BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TẠ QUỐC HUY ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ SỰ LƯU HÀNH
VI RUS NEWCASTLE Ở GÀ TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ
CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Toàn bộ các số liệu và kết quả thu được là do bản thân tôi trực tiếp
điều tra, thu thập với một thái độ hoàn toàn khách quan và trung thực, chưa
từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được
ghi rõ nguồn gốc.
Vĩnh Phúc, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Tạ Quốc Huy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi
luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và
bạn bè đồng nghiệp. Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến
PGS.TS Nguyễn Bá Hiên, thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt
Nam, Khoa Thú y cùng các Thầy Cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục đích của đề tài 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quát về bệnh Newcastle 3
1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh Newcastle 3
1.1.2 Lịch sử bệnh Newcastle 3
1.2 . Tình hình nghiên cứu dịch bệnh Newcastle trong nước và trên
thế giới 4
1.3. Đặc tính sinh học của virus Newcastle 7
1.4. Dịch tễ học bệnh Newcastle 15
1.5. Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Newcastle 20
1.6. Chẩn đoán bệnh 22
1.7. Biện pháp can thiệp và phòng bệnh Newcastle 25
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, NGUYÊN
LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1. Đối tượng và nội dung nghiên cứu 29
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.3. Nguyên liệu 29
2.4. Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 30
2.4.2. Phương pháp chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích 31
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.4.3. Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học 31
2.4.4. Phương pháp phân lập vi rút trên phôi trứng 34
2.4.5. Phương pháp phân tích xử lý số liệu 35
3.5.6. Phòng bệnh bằng vắc xin 65
3.5.7. Cơ chế chính sách 66
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
Kết luận 68
Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình Trang
Hình 3.1. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống 40
Hình 3.2. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi 41
Hình 3.3. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ 43
Hình 3.4. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo qui mô và phương thức
chăn nuôi 45
Hình 3.5. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái 47 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan
trọng, chu kỳ sản xuất ngắn, tạo ra sản phẩm thực phẩm giàu dinh dưỡng
phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện nay…chăn nuôi gia cầm là nghề truyền
thống ở Việt Nam, sản phẩm gia cầm, đặc biệt là thịt gà, trứng gà không chỉ
là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao hàng ngày cho
người dân mà còn in đậm trong đời sống xã hội bởi một nền văn hóa ẩm
thực với cả yếu tố tâm linh, nó được sử dụng nhiều trong những ngày giỗ,
ngày tết và lễ hội. Với những lý do đó sản phẩm gia cầm luôn có vị trí trên
thị trường tiêu thụ, đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển, tạo thêm
việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng có tổng diện
tích đất tự nhiên 123,86 ngàn ha. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 49,69
ngàn ha, đất lâm nghiệp 32,43 ngàn ha, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử
dụng 41,74 ngàn ha. Điều kiện tự nhiên của Vĩnh Phúc không những thuận
lợi cho việc phát triển trồng trọt mà còn có thế mạnh để phát triển chăn
nuôi gia súc, gia cầm. Với lợi thế về kinh tế, vị trí địa lí, đất đai, khí hậu và
con người, bên cạnh đó có nhiều Công ty lớn về sản xuất con giống và thức ăn
chăn nuôi (Xí nghiệp gà giống Tam Đảo, Công ty Japfa Confeed Việt Nam )
đóng trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát
triển khá mạnh tại Vĩnh Phúc. Tính đến thời điểm ngày 01/4/2014. Tổng đàn
gia cầm: 8.823,3 ngàn con, trong đó gà các loại: 7.856 ngàn con, số gà nuôi
đẻ trứng trên: 2,4 triệu con. Trên địa bàn Vĩnh Phúc hiện có trên 1.661 trang
trại chăn nuôi gà với quy mô từ vài ngàn con đến vài chục ngàn con, tập trung
chủ yếu ở các huyện Tam Dương, Tam Đảo, Yên Lạc, Bình Xuyên. Tuy nhiên,
một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi gia cầm là vấn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
đề dịch bệnh, một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Cúm gia cầm, Newcastle,
Gumboro, Marek, Tụ huyết trùng vẫn còn tiềm ẩn, gây bệnh làm thiệt hại không
1.1 Tổng quát về bệnh Newcastle
1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh Newcastle
Bệnh Newcastle hay còn gọi là bệnh gà rù là một bệnh truyền nhiễm
cấp tính lây lan rất nhanh của loài gà, do một loại virus thuộc nhóm
paramixo gây ra. Bệnh gây xáo trộn và hư hại trên đường tiêu hóa, hô hấp,
thần kinh. Bệnh là mối nguy hiểm thường trực cho ngành chăn nuôi gia
cầm. Bệnh gây chết với tỉ lệ cao 80 – 90% và nếu có nhiễm ghép với các
bệnh khác thì tỉ lệ chết có thể lên đến 100%.
