ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, năm 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội, năm 2014
1 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3. Mục đích nghiên cứu 13
4. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13
4.1. Đối tượng nghiên cứu 13
4.2. Khách thể nghiên cứu 13
4.3. Phạm vi nghiên cứu 13
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 13
5.1. Câu hỏi nghiên cứu 13
5.2. Giả thuyết nghiên cứu 14
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu 14
6.1.Phương pháp nghiên cứu 14
6.1.1. Phân tích tài liệu 14
6.1.2. Phỏng vấn sâu 14
6.1.3. Phỏng vấn cấu trúc 14
6.1.4. Phương pháp xử lí thông tin sơ cấp 16
6.2. Ý nghĩa nghiên cứu 16
6.2.1. Ý nghĩa lý luận 16
6.2.2. Ý nghĩa thực tiễn 16
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 18
1.1. Cơ sở lý luận 18
2
2.2.1. Việc làm 43
2.2.2. Thu nhập 44
2.2.3. Điều kiện làm việc 47
CHƢƠNG 3: ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN TẠI VIỆT NAM 49
3.1. Điều kiện sinh hoạt 49
3.2. Tiếp cận các dịch vụ xã hội 51
3.3. Hoạt động vui chơi giải trí 53
3.4. Mạng lƣới xã hội của những lao động di cƣ Đài Loan 55
3.5. Về đời sống tình cảm 62
3.6. Về ngôn ngữ 64
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
4 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm mẫu khảo sát tại dự án Formosa 15
Bảng 2.1: Mối tương quan giữa tình trạng hôn nhân với lý do di cư của các
lao động Đài Loan ( Đơng vị: %) 39
Bảng 2.2: “Con đường” để các lao động di cư Đài Loan tiếp cận với thông tin
dự án Formosa 42
cư Đài Loan (Đơn vị: %) 50
Biểu đồ 3.2: Nhận xét về mức độ diễn ra các hoạt động vui chơi giải trí dành
cho các lao động di cư tại đây 54
Biểu đồ 3.3: Tình trạng hôn nhân của các lao động di cư Đài Loan 63
6 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, di cư quốc tế đã trở thành một
trong số những vấn đề lớn của thời đại. Chưa có thời kỳ nào trong lịch sử
nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Theo ước tính của Tổ
chức Di cư quốc tế (IOM), có gần 215 triệu người đang sống và làm việc
ngoài đất nước của mình, chiếm khoảng 3,3% dân số toàn cầu. Di cư quốc tế
đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đối với
nhiều quốc gia trên thế giới. Người di cư đã có nhiều đóng góp cho nền kinh
tế thế giới nói chung, ngay cả trong điều kiện khủng khoảng tài chính toàn
cầu. Nhận thức được vai trò của di cư, các nước ngày càng quan tâm đến việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, quyền được làm việc và an sinh xã hội đối
với bản thân người di cư và gia đình họ. Quy luật cung - cầu về sức lao động,
dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã
hội… đã thúc đẩy các luồng di cư từ nhiều quốc gia khác nhau [11, tr. 1].
Như chúng ta đã biết, các cuộc khủng hoảng kinh tế liên tiếp khiến hàng
loạt các quốc gia đứng trước thách thức kinh tế lớn điều đó kéo theo hệ lụy là
hàng loạt lao động buộc phải thất nghiệp. Sự chuyển dịch lao động ở các quốc
gia lớn tới các quốc gia nhỏ hơn, tới các quốc gia đang phát triển như Việt Nam
đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là công tác quản lý lao động
nước ngoài hoạt động tại khu vực này. Theo thống kê của Công an huyện Kỳ
Anh, đầu năm 2014 trên địa bàn hiện có 2.806 lao động nước ngoài, trong đó
có 1.566 người Trung Quốc (đại lục), 916 người Đài Loan, 219 người Hàn
Quốc, số còn lại là các quốc tịch khác. Với thời gian cho cho chủ đầy tư dự án
thuê là 70 năm, trong tương lai sẽ còn nhiều lao động nước ngoài tới đây, đặc
biệt là lao động Đài Loan. Điều này sẽ tạo nên không ít những xáo trộn trong
đời sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
8 Việt Nam là một quốc gia dồi dào nguồn lao động trẻ và thường biết đến
với cụm từ “xuất khẩu lao động”. Các nghiên cứu trước đây hầu hết tập trung
vào đề tài lao động trong nước hoặc là đời sống lao động Việt Nam ở các
nước. Bởi vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu, phác họa đời sống người lao động
nước ngoài khi tham gia lao động ở Việt Nam là điều hết sức cần thiết. Với
những lí do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Đời sống lao động di cư Đài
Loan(Trung Quốc)
1
ở Việt Nam (qua nghiên cứu trường hợp dự án
Formosa, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh)” để tìm hiểu, nghiên cứu. Qua đó,
để làm rõ những điểm cần lưu tâm để có những chính sách phù hợp, đảm bảo
nguồn nhân lực và các yếu tố liên quan đến nước ngoài, góp phần phục vụ
công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh, Kỳ Anh nói riêng
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài, đã có rất nhiều tác giả, tổ
chức quan tâm tới vấn đề di cư lao động.
