ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
*
LÊ LAN PHƯƠNG
CHUYểN ĐổI VIệC LàM CủA NGƯờI DÂN VEN ĐÔ
SAU KHI Bị THU HồI ĐấT SảN XUấT NÔNG NGHIệP TạI
PHƯờNG KIếN HƯNG, QUậN Hà ĐÔNG, Hà NộI LUậN VĂN THạC Sĩ
CHUYÊN NGàNH Xã HộI HọC
Hà Nội - 2014
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới
sự hướng dẫn của GS. TS. Trịnh Duy Luân.
Tôi cũng xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình
thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình. Ngƣời cam đoan
Lê Lan Phƣơng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, trước hết tôi
xin chân thành cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy cô giáo Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo
trong Khoa Xã hội học – những người trực tiếp dạy dỗ, dìu dắt tận tình cho tôi
trong suốt quá trình tôi học tập và rèn luyện tại trường.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS. Trịnh Duy Luân –
người thầy đã dành nhiều tâm huyết và thời gian hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp –
những người đã luôn sát cánh bên tôi, động viên, cổ vũ và tạo mọi điều kiện
5. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 22
5.1. Đối tượng nghiên cứu 22
5.2. Khách thể nghiên cứu 22
5.3. Phạm vi nghiên cứu 22
6. Câu hỏi nghiên cứu 22
7. Giả thuyết nghiên cứu 22
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 23
8.1. Phương pháp luận 23
8.2. Phương pháp thu thập thông tin 24
8.2.1. Phương pháp chọn mẫu 24
8.2.2. Phương pháp thu thập thông tin cụ thể 25
8.2.2.1. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 25
8.2.2.2. Xử lý số liệu 25
8.2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 25
8.2.2.4. Phương pháp phân tích tài liệu 26
2
9. Khung phân tích 26
10. Cấu trúc của luận văn 27
NỘI DUNG 28
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 28
1.1. Các khái niệm 28
1.1.1. Việc làm 28
1.1.2. Nghề nghiệp và chuyển đổi nghề nghiệp 29
1.1.3. Vùng ven đô 29
1.1.4. Thu hồi đất sản xuất nông nghiệp 31
1.2. Lý thuyết áp dụng 32
1.2.1. Lý thuyết biến đổi xã hội 32
1.2.2. Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý 34
1.3. Chủ trƣơng, chính sách về vấn đề thu hồi đất nông nghiệp và
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
1. Kết luận 97
2. Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Cơ cấu mẫu theo giới tính (%) 24
Bảng 1.2. Cơ cấu mẫu theo nhóm tuổi (%) 24
Bảng 1.3. Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn (%) 24
Bảng 1.4. Cơ cấu mẫu theo tình trạng hôn nhân (%) 25
Bảng 2.1: Làm thêm các công việc phụ trước khi bị thu hồi đất theo
giới tính của người trả lời (%) 43
Bảng 2.2: Loại hình công việc phụ của người dân trước khi thu hồi đất
nông nghiệp theo giới tính(%) 46
Bảng 2.3: Chuyển đổi việc làm chính của người dân trước và sau thu hồi
đất nông nghiệp (%) 48
Bảng 2.4: Công việc chính của người dân sau khi thu hồi đất theo tỷ lệ
thu hồi đất sản xuất nông nghiệp (%) 50
Bảng 2.5: Chuyển đổi loại hình công việc phụ trước và sau khi thu hồi
đất nông nghiệp (%) 57
Bảng 2.6: Biến đổi về cơ cấu nguồn thu nhập chính sau khi thu hồi
đất nông nghiệp (%) 60
Bảng 3.1: Công việc chính của người dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
theo giới tính (%) 74
Bảng 3.2: Thời gian chuyển đổi việc làm sau khi thu hồi đất nông nghiệp
theo nhóm tuổi (%) 78
Bảng 3.3: Công việc chính của người dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đô thị hóa là quá trình tất yếu đã và đang diễn ra trên phạm vi thế giới
nói chung và ở nước ta nói riêng. Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô
thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đường lối Đổi mới của Đảng và
Nhà nước từ giữa những năm 1980 đã đưa Việt Nam đạt được những thành
tựu đáng kể về cả kinh tế và xã hội. Gắn liền với những thành tựu này là quá
trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng
trong phạm vi cả nước.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đi liền với việc xây dựng nhiều
khu công nghiệp, khu đô thị. Tất cả các công trình này đòi hỏi phải có mặt
bằng để xây dựng do đó nhu cầu về đất xây dựng là rất lớn. Để có đất cho
mục đích trên, Nhà nước phải thu hồi một phần đất của nhân dân theo quy
định tại điều 39 - Luật đất đai năm 2003. Những khu đô thị, khu công nghiệp
này được mọc lên rất nhiều không chỉ ở nội đô những thành phố lớn mà hiện
nay nó được đưa ra các vùng nông thôn ngoại thành, ven đô, ngay trên những
khu đất nông nghiệp. Như vậy, những mảnh đất nông nghiệp vốn là tư liệu
sản xuất, nguồn kiếm sống duy nhất của người nông dân giờ đã bị thu hồi để
dùng vào mục đích cho xây dựng các công trình công nghiệp và nhà ở.
