiết Progesteron, Progesteron ức chế tiết FSH và LH
làm cho noãn bao không chín và rụng từ đó dẫn đến lợn hoàn toàn không có phản
xạ với lợn đực, âm hộ teo nhỏ và màu nhạt, lợn ăn uống bình thường. Đây là giai
đoạn giúp con vật nghỉ ngơi và phục hồi chức năng cơ quan sinh dục cũng như cơ
thể để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo. Sau đó thể vàng thoái hóa, giai đoạn tiền động
dục của chu kỳ tiếp theo bắt đầu. Nếu trứng được thụ tinh thì giai đoạn này được
thay thế bằng thời kỳ mang thai và đẻ.
Khi gia súc có thai, toàn bộ tử cung xuất hiện những thay đổi về cấu tạo, tính
chất, vị trí, khối lượng, thể tích, dây chằng tử cung được dài ra nên đầu mút sừng
tử cung và buồng trứng được đưa về phía trước và phía dưới. Hệ tuần hoàn ở cơ
quan sinh dục được tăng cường, lượng máu đến cung cấp cho niêm mạc tử cung rất
nhiều nên niêm mạc được phát triển và dày lên. Các tuyến tử cung cũng được phát
triển mạnh và tăng cường tiết niêm dịch. Niêm mạc tử cung hình thành núm nhau
mẹ. Khối lượng tử cung khi có thai gấp 5 -20 lần so với khi không có thai, kích
thước và thể tích tăng gấp hàng trăm lần. Mỗi một tế bào được phát triển dài thêm 7
- 11 lần và dày hơn 3 - 5 lần so với khi không có thai. Ở lợn mức độ phát triển và
tăng sinh của tử cung phụ thuộc vào số lượng của bào thai và thường là phát triển ở
cả hai sừng tử cung.
Một yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong bảo vệ bào thai phát triển bình
thường đó là cổ tử cung. Cổ tử cung được khép kín hoàn toàn, niêm mạc và các nếp
nhăn phát triển dày lên. Những tế bào thượng bì đơn tăng cường tiết dịch đặc, có tác
dụng đóng nút cổ tử cung. Niêm dịch này lúc đầu có màu trắng trong về sau chuyển
thành màu vàng nâu, số lượng và độ dính cũng được tăng dần. Nó có phản ứng toan
yếu, còn ống dẫn trứng hầu như không được phát triển to lên.
1.2.5. Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), gia súc cái mang thai trong một
thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác
động của thần kinh - thể dịch, con mẹ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai,
nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có những triệu chứng biểu hiện: Trước khi đẻ 1 - 2
tuần, nút niêm dịch ở cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm
môn phù to, xung huyết nhẹ, đầu núm to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định biểu hiện đẻ:
Trần Đình Miên và cộng sự (1997) cho biết việc tính toán khả năng sinh sản
của lợn nái cần xét đến các chỉ tiêu như chu kỳ động dục, tuổi thành thục về tính,
tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con đẻ ra/lứa.
Sức sinh sản của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi động dục lần đầu, số con
đẻ ra/ổ và thời gian từ khi cai sữa đến động dục lại, phối giống có kết quả.
Colin T. Whittemore (1998) cho rằng: các tính trạng năng suất sinh sản chủ
yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày
tuổi và số lứa đẻ/nái/năm, các chỉ tiêu này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn
nuôi lợn nái.
Để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái tùy vào mục đích nghiên cứu, lĩnh
vực nghiên cứu mà có thể lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau. Hiện nay trong nghiên
cứu thường dùng hai nhóm chỉ tiêu đó là: nhóm chỉ tiêu về đặc điểm sinh lý sinh
dục và nhóm chỉ tiêu về năng suất sinh sản của lợn nái.
1.3.1. Tuổi phối giống lần đầu
Sau khi đã thành thục về tính và thể vóc thì có thể đưa lợn vào phối giống. Tuổi
phối giống lần đầu được tính từ khi sinh đến lần phối giống đầu tiên, thông thường để
cho bộ phận sinh dục được phát triển hoàn thiện thì người ta thường bỏ qua 2 - 3 chu
kỳ động dục đầu tiên rồi mới tiến hành phối giống.
1.3.2. Thời gian mang thai
Sau khi phối giống đến ngày đẻ ta có thời gian mang thai. Thông thường thời
gian mang thai của lợn giao động trong khoảng 112 - 117 ngày, trung bình là 115 ngày.
1.3.3. Tuổi đẻ lứa đầu
Là số ngày tuổi từ khi nái sinh ra cho đến khi nái đẻ lứa đầu tiên, tuổi đẻ lứa đầu
phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từng
giống lợn khác nhau. Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn lợn nái ngoại
do tuổi thành thục về tính sớm hơn.