Nghiên cứu Di cư nông thôn - thành thị và thị trường lao động ở Trung
Quốc nghiên cứu trường hợp một tỉnh ở Đông Bắc (“Rural - urban migration
and labor markets in china a case study in a northeastern province)” do tác
tài liệu kinh tế. Đặc biệt, Todaro và Harris đã đưa ra các mô hình di cư để
kiểm tra tỷ lệ di cư tập trung giữa các khu vực với tỷ lệ chênh lệch mức lương
trong thị trường lao động nông thôn và thành thị. Nghiên cứu cũng chỉ rõ sự
chênh lệch giữa chi phí sống và thu nhập của người di cư ở cả nơi đi và nơi
đến. Trong đó, đa phần di cư đi làm ăn ở các trung tâm và thành phố lớn,
thường có chi phí và thu nhập cao hơn so với những người lao động nông
thôn thuần túy. Chi phí tiêu dùng trong sinh hoạt hàng ngày lớn, buộc những
người di cư phải tích góp, tiết kiệm và làm thêm rất nhiều công việc phụ,
đồng thời phải làm tăng ca để có thêm thu nhập mưu sinh ở các thành phố
lớn. Nghiên cứu cho thấy, đa phần người di cư đều nhận định rằng cuộc sống
tuy vất vả, nhưng họ không bao giờ từ bỏ ý định trở về quê hương lập nghiệp.
Số tiền họ kiếm được, thường được gửi về quê hương để người thân chăm sóc
con cái và mua thuốc khi ốm đau. Một bộ phận nhỏ người di cư có mức thu
10 nhập cao hơn thường tích góp tiền về quê hương để đầu tư phát triển dịch vụ
phi nông nghiệp. Nghiên cứu đã làm toát lên một bức tranh khá thực tế về vấn
đề di cư hiện nay trong đời sống xã hội ở các nước phát triển. Vận dụng
nghiên cứu vào luận văn, sẽ góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân thúc đẩy di cư
lao động rời bỏ quê hương đi làm ăn ở các khu đô thị hiện nay.
Bài viết “Về vai trò của di cư nông thôn – đô thị trong sự nghiệp phát
triển nông thôn hiện nay” của Đặng Nguyên Anh (tạp chí Xã Hội Học số
4(60),1997). Bài viết đã khai thác thêm một khía cạnh của bức tranh lao động
di cư từ nông thôn ra thành thị, nêu bật tầm quan trọng di cư trong sự nghiệp
phát triển công nghiệp hóa và hiện đại hóa hiện nay. Đó là xu thế tất yếu ở
nước ta hay bất kỳ ở một quốc gia nào khác trên đường hiện đại hóa, bởi vì di
cư là một trong những đặc trưng cơ bản của quá trình phát triển. Bài viết nêu
lên được những đặc điểm, vai trò cũng như định hướng chính sách cho lao
động di cư nông thôn – đô thị hiện nay.
Nam” do tác hai tác giả Lê Bạch Dương và Nguyễn Thanh Liêm chủ biên.
Cuốn sách này là báo cáo tổng kết nghiên cứu về ảnh hưởng của di cư
nông thôn – thành thị được Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện năm
2008 tại 4 tỉnh/thành phố: Thái Bình (miền Bắc), Tiền Giang (miền Nam), là
hai tỉnh có nhiều người di cư ra thành phố; Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
là hai thành phố đông người nhập cư nhất trong cả nước. Mục tiêu chính của
nghiên cứu này là nhằm cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động
của di cư. Từ đó có thể thay đổi quan điểm phổ biến theo hướng tích cực là
nhìn nhận những đóng góp và vai trò của di cư đối với phát triển. Chúng tôi
mong rằng các bằng chứng về những đóng góp của di cư đến xóa đói giảm
nghèo ở quê hương và đến sự phát triển ở các đô thị sẽ góp phần tạo được sự
đồng thuận của chính quyền cũng như xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi của
người di cư, giúp họ giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống ở thành thị.
