1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ TRẦN THANH HOA SỰ ĐÓNG GÓP CỦA NGƢỜI DÂN
VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG TẠI ĐÌNH, CHÙA
(QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP LÀNG GIANG XÁ, HOÀI ĐỨC, HÀ
NỘI) Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS LÂM BÁ NAM HÀ NỘI - 2009
2
1.2.2. Tình hình dân cư
24
1.2.3. Đời sống kinh tế
24
1.2.4 Các thiết chế văn hoá và hoạt động tế tự, lễ hội của làng
26
CHƢƠNG 2: Hoạt động công đức từ góc độ kinh tế
30
2.1 Công đức trong các hoạt động tu sửa, tôn tạo
30
2.2 Công đức trong các hoạt động tế tự thường ngày
33
2.3 Công đức trong các lễ hội của làng
35
2.4 Các hoạt động công đức đặc biệt khác
59
3
CHƢƠNG 3: Hoạt động công đức và những tác động đối với ngƣời
dân và cộng đồng
64
3.1 Các lý do công đức của người dân
65
3.2. Các đồng thuận xã hội
67
3.3. Các xung đột trong quản lý, sử dụng công quỹ và những đóng góp
vượt trội
70
3.4 Các động thái biến chuyển văn hoá xã hội của cộng đồng nông thôn
76
hàng chục năm, do hoàn cảnh khách quan, đặc biệt là do chiến tranh và một
số lý do về mặt chính sách văn hóa mà đình, chùa bị phá hủy, xuống cấp
nghiêm trọng; đời sống tôn giáo tín ngưỡng không được duy trì, thậm chí bị
coi là mê tín dị đoan, cần phải loại bỏ. Vì thế, nhiều sinh hoạt văn hóa cộng
đồng gắn với đình, chùa trong thời gian dài không được tổ chức. Kết quả là,
ở hầu hết các làng xã, các tổ chức xã hội phi quan phương gắn với các loại
hình sinh hoạt văn hoá này bị thu hẹp, mai một dần. Cho đến giữa những
năm 80 của thế kỷ XX, với đường lối đổi mới của Đảng, đời sống của nhân
5
dân có bước chuyển biến căn bản. Cùng với sự cải thiện điều kiện sống, gia
tăng mức sống, quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội ở nông thôn là những
cơ sở để nhu cầu tâm linh bị dồn nén từ lâu nay được dịp “bung ra” một
cách mạnh mẽ, ngược hẳn lại với tình hình trước đó của những năm 60, 70
của thế kỷ trước.
Các nhà quản lý đã nhận thức được nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng là nhu
cầu có thực, khách quan của nhân dân, nhu cầu này cần phải được thoả mãn
một cách chính đáng… Tuy nhiên để đánh giá tác động của quá trình đó
không phải đơn giản. Đình và chùa là nơi diễn ra các hoạt động tế tự theo
mùa, theo các ngày sóc vọng mỗi tháng hoặc các hoạt động tế tự trong
ngày. Với các lễ hội đình, chùa cũng như cúng hàng tháng, hai trung tâm
văn hoá này đã thu hút được sự đóng góp của nhiều cá nhân, tổ chức xã hội
trong và ngoài cộng đồng, tạo nên sức sống mãnh liệt của các hoạt động
văn hoá truyền thống trong đời sống các cộng đồng nông thôn vùng đồng
bằng Sông Hồng. Sự đóng góp của người dân trong các hoạt động tế tự tại
đình, chùa trong bối cảnh gia tăng mức sống và quá trình tự do tôn giáo tín
ngưỡng sau đổi mới, cả về số lượng, tần suất, kèm theo đó là các quan điểm
sống, các tâm tư, nguyện vọng của mỗi nhóm xã hội trong cộng đồng ký
thác qua sự đóng góp đó, đã là một chủ đề nghiên cứu có sức thu hút lớn.
Để góp phần vào việc nghiên cứu đời sống văn hoá vật chất và tinh
- Nghiên cứu sự tham dự của các nhóm xã hội trong cộng đồng như
một biểu hiện tăng cường tính dân chủ, sự phân tầng xã hội, sự cân bằng
các khía cạnh tinh thần và vật chất của người dân, mối quan hệ cá nhân và
cộng đồng.