Theo số liệu do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đưa ra tại hội thảo
“Nông dân bị mất đất- Thực trạng và giải pháp” tổ chức vào ngày 4/7/2011 tại Hà
Nội cho biết tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên cả nước để xây dựng
các khu công nghiệp và khu đô thị lên tới 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất
nông nghiệp), tính bình quân mỗi năm có gần 73,3 nghìn ha đất bị thu hồi. Theo
số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên môi trường (với 31 tỉnh thành trong cả nước)
tính đến ngày 1/1/2008 thì tổng diện tích đất trồng lúa của cả nước còn 4.098.285
ha giảm 30.643ha so với năm 2007. Mức độ giảm thực tế bằng 1,1 lần so với kế
hoạch giảm diện tích đất nông nghiệp năm 2006- 2007. [4]
7
Hà Nội là một trong những thành phố có tốc độ đô thị hóa thuộc loại
nhanh nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Điều này được thể hiện
qua sự mở rộng phạm vi địa giới và sự tăng trưởng về số lượng các khu công
nghiệp, các khu đô thị. Theo báo cáo mới nhất của Ủy ban Nhân dân thành
phố cho biết đến năm 2010 Thành phố Hà Nội có kế hoạch thu hồi, chuyển
đổi mục đích sử dụng khoảng 5.201 ha đất nông nghiệp, tức là sẽ có khoảng
20 vạn lao động nông nghiệp phải chuyển nghề do mất đất sản xuất. Mỗi năm
Hà Nội thu hồi khoảng 1000 ha đất trong đó 80% là đất nông nghiệp. Nếu
tính riêng từ năm 2005 đến nay, thành phố đã thu hồi 1.720 ha đất tương
đương 57.580 hộ dân mất đất sản xuất, 5.927 hộ phải tái định cư. Trong số đó
có 3,5 vạn hộ bị thu hồi 30% diện tích đất nông nghiệp chiếm 60% số hộ bị
thu hồi đất.[41]
Phường Kiến Hưng thuộc quận Hà Đông là một xã mới được chuyển
thành phường. Phường Kiến Hưng chính là một nơi nằm trong sự giao thoa
giữa nông thôn và thành thị rất điển hình. Tại đây, quá trình thu hồi đất nông
nghiệp cũng đã diễn ra và tạo ra những thay đổi lớn đến đời sống của người
dân. Chuyển đổi cơ cấu lao động và việc làm đã có ảnh hưởng đến thu nhập,
mức sống của người dân, cùng những hệ lụy về mặt xã hội.