12 Trong cuốn “Lao động di cư ở nông thôn miền trung Việt Nam thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ” của Lê Thị Kim
Lan( chủ biên) cùng nhóm nghiên cứu của trường Đại Học Khoa Học, Đại
Học Huế thực hiện từ đầu năm 2009 đến cuối 2010. Với sáu phần chính
của cuốn sách, vẽ nên một bức tranh sinh động về những lao động di cư ở
miền trung Việt nam khi họ di cư ra các đô thị lớn và cả nước ngoài. Cuốn
sách chuyên khảo về di cư này là những câu chuyện của từng cá nhân di cư
điển hình qua đó nêu bật được thực trạng chung của lao dộng di cư miền
trung. Đồng thời cũng nêu ra những khuyến nghị giải pháp dành cho đối
tượng di cư này.
Thêm một báo cáo của Đặng Nguyên Anh về “Di dân trong nước: vận
hội và thách thức đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt Nam”
Báo cáo tập trung nghiên cứu vào những chiều cạnh chính của quá trình
di dân, đem lại những vận hội, vừa đưa đến những thách thức cho công cuộc
Nội dung nghiên cứu: do hạn chế về nguồn lực và thời gian, đề tài tập
trung vào tìm hiểu nội dung chủ yếu sau:
- Việc làm và thu nhập, đời sống của người lao động Đài Loan tại Kỳ
Anh
- Giới hạn khách thể nghiên cứu: do điều kiện tiếp cận lao động Đài
Loan không thuận lợi, nên đề tài chỉ khảo sát nhóm lao động làm việc gián
tiếp, mà không khảo sát nhóm lao động trực tiếp.
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Đặc trưng cơ cấu và nhân khẩu học của nhóm lao động Đài Loan ở Kỳ
Anh như nào ?
14 - Đặc trưng về đời sống lao động Đài Loan tại Kỳ Anh diễn ra như
thế nào?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Lao động Đài Loan ở Kỳ Anh chủ yếu làm những công việc có trình độ
kỹ thuật và thu nhập ở mức trung bình khá.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu
6.1.1. Phân tích tài liệu
Phương pháp này nhằm cung cấp những tri thức ban đầu về vấn đề
nghiên cứu làm nền tảng cho việc xây dựng mục tiêu, phương hướng của đề
tài. Đồng thời, các thông tin cũng sẽ được sử dụng vào quá trình thực hiện đề
tài nhằm làm rõ thêm vấn đề đời sống lao động di cư Đài Loan.
Các nguồn tài liệu đã được xem xét, tập hợp và xử lý. Phương pháp
phân tích tài liệu truyền thống này được sử dụng để phân tích các công
trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, các báo cáo của địa phương cũng
như của dự án để có cái nhìn tổng quan về đời sống của các lao động Đài
120
100,0 2 Tình trạng hôn
nhân
Chưa kết hôn
51
42,5
Đã kết hôn
63
52,5
Ly dị, góa
6
5,0 3 Trình độ học vấn
Cao đẳng
4
3,3
Đại học
42
nơi làm việc và ở bên ngoài xã hội, giải thích những quan niệm, lí do chọn lựa
điểm đến làm việc, cũng như các nhu cầu về công việc và đời sống sinh hoạt
của lao động di cư quốc tế. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đóng góp một phần
nhỏ vào nghiên cứu lao động di cư quốc tế.
6.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần phác họa chân dung đời sống
các lao động di cư Đài Loan ở Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu của đề
tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm
khi nghiên cứu về đời sống lao động nước ngoài tại Việt Nam. 17 7. Khung phân tích
Chính
sáchđối
với lao
động nước
ngoài
Đời sống
vật chất
(thu nhập,
ăn, ở….) Đời sống
tinh thần
(vui chơi,
giải trí…)
Đời sống
của lao
động di
cƣ Đài
Loan ở
Việt Nam
18 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ
dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người lánh nạn,
người tị nạn, người di cư kinh tế và những di chuyển vì những mục đích khác,
trong đó có đoàn tụ gia đình.” [35, tr. 73]
1.1.1.2.Khái niệm di cư quốc tế
Theo quan điểm của tổ chức di cư quốc tế (ILO) thì lao động di cư quốc
tế là sự di chuyển của những người rời nước gốc hoặc nước cư trứ thường
xuyên để tạo lập cuộc sống mới tại một nước khác, kể cả tạm thời hoặc lâu
dài vì thế họ phải vượt qua một biên giới quốc tế [35, tr. 60]
1.1.1.3. Khái niệm người di cư công việc
Một người được phép nhập cảnh trong thời hạn nhất định để nắm giữ
một vị trí được đề cử trước với sự bảo lãnh của chủ sử dụng lao động bản địa,
thường với một cương vị chuyên gia hay quản lí [35, tr. 16]
1.1.1.4. Khái niệm lao động
Khái niệm lao động được hiểu theo cách của kinh tế học đó chính là yếu
tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu
cầu về hàng hóa này là người sản xuất , còn người cung cấp hàng hóa này là
người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao
đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động.