1.1.2 Lịch sử bệnh Newcastle
1.1.2.1. Trên thế giới
Bệnh Newcastle được cho rằng xảy ra vụ dịch đầu tiên vào năm 1926 ở
quần đảo Java (Indonesia) và ở Newcastle-upon-tyne (Anh). Tuy nhiên đã có
nhiều báo cáo cho thấy bệnh tương tự đã xảy ra ở Trung Âu từ trước năm 1926;
theo trích dẫn của Levine (1964), Ochi và Hashimoto đã phát hiện được bệnh ở
Hàn Quốc vào năm 1924; Macpherson (1956) lại cho rằng nguyên nhân gây
chết của gà tại các hòn đảo phía Tây Scotland vào năm 1896 là do bệnh
Newcastle. Căn bệnh này sau đó được phát hiện ở Hoa Kỳ vào năm 1944. Ngày
nay thì căn bệnh Newcastle đã có ảnh hưởng và lây lan ra toàn cầu, vùng bị
nặng nhất là Đông Nam Á (có Việt Nam trong này) và các nước vùng Trung
Mỹ. Tỉ lệ tử vong cao từ 95 đến 100% cho gia cầm bị căn bệnh này.Năm 1927, Doyle đã phân lập được mầm bệnh trong ổ dịch của gà tại
Newcastle (Anh) và chứng minh virus phân lập có tính kháng nguyên khác
với bệnh Cúm gà.
Bệnh dịch ở Anh xảy ra theo tài liệu ghi chép có liên quan tới một con
tàu vận chuyển thịt đông lạnh mang theo gà nuôi từ châu Á đến cảng
Newcastle (Alexander, 1988).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Năm 1989, ở Nigeria (Okoye và cộng sự, 1989) xảy ra ở ổ dịch
Newcastle không điển hình, gà không có triệu chứng thần kinh, không xuất
huyết dạ dày tuyến, chỉ có các dấu hiệu ủ rũ, ỉa phân xanh, tỉ lệ chết từ 50 –
83,6%; mổ khám thấy dịch thẩm xuất ở ống khí quản, lách teo, màng treo
xuất huyết có dấu hiệu hoại tử, các tế bào lympho giảm; đã phân lập được
virus Newcastle từ bệnh phẩm.
Biswal G và Morrill C.C (1954), nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh
Newcastle đến khả năng sinh sản của gà bằng chủng 11914 Califonia gây
nhiễm vào xoang mũi gà mái tơ, thấy sản lượng trứng bị giảm từ 2 – 3 tuần,
thời gian ảnh hưởng kéo dài đến 56 ngày, 27% gà bị nhiễm có thoái hóa
những nang trứng, biểu hiện bề ngoài nang gồ ghề, nang trứng bị xung huyết,
xuất huyết, trứng không bọc vỏ hoặc vỏ mềm, đôi khi xuất hiện lòng đỏ trong
xoang bụng, ống dẫn trứng bị co lại, đôi khi bị phù nề ở ngày thứ 5- 7 kể từ
sau khi nhiễm, thiếu dịch nhày và độ bóng sáng.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle ở Việt Nam
Bệnh Newcastle được Phạm Văn Huyến đề cập lần đầu tiên ở Việt Nam
vào năm 1933 và gọi là bệnh dịch tả gà Đông Dương.
