ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
LÊ THỊ LUYÊN
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƢỜI DÂN
XÃ HUA LA, THÀNH PHỐ SƠN LA Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.30 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Nhƣ Trang Hà Nội – 2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BH Bảo hiểm
BHYT Bảo hiểm y tế
CSSK Chăm sóc sức khỏe
KCB Khám chữa bệnh
TTN Thanh thiếu niên
CBYT Cán bộ y tế
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
2.1. Nghiên cứu nước ngoài 3
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam 4
2.3. Quá trình ra đời và phát triển của BHYT Việt Nam 11
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 12
3.1. Ý nghĩa lý luận 12
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 12
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 13
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 13
5.1. Đối tượng nghiên cứu 13
5.2. Khách thể nghiên cứu 13
3.2. Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 59
3.2.1. Đánh giá của người tham gia BHYT về trình độ/tay nghề bác sỹ 59
3.2.2. Chất lượng thuốc được cấp theo thẻ BHYT 61
3.2.3. Đánh giá về chất lượng kỹ thuật khám chữa bệnh bằng BHYT 63
3.2.4. Thủ tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT 65
3.2.5. Mức hưởng phí BHYT khi khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT 67
3.3. Điều kiện địa lý, dân tộc tác động đến việc tham gia BHYT của người dân xã
Hua La 68
3.4. Các yếu tố khác như: nguồn nước 70
3.5. Cơ sở vật chất tại các cơ sở y tế hiện nay tại xã Hua La. 72
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Điểm giống nhau giữa BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc 19
Bảng 2: Điểm khác nhau giữa BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc 19
Bảng 3: Tỷ lệ tham gia BHYT 35
Bảng 4: Dự định tham gia BHYT của người dân Hua La (%) 41
Bảng 5: Mối liên hệ giữa tình trạng sức khỏe với thẻ BHYT (%) 54
Bảng 6: Sự giống và khác nhau giữa khám chữa bệnh bằng BHYT và dịch vụ qua
phỏng vấn sâu: 63
Bảng 7: Sự giống và khác nhau giữa khám bẳng BHYT và dịch vụ 66
Bảng 8: Thành phần dân tộc tại xã Hua La 69
Bảng 9: Tỷ lệ tham gia BHYT của nam và nữ (%) 70
Bảng 10: Nguồn nước sinh hoạt (%) 70
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm
huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, các tổ chức, cá nhân để thanh
toán chi phí khám chữa bệnh cho những người gặp rủi ro ốm đau bệnh tật. Bảo
hiểm y tế (BHYT) là một hình thức trong toàn bộ hệ thống an sinh xã hội. BHYT đã
và đang có những chuyển biến tích cực trong việc đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ
và chăm sóc sức khỏe nhân dân và thực sự là cột trụ của an sinh xã hội quốc gia.
Trong quá trình hội nhập và phát triển bên cạnh những thành tựu nước ta còn
gặp nhiều thách thức và khó khăn bởi nước ta chủ yếu là nông nghiệp đồng thời lại
gánh chịu nhiều thiên tai, dịch họa nên vấn đề về tham gia bảo hiểm y tế cần được
quan tâm hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn đó,
Đảng ta tại đại hội toàn quốc lần thứ X, hiến pháp 1992 cũng nhấn mạnh “Phát triển
và nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế, xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo
hiểm y tế toàn dân, phát triển mạnh các loại hình Bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo
hiểm y tế cộng đồng đồng thời mở rộng các hình thức khám, chữa bệnh trong và
ngoài nhà nước”.
Trong quá trình hội nhập và phát triển xã hội cùng với biến đổi về kinh tế,
văn hóa, xã hội kéo theo nhu cầu tham gia BHYT của người dân ngày càng tăng.
Điều này thể hiện rõ:“2008 tỷ lệ dân số Việt Nam tham gia BHYT đạt 47,1%; năm
2009 là 58,2%; diện bao phủ BHYT ở nước ta năm 2010 là 58.5%. Năm 2012 có
59,4% và năm 2013 tỷ lệ tham gia BHYT nước ta là 63,6%” [2]
Sự gia tăng về nhu cầu tham gia BHYT của người dân là cơ sở để BHYT
ngày càng hoàn thiện và phù hợp với tình hình mới. Chính vì vậy Luật BHYT số
25/2008/QH12 ngày 12 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và luật sửa đổi bổ sung năm 2014 nhằm phù hợp với tình hình mới.
Phúc lợi xã hội và hoạt động của mạng lưới an sinh xã hội được coi là một
như thế nào là một điều cần khám phá. Với việc thực hiện nghiên cứu này, tác giả
của luận văn hy vọng không chỉ góp thêm về sự hiểu biết đối với việc thực hiện
chính sách BHYT mà con còn cung cấp những góc nhìn xã hội học đối với một 3
trong những khía cạnh an sinh xã hội quan trọng. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
làm sáng tỏ hơn bức tranh về thực trạng BHYT của người dân nông thôn dưới góc
nhìn của xã hội học.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu nƣớc ngoài
Liên quan đến vấn đề BHYT đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới bàn về
vấnđề này ở nhiều khía cạnh. Qua một số nghiên cứu cũng thấy rõ mô hình tài chính
từ thuế, mô hình tài chính y tế cũng liên quan đến BHYT. Những khó khăn về tài
chính cho hoạt động y tế là một vấn đề mang tính toàn cầu. Bất cứ quốc gia nào
cũng đang phải giải quyết vấn đề huy động nguồn lực tài chính để đáp nhu cầu sử
dụng dịch vụ y tế ngày càng tăng của người dân. Ở Anh vấn đề chăm sóc sức khỏe
cho toàn bộ công dân ở Liên hiệp Vương quốc Anh được thực hiện chủ yeus thông
qua cơ quan BHYT quốc gia. Người Anh được phân chia theo các quỹ ủy thác chăm
sóc sức khỏe ban đầu, các cơ sở này nhận được 75% trong tổng kinh phí hoạt động
thường xuyên nhờ nguồn ngân sách Nhà nước, mức cấp theo đầu người và được
điều chỉnh hằng năm.[40] Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác nhau giữa chính sách
BHYT giữa Anh và Việt Nam nói riêng và các nước nói chung.
BHYT không phải là một chính sách mới trên thế giới, đã có trên 50%
các nước công nghiệp thực hiện BHYT xã hội cho toàn dân dưới nhiều hình thức
khác nhau. Ngày nay, BHYT xã hội toàn dân đã trở thành nguồn lực tài chính chủ
yếu chi trả cho các dịch vụ y tế của các nước đang phát triển như Kenia, Brasil, Ai
Cập. [35].
Ở Mỹ các công ty Bảo hiểm tư nhân không chấp nhận bảo hiểm cho
người gia từ 65 tuổi trở lên. Hiện nay, nước Mỹ chuyể mạnh sang hệ thống chăm
vấn đề trên.
2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, các quốc gia nhìn nhận, đánh giá đúng hơn với vai trò của BHYT
bởi lẽ đây vừa là một mô hình, kiểu tổ chức nhóm có tính cộng đồng, tương tế và
nhân văn cao, đồng thời lại là mô hình tài chính y tế phát triển theo định hướng
công bằng và hiệu quả. Khi xã hội còn tồn tại những vấn nạn như nghèo đói, bất 5
bình đẳng trong thu nhập và chăm sóc y tế thì BHYT như một yếu tố để hỗ trợ cho
một nhóm nào đó trong xã hội đặc biệt nhóm có hoàn cảnh khó khăn.
“Về đặc điểm của BHYT ở nước ta, điều lệ BHYT Việt Nam hiện hành quy
định, có hai loại hình BHYT, đó là BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc”. [1]
Mỗi loại hình BHYT khác nhau có những những đối tượng tham gia khác
nhau. Ví dụ BHYT bắt buộc đa số áp dụng cho nhân viên chức, còn BHYT tự
nguyện đa số áp dụng cho đối tượng người khác như học sinh, người không có công
việc ổn định và một số đối tượng khác.
Đảng và Nhà nước ta nhận định rằng con người là nguồn tài nguyên quý báu
của đất nước, vì vậy cần phải đầu tư cho sức khỏe của nhân dân. Tại Đại hội Đảng
lần thứ X, Đảng ta nhận định: “thực hiện đồng bộ các chính sách BHYT nhằm giảm
tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tuổi thọ và phát triển giống nòi. Củng cố và hoàn
thiện mạng lưới y tế đặc biệt là y tế cơ sở, xây dựng một số trung tâm y tế chuyên
sâu, đẩy mạnh sản xuất dược phẩm”.
Qua các nghiên cứu đã tiến hành ở Việt Nam với việc sử dụng phương pháp
định lượng và định tính về cơ bản giúp chúng ta có cách nhìn rõ hơn về thực tế,
đánh giá của người dân về chính sách bảo hiểm y tế nói riêng và chính sách phúc lợi
xã hội cũng như an sinh xã hội nói chung.