Từ đây nảy sinh nhiều câu hỏi cần được nghiên cứu để trả lời, trong đó
có việc nghiên cứu từ giác độ xã hội học. Đây cũng là lý do để tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Chuyển đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất
sản xuất nông nghiệp tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội” cho
luận văn cao học của mình.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài vận dụng cách tiếp cận xã hội học để phân tích, làm rõ một cách
khách quan, logic những vấn đề đặt ra. Đó là áp dụng lý thuyết biến đổi xã hội, lý
thuyết lựa chọn hành vi hợp lý cũng như các phương pháp xã hội học nhằm giải
9
tới sinh kế của người nông dân Ethiopia, hệ quả này bao gồm các tác động tới
sinh kế, an ninh lương thực, sự quản lý các tài nguyên thiên nhiên một cách
bền vững. Sau quá trình triển khai nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng: để tạo
ra được một tình huống mà cả hai bên cùng có lợi thì phải đảm bảo các điều
kiện có sự tham gia của các bên liên quan, có sự đánh giá tác động đến môi
trường cũng như có các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm…Tuy nhiên,
điều tra thực nghiệm cho thấy việc triển khai các dự án thu hồi đất đều không
đáp ứng được điều kiện trên: sự tham gia của các bên liên quan hầu như là
không có đặc biệt là nông dân địa phương, không có các đánh giá tác động
đến môi trường đặc biệt là việc phá rừng, không có chính sách hỗ trợ việc làm
và hỗ trợ sinh kế thì bị hạn chế một cách thấp nhất. Việc thu hồi đất không
gây ra sự di động của người dân mà nó ngày càng làm “xói mòn” sinh kế của
họ. Những công việc mà họ có được từ các dự án thường mang tính chất tạm
thời, điều kiện làm việc kém và mức lương thấp.
Ở Trung Quốc, Kathy Le Mons Walker cũng cho thấy một bức tranh
tương tự. Trích dẫn nhiều nguồn tài liệu khác nhau, Walker cho biết ở Trung
Quốc trong khoảng thời gian từ 1986 đến 1995 có 27,5 triệu mu1 vuông đất bị
thu hồi. Tổng diện tích đất canh tác giảm 120 triệu mu trong tám năm tiếp
theo, 1996-2004. Vào năm 2005, hơn 40 triệu nông dân Trung Quốc đã bị mất
đất nông nghiệp và số nông dân sẽ bị mất đất nông nghiệp tiếp tục gia tăng
với tốc độ hai triệu người trong một năm. Như tác giả đề cập, một số nguồn
khác còn thậm chí ước tính có tới hơn 70 triệu nông dân ở nông thôn Trung
Quốc đã bị thu hồi đất nông nghiệp trong vòng 20 năm qua. Vì việc thu hồi
đất nông nghiệp phá vỡ sinh kế và các nền tảng sinh tồn truyền thống, nên đã
dẫn đến những chống đối của nông dân dù cuối cùng đều không thành công.
Trong số các nguyên nhân lý giải các phản ứng đó của người nông dân thì
không thể không kể đến những nỗi lo của họ về việc họ sẽ sống như thế nào
khi không còn đất sản xuất hay là bị trở thành một tầng lớp dân cư mới với
11
được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp hay các dịch vụ
liền kề doanh nghiệp vì thế chỉ chiếm tỷ lệ khá thấp. Khó khăn về việc làm,
thu nhập thường trực cộng với sự gia tăng của các loại hình tệ nạn xã hội cùng
sự biến đổi, ô nhiễm môi trường làm cho nhiều người dân cảm thấy băn
khoăn với các quyết định .chuyển đổi mục đích sử dụng đất hiện nay.
Trong cuốn sách "Việc làm của nông dân trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010"
(2010) do tác giả Trần Thị Minh Ngọc làm chủ biên. Trên cơ sở phân tích,
đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong
quá trình giải quyết việc làm cho nông dân vùng đồng bằng sông Hồng trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từ đó nhóm tác giả đề ra phương
hướng và giải pháp cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả vấn đề giải quyết việc
làm cho nông dân: điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phát triển các ngành kinh tế
nhằm giải quyết việc làm; đồng thời tác giả cũng đưa ra các biện pháp nhằm
nâng cao năng lực cho người lao động để tăng cơ hội tìm kiếm được việc làm
và các giải pháp hoàn thiện các chính sách của Nhà nước về việc làm cho
người lao động.