- Góp phần vào sự nhận diện quá trình biến chuyển của xã hội nông
thôn Việt Nam trước quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay, cách
7
ứng xử của cộng đồng đương đại với vấn đề bảo lưu truyền thống trong xã
hội đang được đô thị hóa nhanh chóng như ở làng Giang Xá.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Đề tài nghiên cứu của luận văn là sự đóng góp của người dân, trong đó
những đóng góp về tài chính là chủ yếu, của cộng đồng vào các hoạt động
tại đình, chùa, qua một nghiên cứu trường hợp. Song các tư liệu về vấn đề
này cũng còn rất mỏng, chủ yếu trên các phương tiện truyền thông đại
chúng là báo viết và trên các website, mang tính chất phản ánh các vấn đề
thời sự cấp bách đặt ra vào thời điểm đó.
Đầu tiên phải kể đến các tài liệu viết về đình, chùa và lễ hội. Đây là
mảng tư liệu có tính chất nền tảng cho luận văn, với nhiều tác phẩm được
viết qua các thời kỳ, trên các tạp chí nghiên cứu trong nước như Tạp chí
Kiến trúc, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Tạp
chí Dân tộc học, Tạp chí Khảo cổ học, cũng như tại một số nhà xuất bản.
Đó là các công trình của nhóm tác giả Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự với
nhan đề tiếng Anh: Community Halls in Vietnam, nhà xuất bản Khoa học
Xã hội xuất bản năm 1998. Cuốn “Chùa Việt Nam”, xuất bản năm 2008 của
Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự và Phạm Ngọc Long. Các công trình nghiên
cứu của Chu Quang Trứ, Trần Lâm Biền, Nguyễn Du Chi cũng làm sáng tỏ
các giá trị của đình và chùa trong đời sống nông thôn truyền thống và hiện
tại. Bên cạnh các mô tả về kiến trúc và điêu khắc đình, chùa, các tác phẩm
trên cũng khẳng định đình, chùa là trung tâm của đời sống sinh hoạt văn
a”
của tác giả Hồng Quang, trích trên website phongthuy.net.vn (09/03/2010 -
). Các bài viết phản ánh khá chân thực thực trạng
công đức tiền, hiện vật vào các đình chùa. Phổ biến hơn cả là cúng tiến xây
chùa, công đức vào các dịp sóc vọng tại chùa và đóng góp tiền công đức tại
các lễ hội quy mô lớn trong vùng. Đây là hoạt động vốn trở thành truyền
thống của người Việt từ hàng ngàn năm nay và có xu hướng ngày càng gia
tăng theo quy luật “phú quý sinh lễ nghĩa”. Cũng theo các bài viết, động
thái của người dân trong các hoạt động công đức này là xuất phát từ tâm
nguyện làm việc thiện, cầu phúc, cầu tài, chút tiền gọi là “tiền giọt dầu” đặt
vào chùa để nhà chùa chăm lo đèn nhang hàng ngày, cầu mong được nhà
Phật ghi nhận tấm lòng thành tâm. Cũng có những ý kiến khá trái chiều,
tiêu biểu như ý kiến của Giáo sư Trần Lâm Biền: không ít người tham gia
lễ hội để cầu tiền tài, chức tước, danh vọng hoặc coi lễ hội chỉ như một
điểm vui chơi, giải trí. Xu thế này ngày càng rộ lên ở giới trẻ. Không ai nói
rằng việc cầu tài lộc, địa vị, chức tước là không chính đáng, nhưng xét kỹ
9
thì đó là điều đáng lo, bởi đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng thương mại hóa, "đời" hóa lễ hội. Ông còn gọi đây là sự “hối lộ”
thần thánh, trong bài: “Mặt trái tại các lễ hội: cần sớm dẹp bỏ ”, đăng báo
Hà Nội mới, ngày 13/3/2009 [11; tr5]
Bên cạnh đó, có nhiều bài báo đưa tin về hoạt động từ thiện của các
nhân vật nổi tiếng, như bài: “Hương Lan, Đàm Vĩnh Hưng quyên tiền xây
chùa”, của Thoại Hà trên báo Phật tử Việt Nam (),
được sự quan tâm của nhiều độc giả.
Tuy vậy, một thực trạng khá phổ biến hiện nay là người dân đặt tiền
khá tùy tiện, bừa bãi, không vào đúng nơi quy định gây hình ảnh mất phản
cảm. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết và ý thức của người dân,
cộng với sự quá tải trong các hoạt động cúng lễ. Số lượng các hòm tiền
cho thủ nhang, thủ đền quản lý… Vì thế, nguồn tiền này gần như không thể
kiểm soát được. Chính do không quản lý được số tiền cúng tiến nên cũng
dẫn tới tình trạng tu sử di tích còn tùy tiện nhất nhất là tại các di tích do các
thủ nhang, thủ đền đứng ra trông nom. Thậm chí nhiều nơi còn xẩy ra tình
trạng gia đình hóa di tích, di tích hóa gia đình…
Thực tế là, vấn đề quản lý về mặt tài chính trong các hoạt động tại
đình chùa vốn là tồn tại lớn mà cơ quan chủ quản là Bộ Văn hóa - Thể thao
và Du lịch cũng đang tìm cách tháo gỡ và đưa ra những quy chế chung. Bộ
sẽ kiến nghị Bộ Tài chính xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý
và sử dụng các nguồn thu này từ lễ hội và di tích để đảm bảo mục tiêu xã
hội hóa của lễ hội được thực hiện đúng. Song, chúng ta chỉ có thể tiếp tục
trông chờ những văn bản chặt chẽ và phù hợp hơn trong tương lai gần.
Tóm lại, các nghiên cứu chuyên sâu về những đóng góp về mặt tài
chính của cộng đồng đối với các sinh hoạt của đình, chùa tuy chưa xuất
11
hiện trong hệ thống nghiên cứu mang tính chuyên khảo, nhưng luôn là sự
quan tâm của báo chí và dư luận.
Cuối cùng, là nhóm các tư liệu viết về nơi chúng tôi khảo sát và
nghiên cứu. Trong các thư tịch cổ, đình và chùa làng Giang Xá đã được ghi
chép như những ngôi đình và chùa nổi tiếng của tỉnh Hà Tây (cũ), ở đây có
lễ hội đình tôn vinh Đức Thượng đẳng thần được tôn Thánh, được tổ chức
theo qui mô nghi lễ của triều đình, ngày xưa, phải 5, 10 hay 15 năm lễ hội
mới được tổ chức một lần, nay tổ chức cách nhau 5 năm (2004 và gần đây
nhất là 2010); có lễ hội chùa được coi là lễ hội Phật giáo lớn của vùng. Với
làng Giang Xá, đã có hai khóa luận tốt nghiệp đại học nghiên cứu về lễ hội
và các tổ chức phi quan phương trong làng xã của Nguyễn Thị Thanh Hoa,
thực hiện năm 2004, và của Bùi Thị Kim Phương thực hiện năm 2005. Đây
là hai nghiên cứu khá chi tiết về hội làng và sự vận hành của các tổ chức xã
hội trong làng xã, thông qua việc nghiên cứu này, luận văn này đã có những
động tế tự khác.
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu công đức của người dân trong làng
trong các năm từ 2008 đến 2010, trong đó hai năm 2008 và 2009 là không
tổ chức lễ hội đình với quy mô lớn, nên chủ yếu là thu thập các số liệu định
lượng; năm 2010 là năm tổ chức lễ hội đình theo chu kỳ 5 năm (đại đám),
chủ yếu là thu thập các dữ liệu định tính, quan sát, chụp ảnh, các dữ liệu
định lượng chưa thể tập hợp được do thời điểm tổ chức lễ hội rất gần với
thời điểm kết thúc luận văn, Ban Khánh Tiết chưa công bố. Có một số dữ
liệu từ ngay thời kỳ đầu tu sửa lớn đình (1998), chùa (2001), tuy không đầy
đủ, đã được chúng tôi thu thập và đưa vào nghiên cứu để thấy được tính
chất lâu bền của các hoạt động đóng góp của người dân.
13
Do những hạn chế về sự tiếp cận các số liệu thống kê từ các năm trước
nên tác giả luận văn thiếu những cơ sở phân tích dài hơi hơn về chủ đề này.
Các cuộc chuyển giao về nhân sự trong Ban Khánh Tiết hàng năm, việc lưu
trữ chưa được khoa học tại đình, chùa đã không cho phép có được những
dãy số liệu có thể so sánh dài hơn trong dịp lễ hội. Có một số mảng vấn đề
có thể có được số liệu, nhất là các đóng góp của người dân vào tu sửa đình,
chùa, công đức các khoản lớn, các khoản nhỏ có thể còn chưa đầy đủ do
các hoạt động ghi chép ở đây còn có những thiếu sót, lưu trữ không khoa
học.
Đây là lý do khách quan khiến cho luận văn chưa có được đầy đủ dữ
liệu. Phần lớn chúng được ghi chép trong những cuốn sổ còn lưu giữ của
các cá nhân đã tham gia vào việc quản lý tài chính tại đình, chùa. Các sổ
sách này đã được tổng hợp lại, đối chiếu, so sánh giữa sổ ghi chép với trí
nhớ của người dân trong hai năm. Để bảo đảm độ chính xác hơn, các số liệu
này được chúng tôi kiểm chứng bằng cách hỏi lại, so sánh với từng người
đã tham gia vào Ban Khánh Tiết theo mỗi năm.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả;
Phương pháp thống kê;
Phương pháp phân tích - tổng hợp.
5. Cấu trúc của luận văn
Để thể hiện nội dung chính nêu trên, kết cấu của luận văn ngoài phần
Mở đầu và Kết luận, gồm 3 chương :
- Chương 1: Tổng quan về lý thuyết và địa bàn nghiên cứu. Chương
này đặt cơ sở lý luận cho các nghiên cứu thực tiễn của chương 2, trong đó
15
nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của cộng đồng trong các vấn đề quản lý
xã hội và văn hóa. Đây là một hướng tiếp cận về bảo tồn di sản gắn với
quan điểm phát triển bền vững.
- Chương 2: Hoạt động công đức từ góc độ kinh tế. Chương này đi sâu
phân tích các đóng góp từ góc độ kinh tế của người dân trong các dịp lễ hội,
trong tôn tạo, tu bổ di tích, cả về công sức, tiền và hiện vật tại làng Giang
Xá. Đặc biệt, đi sâu vào các so sánh về giá trị công đức xét trên các biến số
về: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, thời gian lễ hội…
- Chương 3: Hoạt động công đức và sự tác động đối với người dân và
cộng đồng. Trên nền tảng thực tiễn của một cộng đồng nông thôn đang
chuyển đổi, chương 3 tìm hiểu các lý do công đức của người dân, các tâm
tư, nguyện vọng, thái độ của họ trong hoạt động công đức. Đồng thời, đi
sâu phân tích các động thái biến chuyển bên trong dòng đóng góp tài chính
của cộng đồng dân cư: các đồng thuận xã hội, các mâu thuẫn, xung đột
trong quản lý sử dụng công quỹ và những đóng góp mang tính vượt trội.
Những phân tích mang tính chất định tính này kết hợp với phân tích định
lượng ở chương 2 cho ta cái nhìn khá toàn diện, đa chiều về hoạt động công
đức, những xu hướng, tác động đối với người dân của một cộng đồng làng
trong cơn lốc đô thị hóa, hiện đại hóa
Mặc dù đã hết sức cố gắng trong quá trình điền dã, thu thập tư liệu,
nước và người dân để thực hiện các công trình phúc lợi công cộng như xây
dựng hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi, nước sạch, xây
dựng trường học, trạm y tế, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, quản lý các
17
hoạt động văn hóa tinh thần v.v Đây là sự cộng tác từ trên xuống, từ dưới
lên, thay vì cách tiếp cận chỉ từ trên xuống từ phía nhà nước [25, tr.10,11].
Cách tiếp cận không mang tính áp đặt từ trên xuống, dựa vào nhu cầu
cụ thể của từng cộng đồng, nhóm xã hội là đặc điểm lớn nhất của phong
trào này. Số cộng đồng “trắng” về cơ sở hạ tầng được giảm đi, nhiều chỉ số
phát triển kinh tế-xã hội được cải thiện, đặc biệt, sự thay đổi về nhận thức,
hành vi của người dân để tiếp nhận tiến trình hiện đại hoá và phát triển, sự
tham dự của người dân vào các tiến trình ra quyết định của hệ thống công
quyền, triển khai các dự án phát triển, giám sát và phản biện xã hội đã được
nâng cao hơn.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới
thiệu vào giữa thập kỷ 50 thông qua một số các hoạt động phát triển cộng
đồng tại các tỉnh phía Nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục,
phát triển cộng đồng chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội. Thập kỷ 60-70
hoạt động phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương trình
phát triển nông thôn của sinh viên, của phong trào Phật giáo Từ thập kỷ
80 cho đến nay, phát triển cộng đồng được biết đến một cách rộng rãi hơn
qua các chương trình viện trợ phát triển của nước ngoài tại Việt Nam, ở đó,
chúng cần có sự tham dự của người dân tại cộng đồng như một trong những
nhân tố quyết định để chương trình đạt được tính hiệu quả bền vững. Các
chương trình hoặc dự án thuộc nhiều lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông
thôn, tín dụng, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia
đình đã phổ cập hoá những quan niệm và phương pháp cơ bản về phát
triển cộng đồng tại Việt Nam trên một quy mô và chất lượng mới. Kinh
nghiệm về phát triển cộng đồng đã được chúng ta tích luỹ phong phú hơn
1
2
3
Nguyên lý tương đối
Nguyên lý bền vững
Nguyên lý đa dạng
19
Trong lý thuyết phát triển cộng đồng, có 3 lĩnh vực mà nó quan tâm
đặc biệt:
- Các chỉ số phát triển cơ sở hạ tầng, nói theo ngôn ngữ thông dụng ở
nông thôn nước ta hiện nay là điện, đường, trường, trạm. Đây là những yếu
tố cơ bản, vừa là thước đo trình độ phát triển một cộng đồng, vừa là điều
kiện cho sự phát triển của mỗi cộng đồng. Cơ sở hạ tầng là một chỉ báo
tổng hợp kinh tế-xã hội, vừa có ý nghĩa là các cơ sở vật chất kỹ thuật, vừa
có ý nghĩa là các thành tựu tinh thần của một xã hội. Cơ sở hạ tầng là cốt
lõi của môi trường nhân tạo.
- Những chỉ số phát triển bền vững. Đây là những quan niệm mở rộng,
có một loạt các chỉ số có liên quan như chỉ số bảo vệ môi trường, phát triển
con người. Phát triển kinh tế-xã hội mà không bảo vệ môi trường thì có
nguy cơ sẽ dẫn tới mặt trái của nó, tức là suy thoái mà thế giới hiện đại đã
có quá nhiều bài học.
Giải quyết các vấn đề phát triển một cách tổng thể, thay vì chỉ chú
trọng, chạy theo sự tăng trưởng kinh tế bằng bất cứ giá nào. Dưới cách
hiểu này, nhân danh sự tiến bộ về văn minh, nhân danh một tư duy phát
triển theo kiểu lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng để “đánh giá“, “xem xét”
các tư duy và cách làm khác, cho rằng đó là không tiến bộ, chậm phát triển,
là một cách nhìn có tính áp đặt. Các quốc gia, các cộng đồng có thể tìm
mục tiêu phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Từ sáng kiến của các
chính họ. Tính bền vững của các hoạt động phát triển cần phải có những
nguyên tắc làm việc mới, những phương pháp mới đáp ứng những đòi hỏi
1
ở cấp độ phát triển cộng đồng, khái niệm phát triển được thao tác hoá bằng một loạt các chỉ
báo đo như: (1) Các nhóm thiệt thòi có thể cải thiện điều kiện sống và thoả mãn các nhu cầu cơ
bản như việc làm, nhà ở, có khả năng trả các phí dịch vụ xã hội cơ bản như học hành, chữa
bệnh; (2) Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng; (3) Tăng quyền lực của người dân trong các quyết
định của cộng đồng; (4) Giảm nghèo, giảm thất nghiệp, quyền con người và công bằng xã hội
được củng cố (UN Centre for Regional Development. 1988)
21
của thực tiễn cuộc sống. Quá trình xác định nhu cầu, lập kế hoạch can thiệp
đã dựa trên một tư duy mới là: thay vì bên ngoài làm hộ, người dân ở mỗi
cộng đồng phải tự mình đứng ra giải quyết những vấn đề của riêng mình, sự
giúp đỡ của bên ngoài chỉ có tính chất hỗ trợ, không mang tính quyết định.
Thiếu hụt sự hưởng ứng, ý chí và nỗ lực của nhân dân là một trong
những nguyên nhân cho sự thất bại của nhiều chương trình phát triển cộng
đồng. Ngoài nguyên nhân là quá chú trọng các biện pháp hỗ trợ mang tính
cấp cứu, từ thiện hơn là các biện pháp hỗ trợ phát triển, tính bền vững của
các chương trình không được duy trì sau khi các dự án rút đi là do cách đặt
vấn đề có tính áp đặt từ trên xuống (Top down), thay vì cần có một cách đặt
vấn đề từ dưới lên (Bottom up). Về mặt tư tưởng, thói quen tư duy và
phương pháp làm việc, cách làm việc mới này vẫn còn khá xa lạ với cách
nghĩ, cách làm mệnh lệnh, mang tính áp đặt từ trên xuống, bên dưới chỉ có
một cách thực hiện chúng. Phát triển cộng đồng khuyến khích sáng kiến từ
dưới lên, với sự kết hợp với chính người dân để giải quyết vấn đề của cộng
đồng. Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước
ngoặt. Nhiều hình thức hợp tác tự nguyện mới như các tổ liên kết ở nông
thôn, các hợp tác xã ngành nghề, buôn bán ở thành thị là dấu hiệu rất tích
mà còn giúp cho người dân khả năng phân tích tình hình, giác ngộ về hoàn
cảnh của mình, kỹ năng tổ chức để tự quản và đi lên bằng chính sức của
mình. Phát triển cộng đồng là ngành khoa học đáp ứng yêu cầu này. Các
chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xoá đói giảm nghèo là những ví
dụ điển hình của cách làm này. Sự tự nguyện mới có thể khắc phục được
tình trạng nghèo, bệnh tật và thất học bằng nỗ lực của toàn cộng đồng. Sự
biến chuyển chỉ có nhờ thay đổi phương pháp luận và phương pháp tiến
hành cụ thể.
23
Nhu cầu từ thực tiễn đặt ra là cần phải có quan điểm và phương pháp
vận động và tổ chức quần chúng, những phẩm chất của các nhà hoạt động
xã hội cho mỗi cán bộ làm công tác phát triển cộng đồng. Phát triển cộng
đồng sẽ đóng góp tích cực cho giai đoạn phát triển mới, là tinh thần và kỹ
năng hợp tác, kiến thức, kỹ năng tổ chức, quản lý. Đặc biệt, với triết lý
tham dự, các hoạt động phát triển cộng đồng đã có một hướng phát triển
mới, nhấn mạnh đến việc thu hút người dân vào các hoạt động phát triển.
1.1.3. Bảo tồn di sản có sự tham dự của cộng đồng:
Trong lĩnh vực văn hóa, lý thuyết phát triển cộng đồng được thấm sâu
và thực hành một cách sâu rộng trong các vấn đề bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa trong đời sống đương đại. Các lý thuyết mới trong nhân học hiện
đại, đặc biệt là lý thuyết tương đối văn hóa đã góp phần vào quá trình này.
Trên thế giới hiện nay, khái niệm di sản thế giới là di chỉ hay di tích
của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc
hay thành phố do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử
cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi
UNESCO. Chương trình Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn
những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại
chung theo Công ước di sản thế giới, được Đại hội đồng UNESCO chấp
nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972. Nhằm bảo vệ các di sản văn hóa ngày
ở kiến thức mà nghệ nhân nắm giữ, như các bài bản hay trình độ kỹ thuật
mà họ thể hiện, có vai trò xứng đáng với cộng đồng, có sự cống hiến, tham
gia vào đời sống văn hóa cộng đồng.
Bảo tồn di sản văn hóa hiện nay đã được các học giả hết sức quan tâm
và có những công trình đã trình bày về những vấn đề lý luận này. Những tri
thức này hiện nay rất phổ biến trong giới nghiên cứu văn hóa, thậm chí ở
25
Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề lý luận này.
Ashworth, một học giả có uy tín hiện nay, đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di
sản ở nhiều nước trên thế giới thành ba quan điểm và tương ứng với nó là
ba mô hình bảo tồn di sản [28, tr 32]:
Bảo tồn y nguyên: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn
hóa vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng, các sản
phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có. Quan
điểm này phát triển từ năm 1850 và thịnh hành một thời gian dài. Các nhà
bảo tàng học nước ta cũng chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi quan điểm này.
Đối với lễ hội truyền thống - một loại hình văn hóa phi vật thể - thì
việc xác định đâu là các yếu tố nguyên gốc sẽ gặp phải những khó khăn.
Một mặt, những thay đổi lịch sử tác động đến sự biến đổi về chức năng của
các lễ hội dẫn đến biến đổi cấu trúc lễ hội, mặt khác, bất cứ một lễ hội nào
cũng tự tích hợp những yếu tố văn hóa của thời đại hoặc ngoại lai (dù vô
tình hay hữu ý) để thích nghi với từng thời đại.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm này thừa nhận sự biến đổi của
di sản, nhưng lại cực đoan cho rằng mỗi di sản có nhiệm vụ lịch sử ở những
không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được
phát huy cho phù hợp với nhu cầu thời đại, ngược lại những mặt tiêu cực
phải bị loại bỏ. Di sản, nhất là di sản văn hóa phi vật thể luôn là một thực
thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/tiêu cực; tiến
bộ/lạc hậu; tốt/xấu Vì thế, khi chúng bị chia cắt một cách siêu hình thì lập