Còn theo bộ luật lao động Việt Nam, lao động là hoạt động quan trọng
nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự
phát triển của đất nước.
20 1.1.1.5. Khái niệm lao động di cư
“Lao động di cư là người rời quê hương đi tìm việc làm ở những thành
phố lớn hay nước ngoài với mong muốn thu nhập khá hơn, có cuộc sống tốt
hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần. Chẳng hạn, những giá trị tinh
thần bao giờ cũng phải được tồn tại, phát triển thông qua một số cơ sở,
phương tiện vật chất như nhà in, đài phát thanh, đài truyền hình, thư viện,
viện bảo tàng… và được vật chất hoá dưới nhiều hình thức như sách báo,
tranh ảnh, băng hình, băng nhạc, tượng đài, đình chùa [55]
1.1.1.9. Khái niệm đời sống tinh thần
Trong triết học định nghĩa đời sống tinh thần được hiểu bao gồm tất cả
những gì liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần
đến những hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản
xuất tinh thần, phân phối, tiêu dùng giá trị tinh thần ) đến những quan hệ tinh
thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần ). Nói đến đời sống tinh thần là nói
đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những
hiện tượng, những quá trình tinh thần. Với ý nghĩa như vậy, nội dung phạm
trù đời sống tinh thần được hiểu như sau: Đời sống tinh thần là tất cả những
giá trị, sản phẩm, hiện tượng, những quá trình, những hoạt động, những quan
hệ tinh thần của con người phản ánh đời sống .[55]
1.1.2. Lý thuyết áp dụng
1.1.2.1. Lý thuyết lao động di cư của Ernest Ravenstein
Lý thuyết Ravestein là một trong những lí thuyết di cư sớm nhất của
trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỷ 19 ở Châu Âu. Ngay từ năm
1989, Ravestein đưa một số nhận định đáng chú ý trong bài viết “Luật lệ di
cư” in trên tạp chí of Royal Statistical Society. Theo đó, Ravestein khẳng
định di cư xảy ra sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp
hóa và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia. Và quan
22 trọng nhất là di cư bị quyết định bởi những ước muốn của con người về một
đời sống tốt vật chất tốt đẹp hơn. Lý thuyết Ravenstein chú trọng vào yếu tố
kinh tế, xem đây là nguyên nhân chính khiến con người quyết định đến lập
nhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn
nhau thông qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích
chung, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục,những mối quan hệ niềm tin,
kiến thức và uy tín.
Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kết giữa các cá nhân
hay giữa các nhóm dân cư nhất định. Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối
liên hệ, cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối các mối liên hệ đó. Mạng
lưới xã hội được sử dụng nhằm mục đích nhất định [1, tr. 16].
Đồ thị những mối quan hệ xác định, các nút thắt gắn kết cá nhân với
xã hội chính là những mối liên hệ xã hội của cá nhân đó. Mạng lưới xã hội
có thể dùng để kiểm tra vốn xã hội – giá trị mà các cá nhân có được từ
mạng lưới xã hội.
Lý thuyết về mạng lưới xã hội là một cách tiếp cận liên quan đến các
nghiên cứu về xã hội học, nhân học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội.
Mạng lưới xã hội là một cách tiếp cận mới với công cụ nghiên cứu được xây
dựng trên 4 định đề cơ bản:
- Các cá nhân cá thể hoá trong các mối quan hệ
- Các kinh nghiệm được sử dụng và mang ý nghĩa trong các hệ thống các mối
quan hệ.
- Các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và các
biểu hiện của nó.
- Nghiên cứu các mối quan hệ giúp ta hiểu được các hiện tượng xã hội