Năm 1938, một vụ dịch gà ở Nam Bộ được Vitor mô tả có triệu chứng
giống bệnh Newcastle.
Năm 1949 tại Nha Trang, Jacotttot và Lelouet đã phân lập được virus
Newcastle, sau dùng chủng này gây bệnh cho gà và tiêm truyền trên phôi
trứng, bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu và ức chế ngưng kết hồng cầu, tác
giả đã xác định sự có mặt của virus Newcastle tại ổ dịch.
Năm 1956, ở Sài Gòn, Notter và N.B.Lương đã phân lập được chủng
virus Newcastle. Từ năm 1955 – 1957 qua điều tra tình hình dịch bệnh ở 20
tỉnh thành, kiểm tra 189 bệnh phẩm các tác giả thấy có 58 mẫu có virus
Newcastle.
Trong đầu thập niên 70, chăn nuôi gà công nghiệp bắt đầu phát triển, một
hơn nhỏ và uống, sức miễn dịch chống virus cường độc Newcastle thu được do
phương pháp phun sương và nhỏ mũi cao hơn phương pháp uống.
Phạm Xuân Tý và CS (2000) đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học
phòng, trị bệnh Gumboro và Newcastle cho gà, trong đó: Hiệu giá kháng thể
kháng Gumboro (ELISA) trung bình 1/11.755,1 ± 965,12, hiệu giá kháng thể
kháng Newcastle (HI) trung bình 10,37log2 ± 0,69. Chế phẩm đã được đưa
vào sử dụng trong sản xuất, bước đầu cho kết quả tốt.
Nguyễn Huy Phương (2001), nghiên cứu lịch sử dụng vacxin cho đàn gà
thịt đã khuyến cáo người chăn nuôi nên sử dụng vacxin 3 lần vào các ngày 7,
21 và 35 ngày tuổi .
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Trương Quang và CS (2005) cho biết những năm gần đây bệnh
Newcastle xảy ra ở các đàn gà nuôi tập trung trong các hộ gia đình thường ở
thể không điển hình. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trên là do:
Lịch sử dụng vacxin không thích hợp.
Một tỷ lệ nhất định (7,59 – 13,15%) gà sau khi uống vacxin có hàm
lượng kháng thể thấp (< 3log2).
Con giống không rõ nguồn gốc.
Đồng thời tác giả khuyến cáo những đàn gà nuôi trên ba tháng tuổi nên cho
uống vacxin Lasota 3 lần lúc gà 7, 21 và 35 ngày tuổi sẽ an toàn bệnh Newcastle.
Nguyễn Hồng Minh ( 2012) đã nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm
vacxin nhược độc đông khô đa giá phòng ba bệnh Newcastle, Gumboro và
Viêm phế quản truyền nhiễm ở gà. Kết quả cho biết gà sau khi tiêm vacxin
vào lúc 7 và 14 ngày tuổi đều có hiệu giá kháng thể đạt tiêu chuẩn bảo hộ cả
ba bệnh theo tiêu chuẩn ngành và khuyến cáo của OIE, 2008.
Kết quả nghiên cứu bệnh Newcastle, vacxin và sử dụng vacxin của các
tác giả trong nước và trên thế giới đã góp phần to lớn để ngăn chặn và hạn chế
thiệt hại về kinh tế của bệnh Newcastle.
Large protein (L): là một ARN polymerase liên kết với nucleocapsid.
Những đơn vị cấu trúc của protein sắp xếp quanh một trục, ở giữa rỗng
theo hình xoắn ốc, bên trong là axit nucleic quyết định hình dạng của virus.
Vỏ ngoài của virus là lipid nên virion rất mẫn cảm với các chất hòa tan mỡ
như ete, cồn, clorofor, merthiolate.
Virus có thể qua được các màng lọc Berkerfeld, Chamberland và màng
lọc Seitz.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Phân loại
Họ Paramyxoviridae chia thành hai subfamily (dưới họ):
Subfamily Paramyxovirinae có 3 giống (chi):
Giống Rubulavirus bao gồm virus gây bệnh quai bị, parainfluenza 2 và 4
gây bệnh ở động vật có vú, virus gây bệnh Newcastle và các Avian
Paramyxovirus (paramyxovirus gây bệnh ở gia cầm).
Giống Respirovirus gồm parainfluenza 1 và 3 gây bệnh ở động vật có vú.
Giống Morbillivirus gồm virus gây bệnh sởi, dịch tả trâu, bò và bệnh Care ở chó.
Giống thứ 4 gọi là Megamyxovirus gồm Nipah và Hendra virus cũng được
đề nghị xếp vào subfamily này. Tuy nhiên, kết quả giải trình tự toàn bộ gen
của virus Newcastle cho thấy paramyxovirus gây bệnh gia cầm hoàn toàn
khác với các rubulavirus khác, đủ bằng chứng để xếp chúng vào một giống
(chi) khác trong subfamily này.
Có 9 serogroup đã được xác định trong các Avian Paramyxovirus từ
APMV-1 đến APMV-9; trong đó virus Newcastle (APMV-1) là virus quan
trọng nhất. Ngoài ra các APMV-2, APMV-3, APMV-6, APMV-7 cũng có khả
năng gây bệnh cho gà.
- Subfamily Pneumorivinae gồm 2 giống: giống Pneumovirus gồm các
virus gây viêm phổi ở động vật có vú và giống Metapneumovirus gồm các
virus gây viêm phổi ở gia cầm (vì vậy người ta có ý định gọi giống này là
như hồng cầu gà, người, chuột bạch, chuột lang. Không làm ngưng kết hồng
cầu ngựa đây là đặc tính dễ phân biệt với virus dịch tả gà.
Virus Newcastle có nhiều chủng, các chủng này có độc lực khác nhau.
Các chủng khác nhau thì có khả năng gây ngưng kết hồng cầu ở mức độ khác
nhau, một đơn vị ngưng kết được xác định là độ pha loãng virus lớn nhất của
hỗn dịch virus mà tại đó vẫn gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Chỉ một vài chủng virus làm ngưng kết hồng cầu bò, dê, cừu, lợn. Hồng
cầu loài lưỡng thê, bò sát và loài chim bị ngưng kết với virus Newcastle ở các
mức độ khác nhau.
Phản ứng ngưng kết hồng cầu và hiệu giá HA của virus Newcastle dựa
vào tính bán dính của protein HN với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu. Tuy
nhiên với HN riêng rẽ thì phản ứng ngưng kết hồng cầu không thể xảy ra mà
các HN phải được tập hợp với nhau trên một tiểu thể virus. Có nghĩa là tiểu
thể virus mới là chiếc cầu nối các hồng cầu với nhau và tạo thành mảng ngưng
kết. Điều đó có nghĩa là: hiệu số ngưng kết là con số phản ánh số lượng hạt
virus (Virion) (Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 1993) .
Hiện tượng ngưng kết hồng cầu là do hồng cầu liên kết với điểm quyết
định kháng nguyên trên bề mặt của virus. Quá trình ngưng kết xảy ra qua
hai giai đoạn:
Virus tìm điểm thụ cảm trên bề mặt của hồng cầu Haemagglutinin làm
ngưng kết hồng cầu.
Hoạt tính men Neuraminidaza: men Neuraminidaza hoạt động được giải
phóng ra từ bề mặt của tế bào virus, phá hủy thụ thể và tách virus ra khỏi
ngưng kết của hồng cầu. Tùy từng chủng virus mà tốc độ phá hủy liên kết
khác nhau, có thể từ 30 phút đến 24 giờ (Hanson, 1980).
Theo Tolba và Eskarous (1962), hoạt tính ngưng kết hồng cầu tùy theo
từng chủng virus, không nhất thiết bị vô hoạt cùng thời gian với hoạt tính gây
Virus là loại vi sinh vật ký sinh nội bào tuyệt đối. Peeples (1988) đã nêu
rõ sự nhân lên của virus Newcastle trong tế bào: bước tấn công đầu tiên của
virus là thụ thể của tế bào với sự giúp đỡ của protein HN. Màng tế bào sẽ hấp
thụ virus nhờ hoạt động của protein F, sau đó toàn bộ Nucleocapxit xâm nhập
vào trong tế bào. Virus thực hiện quá trình nhân lên tại nguyên sinh chất. Tại
đây sẽ diễn ra quá trình tổng hợp ARN và protein của virus.
Virus nhân lên trong tế bào chất đạt mức tối đa lúc 5-6 giờ, trong 3-4
giờ đầu có thể phát hiện được kháng nguyên đặc hiệu bằng phản ứng kết hợp
bổ thể hay miễn dịch huỳnh quang. Đầu tiên là kháng nguyên NP ở trong tế
bào chất, gần nhân tế bào (Rott, 1964), rồi đến kháng nguyên HN ở khắp tế
bào chất. sau 4 giờ ở ngay bên trong màng tế bào đã xuất hiện cấu trúc giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
như virion thành thục (Wheelock, 1963). Sau khi nhiễm vào tế bào 4 giờ thì
Virion bắt đầu xuất hiện và tiếp tục được giải phóng.
Virus Newcastle có thể cấy truyền trên gà, phôi gà hoặc môi trường tế
bào phôi gà 1 lớp. Virus có thể gây nhiễm theo các caon đường khác nhau
như: tiêm não, tiêm tĩnh mạch cho chuột (Bruner, 1942).
- Nuôi cấy trên phôi: tất cả các avian paramyxovirus đều nhân lên trên
phôi gà. Khi nuôi cấy virus Newcastle trên phôi gà 9-11 ngày tuổi bằng cách
tiêm vào xoang niệu mô, khả năng và thời gian gây chết phôi của các chủng
khác nhau là khác nhau. Tùy theo độc lực của từng chủng virus mà phôi thai
có thể chết sau 48 – 96h. Bệnh tích đặc trưng: phôi còi cọc, xuất huyết tổ chức
liên kết dưới da vùng đầu, cổ, toàn thân, màng phôi thủy thũng sưng dày lên.
Phôi non thì khả năng gây nhiễm và thời gian chết phôi nhanh hơn, tỉ lễ chết
phôi cũng cao hơn.
Các chủng có độc lực cao thì thời gian gây chết phôi càng nhanh. Khi
cấy chuyển nhiều lần qua phôi gà, người ta thu được giống virus Newcastle
nhược độc dùng để chế tạo vacxin phòng bệnh.
Virus Newcastle có khả năng cản trở sự nhân lên của virus khác hoặc
ngược lại. Cho nên, khi gà bị nhiễm virus Newcastle kết hợp với các loại virus
khác, bệnh không biểu hiện rõ rệt (Hanson, 1972).
1.3.7. Khả năng chịu nhiệt
Khả năng chịu nhiệt của virus Newcastle được xác định bằng khả năng
gây nhiễm và ngưng kết hồng cầu của virut (Hanson, 1949). Các chủng virus
khác nhau, tính chịu nhiệt khác nhau (Hanson, 1978). Đây là một đặc tính để
phân biệt chủng virus có độc lực với chủng virus không có độc lực.
1.3.8. Sức đề kháng của virus Newcastle.
Sức đề kháng của virus Newcastle được xác định bằng khả năng gây
nhiễm của virus, tính ngưng kết hồng cầu, tính gây miễn dịch. Các khả năng
này bị phá hủy khi tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, tia
tử ngoại, quá trình oxy hóa, độ PH của môi trường. do virus có vỏ bọc ngoài
là Lipid nên rất mẫn cảm với các chất hóa học như ete, cồn, clorofor, formol
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
và phenol, làm mất khả năng gây nhiễm nhưng không làm ảnh hưởng tới khả
năng sinh miễn dịch của virus.
Virus bị tiêu diệt ở 60
o
C trong 30 phút, 100
o
C trong 1 phút, 4 - 20
o
C
virus có thể tồn tại hàng tháng, ở nhiệt độ âm virus có thể tồn tại hàng năm.
PH < 2 hoặc PH >10 làm virus mất khả năng gây nhiễm.
Ánh sáng mặt trời có thể chiếu thẳng diệt virus trong 48 giờ nhưng ánh
sáng của tháng 5 - 6 làm virus mất hoạt tính hoàn toàn trong 1 giờ.