1.3.4. Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Được tính từ lứa đẻ này đến lứa đẻ tiếp theo, thời gian này bao gồm có: Thời
gian mang thai + thời gian nuôi con + thời gian chờ phối. Rút ngắn khoảng cách giữa
các lứa đẻ là mục tiêu của người chăn nuôi nhằm tăng số con/nái/năm.
tật, do quản lý, do chăm sóc sản phẩm của quá trình mang thai và đẻ. Số lượng lợn con
sau sinh được chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý tốt có thể làm giảm tỷ lệ này và đây là yếu
tố để làm tăng số con cai sữa/nái/năm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
1.4.7. Thời gian nuôi con
Thời gian nuôi con càng ngắn thì càng tăng được số con cai sữa/nái/năm và số lứa
đẻ/nái/năm. Nhưng nếu cai sữa sớm quá thì ảnh hưởng đến chất lượng đàn con, vì thế
thông thường cai sữa từ 18 - 25 ngày là thích hợp nhất, trung bình là 21 ngày.
1.5. Một số bệnh sản khoa thường gặp trên lợn
1.5.1. Bệnh viêm tử cung
1.5.1.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương cơ quan sinh dục
của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa,
lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển. Lợn
nái chậm động dục trở lại, không thụ thai có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng
sinh sản của lợn nái.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Thiếu sót về dinh dưỡng quản lý
Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước hoặc trong thời kỳ mang thai ảnh
hưởng đến viêm tử cung.
Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, phải can thiệp bằng tay gây tổn
thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng viêm tử cung kế phát.
Ngược lại thiếu dinh dưỡng, lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không
chống lại được sự xâm nhập của vi trùng cũng gây viêm tử cung.
Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ cũng dễ đưa đến viêm tử
cung. Theo các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ và Huỳnh
Văn Kháng (2000), bệnh viêm tử cung xảy ra do các nguyên nhân sau:
gia súc cái, các bệnh ở cơ quan sinh dục. Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra
sau khi gia súc đẻ, nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm cho niêm mạc tử
cung bị tổn thương. Sau đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E. coli,
Brucella, Salmonella tác động gây viêm nội mạc tử cung. Theo Nguyễn Hữu Ninh
và Bạch Đăng Phong (2000) Lợn nái bị viêm nội mạc tử cung thường biểu hiện triệu
chứng: thân nhiệt tăng, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, thỉnh thoảng rặn. Từ cơ quan
sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch mầu trắng hay trắng xám có mùi tanh.
Viêm cơ tử cung
Viêm cơ tử cung là viêm tầng giữa, lớp cơ vòng và cơ dọc tử cung. Viêm cơ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung: niêm mạc bị thấm dịch thẩm xuất,
vi khuẩn xâm nhập, viêm phát triển sâu làm các tế bào tổ chức bị phân giải, hệ thống
mạch quản và lâm ba quản bị tổn thương. Các lớp cơ và một ít lớp tương mạc bị hoại
tử. Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000), lợn nái bị bệnh này
thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn
uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn. Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo
khô, nóng, màu đỏ thẫm. Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục. Từ cơ
quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lẫn mủ và những mảnh tổ
chức thối rữa nên có mùi tanh, thối
Viêm tương mạc tử cung
Viêm tương mạc tử cung là viêm tầng ngoài cùng của tử cung, thường kế phát
từ viêm tử cung. Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ
và toàn thân điển hình. Lúc đầu lớp tương mạc này có màu hồng rồi chuyển sang màu
đỏ sẫm, rồi trở nên sần sùi, mất tình trơn bóng. Các tế bào hoại tử bong ra, dịch thẩm
xuất tăng tiết.
Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh dẫn
đến viêm mô tử cung, viêm phúc mạc. Theo Đặng Đình Tín (1986) , lợn nái bị bệnh
này có biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ,
Bỏ ăn
hoàn toàn
Bỏ ăn
hoàn toàn
1.5.1.4. Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được
đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển. Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản. Hậu quả của viêm tử cung làm cổ tử cung bị tắc,
khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra được. Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002),
Trần Thị Dân (2004), khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả sau:
Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai sự co thắt của
cơ tử cung dưới tác dụng của Progesteron, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung.
Khi bị viêm tử cung cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết
nhiều Prostaglandin (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng
cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá
các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng.
Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesteron nữa, do đó hàm lượng
Progesteron trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực cơ của tử cung tăng gây nên
gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai.
Lợn mẹ bị viêm tử cung, bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu. Lớp
nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai