ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ YỂNG
TÍN NGƢỠNG THÀNH HOÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
(QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP LÀNG ỐC NHIÊU,
XÃ ĐỒNG THAN, HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƢNG YÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC LỜI CẢM ƠN
Sau ba năm học tập, được các thầy cô nhiệt tình giúp đỡ, tôi đã hoàn
thành nhiệm vụ học tập và luận văn của mình. Để có được kết quả này, trước
tiên cho phép tôi chân thành cảm ơn Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
học tập và hoàn thành khóa học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô cùng toàn thể cán bộ, nhân viên
Khoa Triết học đã tạo mọi điều kiện, chỉ bảo tận tình và động viên tôi học tập
cũng như đóng góp ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo chủ nhiệm, PGS.TS. Trần Thị Kim
Oanh, cùng tập thể lớp K20 Khoa Triết học, chuyên ngành Tôn giáo học đã
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Chƣơng 2 . THỰC TRẠNG TÍN NGƢỠNG THÀNH HOÀNG LÀNG ỐC
NHIÊU 28
2.1. Các vị Thành hoàng làng Ốc Nhiêu 28
2.1.1. Thần tích các vị Thành hoàng làng Ốc Nhiêu 28
2.1.2. Thần sắc các vị Thành hoàng làng Ốc Nhiêu 35
2.2. Cơ sở thờ tự của tín ngƣỡng Thành hoàng làng Ốc Nhiêu 39
2.2.1. Lịch sử hình thành, quá trình trùng tu tôn tạo 39
2.2.2. Vị thế đất, hướng đình Ốc Nhiêu 40
2.2.3. Kết cấu của ngôi đình Ốc Nhiêu 43
2.2.4. Một số di vật 45
2.3. Các nghi lễ, nghi thức liên quan đến tín ngưỡng Thành hoàng làng Ốc
Nhiêu 46
2.3.1. Lý luận chung về lễ hội Đồng bằng Bắc Bộ 46
2.3.2. Lễ hội làng Ốc Nhiêu 47
Chƣơng 3 . TÍN NGƢỠNG THÀNH HOÀNG LÀNG ỐC NHIÊU; VAI TRÒ – GIÁ
TRỊ, XU THẾ VẬN ĐỘNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 57
3.1. Vai trò và giá trị của tín ngƣỡng Thành hoàng đối với đời sống ngƣời
dân làng Ốc Nhiêu 57
3.1.1. Đánh giá vai trò và giá trị của ngôi đình đối với đời sống người dân
làng Ốc Nhiêu 57
3.1.2. Đánh giá vai trò và giá trị của lễ hội làng Ốc Nhiêu đối với dân làng
Ốc Nhiêu 58
3.2. Xu thế của tín ngƣỡng Thành hoàng làng Ốc Nhiêu 63
3.2.1. Xu hướng phục hồi và phát triển tín ngưỡng Thành hoàng cả chiều
rộng lẫn chiều sâu, đồng thời bổ sung thêm những yếu tố mới 64
3.2.2. Xu hướng nghi lễ ngày càng đơn giản, nhu cầu tâm linh ngày càng
tăng 64
3.2.3. Xu hướng xuất hiện một số biểu hiện mê tín và thương mai hóa hoạt
động tín ngưỡng 66
Phụ lục 7: Sắc phong thần làng Ốc Nhiêu
Phụ lục 8: Một số hình ảnh lễ hội truyền thống làng Ốc Nhiêu
Phụ lục 9: Chúc văn đình làng Ốc Nhiêu
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đồng bằng Bắc Bộ là khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều,
có nhiều sông hồ, có nghề trồng lúa nước lâu đời; là nơi giao lưu văn hóa theo
trục Bắc - Nam, Tây - Đông. Tất cả các yếu tố ấy ảnh hưởng đến việc hình
thành nền văn hóa làng xã của người Việt truyền thống. Làng Việt vùng Đồng
bằng Bắc Bộ là nơi lưu truyền các giá trị văn hóa làng, thu giữ vào nó nhiều
loại hình tôn giáo và văn hóa truyền thống, trong đó có tín ngưỡng Thành
hoàng, một dạng thức tôn giáo truyền thống của người Việt.
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã bám rễ sâu bền, góp phần quan trọng
vào việc cố kết cộng đồng, tạo nên bản bản sắc văn hóa và tôn giáo truyền
thống của người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Bởi thế, hầu hết các làng quê
ở khu vực này đều thờ các vị thần Thành hoàng. Ngày nay, trong bối cảnh đất
nước đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tín ngưỡng Thành hoàng
không chỉ góp phần cố kết cộng đồng, mà còn là một nhân tố quan trọng giữ
gìn văn hoá truyền thống trước nguy cơ bị xâm lấn của văn hóa ngoại lai. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đáng ghi nhận, tín ngưỡng Thành hoàng
vùng Đồng bằng Bắc Bộ cũng đang xuất hiện một số mặt hạn chế cần quan
tâm. Đó là vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, trong đó
có tôn giáo truyền thống được Đảng và Nhà nước đặt ra theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 6, khóa VIII.
Tỉnh Hưng Yên nằm ở trung tâm khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, là một địa
Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài Tín ngưỡng Thành hoàng vùng
Đồng bằng Bắc Bộ (qua nghiên cứu trường hợp làng Ốc Nhiêu, xã Đồng
Than, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) làm luận văn Thạc sĩ Triết học, chuyên
ngành Tôn giáo học, nhằm làm rõ thực trạng tín ngưỡng Thành hoàng vùng
Đồng bằng Bắc Bộ, thông qua trường hợp tiêu biểu và cụ thể là làng Ốc
Nhiêu, cũng như các vấn đề đặt ra, từ đó bước đầu đưa ra một số khuyến nghị
3
và giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của
loại hình tôn giáo truyền thống này trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Tín ngưỡng Thành hoàng là mảng đề tài nhận được nhiều sự quan tâm
của các nhà nghiên cứu. Cho đến nay, khá nhiều công trình tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau như tôn giáo học, triết học, sử học, văn hóa học, khảo
cổ học, dân tộc học, mỹ thuật học, đã nghiên cứu tín ngưỡng Thành hoàng ở
Việt Nam nói chung, ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ nói riêng. Tựu trung lại, có
thể chia các công trình nghiên cứu ấy thành ba nhóm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam:
- Tác phẩm Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam của
Đặng Nghiên Vạn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003, đã đề cập đến một
số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đời sống tín ngưỡng tôn giáo ở
Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng Thành hoàng, trong bối cảnh đất nước đang
bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
sâu rộng hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ Tôn giáo học Tín ngưỡng dân gian trên địa bàn
huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh hiện nay của Nguyễn Thị Thái, Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2011, đã nghiên cứu khá toàn
diện về thực trạng và dự báo xu hướng phát triển của các loại hình thờ cúng
truyền thống trong dân chúng, trong đó có tín ngưỡng Thành hoàng, ở huyện
Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Bài viết “Thần làng và Thành hoàng” của Nguyễn Duy Hinh đăng trên
Tạp chí Di sản Văn hóa, số 7/2004, làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa
thần làng và thần Thành hoàng, giữa Thành hoàng Trung Quốc (Hán) với
Thành hoàng Việt Nam (Việt); các chức năng chính (hộ quốc tý dân), cũng
như các loại hình (thần núi, thần cây, thần đá, thần rắn, nhân thần,…) của
Thành hoàng ở nước ta. Theo tác giả, tư liệu về thần làng và thần Thành
5
hoàng, một di sản phi vật thể lớn của dân tộc, đang nhanh chóng bị mai một,
rất đáng được tiếp tục nghiên cứu.
Các công trình nêu trên, ở những chuyên ngành khác nhau, ở các mức độ
khác nhau đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến tín ngưỡng Thành hoàng
ở Việt Nam nói chung, vùng Đồng bằng Bắc Bộ nói riêng. Những tài liệu này
hữu ích và sẽ được tôi kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về tôn giáo và văn hóa tỉnh
Hưng Yên, di tích đình làng Ốc Nhiêu
Một số bài viết ngắn đăng tản mạn trên báo viết hoặc báo mạng thời gian
gần đây có liên quan nhất định đến tín ngưỡng Thành hoàng trên địa bàn này,
chẳng hạn như bài “Đất và người xứ nhãn: di tích lễ hội”, Báo Hưng Yên,
ngày 6/72006), hoặc bài “Văn hóa làng Duyên Linh, xã Đông Ninh, huyện
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” của Phạm Hữu Du đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Văn hóa (Trường Đại học Văn hóa Hà Nội), số 3.
Gần đây, Đào Thị Kim Cúc, một cán bộ của Ban Quản lý Di tích tỉnh
Hưng Yên, đã lập hồ sơ Lý lịch di tích đình Ốc Nhiêu, xã Đồng Than, Huyện
Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, để công nhận đình làng Ốc Nhiêu là di tích lịch sử
văn hóa cấp tỉnh. Hồ sơ này đề cập khái quát đến sự hình thành đình làng Ốc
Nhiêu, cũng như giới thiệu về thần tích các vị thần Thành hoàng làng Ốc
Nhiêu. Tuy nhiên, do mục đích của văn bản này là khảo sát để công nhận đình
làng Ốc Nhiêu là di tích lịch sử văn hóa, nên những thông tin liên quan đến
tín ngưỡng Thành hoàng làng Ốc Nhiêu trong hồ sơ chủ yếu dừng lại ở mức
của tín ngưỡng Thành hoàng làng Ốc Nhiêu.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam về tôn giáo và văn hóa.
7
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn chủ yếu sử dụng những phương
pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử: được sử dụng để có những nhận định khách quan và biện chứng về
đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp Khảo cổ học: được sử dụng để nghiên cứu kiến trúc và
nghệ thuật của đình làng Ốc Nhiêu, cũng như những hiện vật còn lưu lại tại
cơ sở thờ tự này.
- Phương pháp Nhân học và Xã hội học: được sử dụng để thu nhận thông
tin (thông qua phỏng vấn cán bộ địa phương và dân làng Ốc Nhiêu) về nhiều
phương diện cơ bản trực tiếp và gián tiếp liên quan đến lịch sử và hiện trạng
tín ngưỡng Thành hoàng làng Ốc Nhiêu.
- Phương pháp Văn hóa học: được sử dụng để xem xét tín ngưỡng Thành
hoàng làng Ốc Nhiêu dưới góc độ là một trong những thành tố của văn hóa
truyền thống Việt Nam.
- Phương pháp Tâm lý học: được sử dụng để nghiên cứu tâm lý người tổ
chức và tham dự lễ hội truyền thống làng Ốc Nhiêu.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
cấu luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
9
NỘI DUNG
Chƣơng 1
TÍN NGƢỠNG THÀNH HOÀNG VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU LÀNG ỐC NHIÊU
1.1. Những vấn đề lý luận liên quan đến tín ngƣỡng Thành hoàng
ngƣời Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm: Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời
sống xã hội. Trên thế giới có rất nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau. Với
nhiều cách tiếp cận khác nhau, với các mục đích khác nhau, nên cách hiểu về
tín ngưỡng của các nhà khoa học trên thế giới cũng khác nhau.
Chủ nghĩa duy tâm, đại diện là Platon, Heghen, Otto, cho rằng, tín
ngưỡng là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, là sản phẩm mang
tính nội sinh của ý thức, tồn tại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan.
Theo quan điểm của các nhà xã hội học tôn giáo, tiêu biểu như E.
Durkheim ở tác phẩm “Những hình thức sơ đẳng của đời sống tôn giáo: Hệ
thống tôtem ở châu Úc, Paris 1979, trang 50”, ông viết: “Các hiện tượng tôn
giáo một cách rất tự nhiên, được xếp vào hai phạm trù căn bản: các tín
ngưỡng và các nghi lễ. Tín ngưỡng là những trạng thái ý kiến, chúng thể hiện
thành những biểu tượng; Các nghi lễ là những phương thức hành động nhất
định. Giữa hai loại sự kiện đó, có cả một sự khác nhau tách tư duy khỏi sự
vận động”.
Từ góc độ dân tộc học, W. Schmidt trong tác phẩm: “Tôn giáo và đời
sống hiện đại (1997), tập I, thông tin khoa học chuyên đề, Hà Nội, trang 30”,
ông cho rằng, tín ngưỡng là hình thức tôn giáo sơ khai (urreligion) tiền tôn
những sự vật hoặc nhân vật nào đó. Niềm tin này không thể lý giải được bằng
logic thông thường, vì nó đối lập với tư duy khoa học.
11
Nguyễn Chí Bền từ góc độ văn hóa coi tín ngưỡng là một bộ phận cấu
thành của văn hóa, thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ,
thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người.
Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong tác phẩm: “Văn hoá Việt Nam đỉnh cao
Đại Việt, trang 351, cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của
con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người tưởng tượng
ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng, những lực lượng ấy có ảnh hưởng,
chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội
theo niềm tin thiêng liêng ấy” Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, trong tín ngưỡng
phải có yếu tố thiêng liêng liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu
linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra nó.
Tác giả M. Scott trong tác phẩm “Con đường chẳng mấy ai đi, tập II,
trang 5”, ông viết rằng: “Chúng ta dường như có xu hướng định nghĩa hai chữ
tín ngưỡng một cách quá hạn hẹp. Ta thường chỉ coi rằng, tín ngưỡng phải
gắn liền với một niềm tin nào đó vào Thượng Đế, hoặc phải gắn liền với một
số thực hành nghi lễ, hoặc phải là thành viên trong một cộng đồng phụng sự”.
Theo ông, tín ngưỡng là sự cảm nhận của con người về thế giới mà họ đang
sống, về cuộc sống xung quanh họ và về vị trí của bản thân họ trong thế giới
đó.
Như vậy, các nghiên cứu ở những góc độ khác nhau có định nghĩa khác
nhau về tín ngưỡng. Tuy nhiên, trong luận văn này, tôi đồng ý với định nghĩa
về tín ngưỡng trong tập giáo trình Tôn giáo học đại cương dành cho hệ cử
nhân tôn giáo. Theo đó, tín ngưỡng có hai nghĩa rộng và hẹp. Nghĩa rộng, tín
ngưỡng chỉ niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người về một lực lượng, một
chủ thuyết, nhưng thường được hiểu là niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên
có khả năng chi phối, thậm chí quyết định số phận của con người. Đó là tín
có miếu thờ Thành hoàng của cả nước, các tỉnh có miếu thờ Thành hoàng. Đó
đều là những vị thần linh bảo hộ một tòa thành ở trung ương hay của tỉnh. Đó
13
là hệ Thành hoàng kiểu phong kiến Trung Quốc mang tính trừu tượng, cơ bản
là bảo vệ thành trì, vô nhân xưng, do vua phong” [12, tr. 60].
Nhưng ở làng xã nước ta không có thành trì, nên người dân thờ cúng
thần thổ địa hay các vị thần trong tín ngưỡng nông nghiệp, còn mỗi phương
thì có “danh sơn, đại xuyên”, triều đình lập miếu thờ các vị thần ấy để làm
chủ tể cho mỗi phương. Sau đó, triều đình biểu dương những bậc trung thần
nghĩa sĩ có công lao với đất nước và lập đền cho dân thờ. Từ đó, dân chúng
bắt trước nhau, nơi nào cũng phải thờ một vị chủ tể cho làng mình, làng nào
có sẵn người anh hùng hào kiệt mất đi rồi thì thờ ngay người ấy, làng nào
không có thì cầu lấy một vị thần linh về thờ. Đó là Thành hoàng làng. “Thành
hoàng làng của người Việt là một vị thần được dân thờ từ trước, sau đó mới
được vua phong tước vương với chức danh Thành hoàng. Như vậy, vị thần
bảo hộ làng được khoác lên chiếc áo tín ngưỡng phong kiến Trung Quốc, hay
nói một cách khác, thần bảo hộ làng về mặt văn hóa đã bị Hoa hóa mang chức
danh Thành hoàng” [12, tr. 61].
Như vậy, nước ta có hai hệ Thành hoàng khác nhau: hệ thành hoàng kiểu
phong kiến Trung Quốc và hệ Thành hoàng của người Việt.
Tín ngưỡng Thành hoàng khi du nhập vào nước ta được cải biến cho phù
hợp với tâm thức của người Việt: “Thành hoàng là một phạm trù ngoại lai,
nhưng lại mang một nội hàm bản địa Việt không hoàn toàn giống nguyên bản.
Đó là một đặc điểm vay mượn ngôn từ và khái niệm ngoại quốc một cách
sáng tạo của người Việt” [12, tr. 22]. Từ chỗ bảo hộ thành trì của vua quan,
mang đậm nét Trung Hoa, thần Thành hoàng được mở rộng trong dân dã và
trở thành thần bảo hộ xóm làng, nơi không hề có thành hoàng và trở thành
một tín ngưỡng mang tính cộng đồng chung của làng xã người Việt. Đó là
một thứ thần linh không chỉ “hộ quốc”, mà còn “an dân”.
Đô Thành hoàng ở kinh đô để cai quản các thần ở phủ, châu, huyện, cùng
giám sát cái thiện cái ác của dân và họa phúc của họ; do Nhà nước tế vào hai
kỳ xuân thu hằng năm; cũng như cho lập miếu Thành hoàng ở các phủ, châu,
15
huyện do các quan sở tại tế lễ. Thành hoàng khi này được xem như một vị
thần che chở dân chúng và giám sát quan lại.
Mô hình thành hoàng Việt Nam
Thần điện nguyên thủy của người Việt Nam: Cây đa - Hòn đá thiêng.
Trước khi tín ngưỡng Thành hoàng vào Việt nam, từ thời nguyên thủy, người
Việt thờ những hiện tượng có sẵn trong tự nhiên và liên quan trực tiếp, gần
gũi với nhu cầu của con người, đóng vai trò không thể thiếu trong hoạt động
sản xuất và đời sống như hòn đá, cây cối, núi non, sông suối, hồ ao, mây mưa,
sấm chớp, cho đến những con vật như rắn, voi, cọp Do sự phát triển của
tư duy trừu tượng, nhu cầu nhận thức, cũng như thực tiễn đặt ra, những đối
tượng này được thiêng hóa và mang những phẩm chất siêu phàm, trở thành
một lực lượng sức mạnh có thể chi phối cuộc sống của con người và cộng
đồng. Khi xã hội xuất hiện những lực lượng có khả năng thâu tóm sức mạnh
của cộng đồng, thì sức mạnh tự phát của xã hội cũng được ảo hóa, trở thành
một thứ thần linh có khả năng chi phối và quyết định thân phận của cá nhân
và cộng đồng. Do đó, đối tượng thờ phụng của con người được mở rộng từ
nhiên thần sang nhân thần và có sự đan ghép giữa hai loại thần linh đó. Tín
ngưỡng Thành hoàng Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, tồn tại dưới những
dạng thức khác nhau.
Các mô hình Thành hoàng người Việt vùng Đồng bằng Bắc Bộ
Như đã đề cập, Thành hoàng du nhập vào Việt Nam từ thời nhà Đường
(thế kỷ IX), rồi phát triển qua các thời đại phong kiến. Đến thời nhà Nguyễn,
Thành hoàng trở nên phổ biến với hai dòng tương đối rõ rệt:
Dòng thứ nhất mang đậm nét Trung Hoa. Đó là hệ thống Thành hoàng
tạo nên môi trường sống và cảnh quan của cư dân nông nghiệp. Tùy theo từng
địa phương mà có các danh thần khác nhau. Tiêu biểu nhất trong hệ sơn thần
ở nước ta là bộ ba Tản Viên, Cao Sơn và Quý Minh. Thành hoàng là sơn thần
được thờ cúng ở khắp nơi trong cả nước, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An…
17
Thủy thần/ thần nước: Tùy theo từng địa phương mà các vị thủy thần
mang các tên gọi khác nhau như: Long vương, Đông Hải đại vương, Thủy Tề
đại vương, Bát Hải đại vương… Các vị thần này thường được thờ cúng ở
những khu vực ven biển và sông hồ. Tiêu biểu nhất trong hệ thủy thần là thần
rắn/ Linh Lang.
Thổ thần/ thần đất: Thành hoàng không có sắc phong ngoài các loại bị
quy vào dâm thần, dị thần còn lại phần lớn là thổ thần. Do việc phong tặng
của các triều đình phong kiến mà các vị thần này biến mất hay nhập vào
nhóm Thành hoàng là nhân vật lịch sử. Một số thổ thần là Thành hoàng làng
được sắc phong chung “Bản cảnh Thành hoàng”. Nhiều nơi, thổ thần được
giữ nguyên tên như một trong ba vị thành hoàng của làng Đình Bảng (Bắc
Ninh), có trường hợp được lịch sử hóa.
Thần cây: là các trường hợp tiêu biểu như Cây Bao đại vương (Đông
Anh, Hà Nội), Mộc Thụ đại vương (Mỹ Thắng, Mỹ Lộc)…
Hệ thiên thần: Đó là các vị thần có nguồn gốc từ Trời, chưa được nhân
hóa hay đã được nhân hóa, tiêu biểu như: Thống Lĩnh Hào Quang, Tích Lịch
Hào Quang (Đông Khê - Pháp Thượng - Thụy Ứng, Đan Phượng, Hà Nội);
Tứ Pháp thờ nhiều ở Bắc Ninh, Hưng Yên và Hà Nội; Nam Tào, Bắc Đẩu (An
Điều, Đan Phượng, Hà Nội), Ngọc Hoàng (Nam Thiên, Nam Trực, Nam
Định), Tề Thiên, Thiên Quan đại vương (Nam Điện - Nam Dương, Nam
Trực, Nam Định),
Hệ nhân thần: Đây là loại có số lượng nhiều nhất, thành phần đa dạng:
đế vương, danh tướng, danh nhân được chính sử lưu truyền; những nhân vật
Thời Lý - Trần: Nhân thần thời Lý khá nhiều, trong đó đáng chú ý là một
số Thành hoàng là nhân vật Phật giáo. Bên cạnh các nhân vật lịch sử, thời kỳ
này xuất hiện khá nhiều Thành hoàng là nhiên thần, đặc biệt là thủy thần,
nhưng đã được nhân hóa và lịch sử hóa, tiêu biểu nhất là thần Linh Lang [12,
tr. 280-285].
Ở thời nhà Trần, nhân vật được thần thánh hóa và thờ phụng với tư cách
là Thành hoàng nhiều nhất là Trần Hưng Đạo. Bên cạnh đó, Thành hoàng ở