Năm 2003, đề tài cấp Nhà nước về nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô
hình huy động xã hội thực hiện xã hội hóa y tế đảm bảo công bằng và hiệu quả
trong chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm mục tiêu: Xây dựng mô hình chăm sóc sức
chính sách, về tổ chức thực hiện, nhất là các khâu đầu tư, bảo tồn và phát triển quỹ
BHXH và khâu quản lý quỹ BHYT, hạn chế tình trạng nợ đọng hoặc lạm dụng quỹ
BHYT gây ra thất thoát và kém hiệu quả trong việc sử dụng quỹ. Đó là những bài
học thiết thực giúp cho công tác quản lý trong thời gian tới.
Báo cáo “bảo hiểm y tế - nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” do
Trưởng phòng Sức khỏe – Viện xã hội học – TS Trịnh Hòa Bình và các cộng sự
thực hiện vào năm 2006. Báo cáo trình bày kết quả khảo sát tại xã Yên Thường –
Gia Lâm với quy mô 500 mẫu phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi, 3 thảo luận nhóm và
17 phỏng vấn sâu. 7
Báo cáo đã nêu rõ được những vấn đề về thực trạng tham gia cũng như khả
năng mở rộng BHYT ở nông thôn. Báo cáo đã đi sâu tìm hiểu và phân tích khả năng
của người dân tham gia trong việc chăm sóc sức khỏe thông qua việc tìm kiếm các
dịch vụ và tham gia BHYT và sử dụng BHYT trong việc khám chữa bệnh. Đồng
thời, báo cáo cũng chỉ rõ nhận thức của người dân về BHYT và nhu cầu tham gia,
khả năng mở rộng BHYT ở vùng nông thôn là rất lớn. Tuy nhiên báo cáo chưa so
sánh được nhu cầu, thực trạng tham gia và khả năng mở rộng BHYT ở các nhóm có
điều kiện kinh tế, thu nhập khác nhau, các nhóm được hưởng chế độ BHYT của nhà
nước và nhóm tự nguyện tham gia BHYT. Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra các yếu tố
có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc tiếp cận BHYT của người dân để từ đó
đề xuất các kiến nghị, giải pháp cho phù hợp, sát tình hình thực tế của địa phương.
Báo cáo “những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận BHYT ở Việt Nam” của
tác giả Đặng Nguyên Anh và các cộng sự (2006) đã sử dụng kỹ thuật phân tích các
số liệu định lượng, sử dụng các bộ số liệu từ các cuộc điều tra quốc gia để thống kê
số lượng người tham gia BHYT đồng thời xem xét các yếu tố tác động đến khả
năng tham gia và mở rộng BHYT ở các nhóm có điều kiện kinh tế, thu nhập khác
nhau, các nhóm được hưởng chế độ BHYT. Đồng thời, báo cáo cũng chỉ ra các yếu
tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến việc tiếp cận BHYT của người dân để từ
Báo cáo kết quả nghiên cứu định tính của Viện chiến lược và chính sách y tế
năm 2007 và phát triển BHYT ở nông thôn công bằng và bền vững nhằm nâng cao
chăm sóc sức khỏe người dân: Mục tiêu nghiên cứu là nhằm tìm hiểu nhận thức của
các nhóm đối tượng khác nhau về BHYT, tìm hiểu kiến thức của người dân và nêu
lên một số khuyến nghị phục vụ xây dựng can thiệp hợp lý.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: hầu hết các đối tượng tham gia BHYT đã
nhận thức được mục tiêu cũng như ý nghĩa của việc tham gia BHYT. Các nhóm đối
tượng khác nhau nhận thức về chính sách BHYT khác nhau vì vậy nhu cầu tham gia
BHYT cũng phụ thuộc vào nhận thức cũng như độ tuổi của đối tượng. Đối tượng
nghiên cứu đa số không hài lòng với chính sách BHYT trừ BHYT bắt buộc. Một
thực tế mà nghiên cứu đã làm rõ: việc phát thẻ BHYT cho những đối tượng tham
gia chậm trễ làm giảm tỷ lệ tham gia BHYT. Đây cũng là một điều rất bức xúc đối
với đa số các đối tượng tham gia BHYT. 9
Qua báo cáo cho thấy việc khai thác các chính sách BHYT trên thực tế đang
phải đối mặt với nhiều khó khăn về phía cả cơ quan BHYT và các cơ sở cung ứng
dịch vụ bảo hiểm y tế. Về phía cơ quan bảo hiểm y tế, đội ngũ tuyên truyền cung
cấp thông tin về BHYT không được tập huấn/đào tạo nâng cao kỹ năng truyền
thông, kinh phí cho truyền thông còn hạn chế.
Luận văn thạc sỹ của Nghiêm Xuân Nam về “thực trạng và nhu cầu tham gia
bảo hiểm y tế của người dân nông thôn hiện nay”. Nghiên cứu tiến hành tại xã Yên
Thường – Gia Lâm – Hà Nội đã phần nào đó nêu lên thực trạng tham gia bảo hiểm
y tế. Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính đã chỉ
rõ nhu cầu và thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân nông thôn hiện nay.
Tuy nhiên, tác giả không làm rõ các loại hình BHYT cụ thể của người dân trong quá
trình tham gia BHYT. Đây cũng là một phần đôi lúc khiến đối tượng nghiên cứu
không phân biệt được sự khác biệt cũng như so sánh giữa những đối tượng tham gia
BHYTTN và BHYT bắt buộc. Trong quá trình phân tích tỷ lệ tham gia BHYT của
Việt Nam nói chung.
Điểm qua các nội dung và chủ đề liên quan chính sách bảo hiểm y tế nói
riêng cũng như phúc lợi xã hội nói chung, ta có thể thấy các nghiên cứu tập trung
vào các nội dung chính như:
- Khung lý thuyết và nhóm chủ để về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
- Nghiên cứu thực nghiệm đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và
các chính sách xã hội khác
- Nhóm chủ đề nghiên cứu về các phương thức thay đổi chính sách xã hội
với mục tiêu công bằng xã hội
Năm 2013, đề tài cấp nhà nước về nghiên cứu thực trạng và xây dựng mô
hình huy động xã hội thực hiện hóa y tế đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm
sóc sức khỏe nhân dân nhằm mục tiêu: Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe nhân
dân phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam và huy động xã hội thực hiện
xã hội hóa y tế, đảm bảo công bằng và hiệu quả trong CSSK. Nghiên cứu đã tập
trung mô tả và phân tích các chính sách về khám chữa bệnh cho người nghèo.
Cũng nghiên cứu về Bảo hiểm y tế nhưng đề tài tập trung về bảo hiểm y tế tự
nguyện của tác giả Lương Quỳnh Trang với đề tài thạc sỹ xã hội học “Bảo hiểm y tế 11
tự nguyện – Những phân tích xã hội học (nghiên cứu trường hợp thị trấn Hòa Bình
và xã Tam Quang – huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An). Đề tài một phần đã đưa ra
cái nhìn phác thảo về bảo hiểm y tế tự nguyện và cũng phần nào làm rõ về những
chính sách của bảo hiểm y tế tự nguyện cho người dân và mở rộng hệ thống khám,
chữa bệnh trong và ngoài công lập. Tuy nhiên nghiên cứu chưa cụ thể hóa về
BHYT nói chung tại địa bàn nghiên cứu và chưa đi sâu làm rõ các yếu tố ảnh hưởng
đến thực trạng tham gia BHYT của người dân. Ví dụ như yếu tố chính sách BHYT
tác giả Lương Quỳnh Trang chưa làm rõ, nổi bật được những thay đổi trong chính
sách BHYT liệu đã phù hợp với địa bàn nghiên cứu hay chưa, chưa nêu bật được
yếu tố nào quan trọng và quyết định tới việc tham gia BHYT của người dân. Đồng
vậy, nghiên cứu này, dùng Luật BHYT 2008 để thực hiện chính sách BHYT cho
người dân xã Hua La là đúng với quy định của Luật BHYT. Việc thi hành chính
sách BHYT của người dân xã Hua La hiện nay là đúng với thực tế cua Luật. Nghiên
cứu này xin phân tích vấn đề dưới góc độ xã hội học vì vậy không đi sâu lý giải
Luật BHYT dưới góc độ Luật học.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu “thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia bảo hiểm y
tế của người dân xã Hua La” tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội
học. Qua đó nhằm tìm hiểu và phân tích tỷ lệ tham gia BHYT và làm rõ những yếu
tố tác động đến việc tham gia BHYT của người dân. Đồng thời nghiên cứu sẽ nêu
bật được những rào cản, thách thức của người dân trong việc tham gia BHYT. Kết
quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng, khẳng định tính hợp lý và ý nghĩa lý luận của
việc vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý và lý thuyết nhu cầu của Maslow trong
nghiên cứu xã hội học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dưới cách tiếp cận xã hội học đề tài không những có ý nghĩa thuần túy về
mặt khoa học mà còn có ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ
góp thêm trong bức ảnh toàn cảnh về thực trạng bảo hiểm y tế hiện nay. Đồng thời
cũng làm rõ vai trò quan trọng của bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội. Đề
tài nêu bật, làm rõ những rào cản, thách thức trong việc tham gia BHYT của người 13
dân. Qua đề tài cũng hy vọng đưa ra một vài gợi ý về chính sách và mô hình hoạt
động đối với nhà quản lý, nhằm đạt mục tiêu xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến
tới Bảo hiểm y tế toàn dân nói chung và tại xã Hua La nói riêng. Đồng thời mở rộng
diện các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập nhằm phục vụ nhu cầu khám, chữa
bệnh của người dân.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tỷ lệ tham gia BHYT của người dân xã Hua La thấp.
- Có nhiều yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của người dân như yếu
tố về mức phí BHYT; Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh (trình độ tay nghề bác
sỹ, thái độ phục vụ của cán bộ y tế, chất lượng thuốc được cấp theo thẻ BHYT,
sốlượng thuốc được cấp theo thẻ BHYT, chất lượng dịch vụ kỹ thuật khám chữa
bệnh theo thẻ BHYT) và yếu tố về điều kiện địa lý, dân tộc và các yếu tố khác như
nguồn nước tác động đến việc tham gia BHYT của người dân.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Trước khi tiến hành nghiên cứu, để thuận tiện cho việc sử dụng phương pháp
phân tích tài liệu chúng tôi tiến hành chuẩn bị các nghiên cứu gồm:
- Báo cáo, số liệu của chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu
- Các nghiên cứu Xã hội học về vấn đề liên quan đến BHYT.
- Văn bản, chính sách ban hành, luật BHYT gồm:
- Các văn bản, tư liệu hiện có tại một số cơ quan, ban ngành, tổ chức xã hội,
các bài viết chuyên ngành, báo cáo, kết quả điều tra khảo sát, số liệu có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Nghiên cứu sử dụng dữ liệu định lượng được xử lý từ 175 phiếu trưng cầu
của người dân Hua La trong dề tài cấp Nhà nước do Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức chủ trì về “Định hướng hoàn thiện chính sách an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội ở nước ta trong điều kiện mới” tiến hành trong vòng 3
năm (10/2012 – 9/2015) do PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan làm chủ trì đề tài.
- Số liệu được nhập và xử lý theo chương trình SPSS 16.0
- Cách chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên thuận tiện với các đối tượng tham gia
BHYT tại xã Hua La. 15
8.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Để tìm hiểu và phân tích sâu hơn về thực trạng và các yếu tố tác động đến
- Tại Việt Nam Luật BHYT định nghĩa: “là một loại chính sách xã hội do Nhà
nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động,
người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho
người có thẻ BHYT khi ốm đau” [13]
Khi nói đến BHYT là mói đến BHXH về y tế, là loại hình bảo hiểm của Nhà
nước quản lý mang tính chất xã hội không vì lợi nhuận hướng tới mục tiêu công
bằng, hiệu quả trong khám chữa bệnh.
Trong nghiên cứu này, tác giả quan niệm: Bảo hiểm y tế là một chính sách
mang ý nghĩa nhân văn và tiến bộ được thể chế hóa bằng Luật bảo hiểm nhằm kêu
gọi sự tham gia của các nhân, tổ chức xã hội trong công cuộc chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe cho con người.
BHYT có 2 loại: Bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện.
- Bảo hiểm y tế bắt buộc: “Là hình thức bảo hiểm y tế mà các đối tượng được
xác định trong Luật có trách nhiệm tham gia.”[13].
- Ở định nghĩa trên cho thấy, các đối tượng được xác định trong Luật có trách
nhiệm tham gia gồm một số đối tượng tiêu biểu như: Người lao động có hợp đồng
lao động từ 3 tháng trở lên; Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên môn, kỹ thuật, hạ sĩ quan, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng
Công an nhân dân hằng tháng. Người đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng do tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động
đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn
đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng. Cán bộ xã, phường,
thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước. Người
đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Người có công với cách mạng: bệnh binh, thương 18
binh, người có công với cách mạng, người nhiễm chất độc màu da cam, liệt sỹ, bà
mẹ Việt Nam anh hung và một số đối tượng khác.
Trong nghiên cứu này, tác giả quan niệm: BHYT bắt buộc là một loại chính