Cuốn sách "Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn
vùng đồng bằng Bắc bộ trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công
nghiệp (Qua khảo sát các tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình)" (2010)
- cuốn sách do tác giả Đỗ Đức Quân làm chủ biên. Qua khảo sát một số vùng
nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, các tác giả đã chi ra thực trạng nông thôn đồng
bằng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn,
chỉ ra tình trạng chung trong nông thôn hiện nay đó là hiện tượng thu hẹp diện
tích đất sản xuất nông nghiệp, từ đó là cho một bộ phận dân cư nông thôn mất
việc làm, chất lượng môi trường bị suy giảm, mất cân đối và thiếu hụt các
nguồn lực dành cho phát triển nông thôn
13
Nghiên cứu “Công nghiệp hóa nông thôn và những biến đổi trong gia
với tốc độ nhanh ở Việt Nam từ đầu những năm 1990 đã dẫn đến việc thu hồi
một diện tích lớn đất đai nhất là đất nông nghiệp. Một mặt việc thu hồi đất đã
tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp
và dịch vụ. Tuy nhiên, mặt khác việc mất đất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến
đời sống xã hội của những người dân của khu vực nông thôn và ven đô,
nhưng người mà nguồn sinh kế chính là dựa vào sản xuất nông nghiệp. Nhiều
lao động do còn thiếu vốn xã hội và vốn con người nên không thể tìm được
việc làm hay không có đủ việc làm để đảm bảo các chiến lược sinh kế bền
vững của mình trong một bối cảnh đầy áp lực từ nền kinh tế thị trường. Nhiều
người trong số họ cuộc sống tiềm ẩn nhiều rủi ro và thiếu ổn định.
Trong nghiên cứu “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của
nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa” (2007) của tác giả
Nguyễn Duy Thắng đã cho thấy đô thị hóa để phát triển, nhưng đô thị hóa
cũng tạo ra sức ép và thách thức cho nông dân ven đô. Việc thu hồi đất đã dẫn
đến số hộ thuần nông ở các xã giảm mạnh. Một bộ phận lớn dân cư làm nông
nghiệp bị mất việc làm do bị thu hồi đất sản xuất, dẫn đến phải chuyển đổi
nghề. Theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh xã hội từ năm 2001 –
2004 Hà Nội có gần 80.000 người (bình quân 2 lao động/hộ) bị mất việc làm
từ nông nghiệp. Như vậy, trung bình có khoảng 20.000 lao động nông nghiệp
bị mất việc làm mỗi năm. Người nông dân ven đô đang phải chịu một sức ép
rất lớn của đô thị hóa đến vấn đề việc làm. Thành phố đã có chính sách đền bù,
hỗ trợ nhằm chuyển đổi nghề cho các hộ bị thu hồi đất. Tuy nhiên, việc đào
tạo nghề đã mang lại hiệu quả không cao, đặc biệt là những lao động nữ ở độ
tuổi 35 đến 40. Đặc biệt người dân sau khi nhận đền bù và hỗ trợ thì không
muốn sử dụng tiền đó để đào tạo nghề mà họ muốn có một nghề gì đó có thể
kiếm ngay ra tiền như chạy xe ôm hoặc buôn bán nhỏ. 15
Trong nghiên cứu“Một số biện pháp giải quyết việc làm trong quá
nhập từ nông nghiệp truyền thống còn có các nguồn thu khác từ thủ công
nghiệp, dịch vụ, lương…
Nghiên cứu “Thu hồi đất nông nghiệp và những ảnh hưởng tới đời
sống của người dân nông thôn” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Vân cho thấy
lực lượng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc trong các khu
công nghiệp có thể đếm trên đầu ngón tay, mặc dù các doanh nghiệp đã đăng
tuyển lao động nhưng phần lớn lao động địa phương chỉ làm một thời gian rồi
bỏ. Nguyên nhân là một phần doanh nghiệp trả lương thấp, một phần là do
phần lớn người lao động nông thôn hiện nay đều rơi vào tình trạng độ tuổi
khá cao. Do đó, tâm lý trồng lúa nước đã bén sâu, chuyện học nghề để chuyển
đổi việc làm đối với họ là một vấn đề khó khăn. Số nông dân bị mất đất không
tìm được công việc mới quay lại làm nông lại đối mặt với nỗi lo là không có
đất dẫn đến thất nghiệp.
Nghiên cứu “Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời
sống, việc làm của nông dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” (2013) của
nhóm tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà
đã phân tích tình hình thu hồi đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp và
ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến tăng trưởng kinh tế và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, việc làm, thu nhập của các hộ bị
thu hồi đất, những thách thức của việc thu hồi đất trong quá trình phát triển.
Kết quả nghiên cứu cho thấy từ năm 2000 - 2010, huyện Văn Lâm đã thu hồi
đất nông nghiệp của 14.260 lượt hộ; tổng diện tích đã thu hồi là 928,52 ha,
trong đó đất nông nghiệp là 736,50 ha. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực
theo chiều hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng (từ 31,00% năm 2000
tăng lên 74,99% năm 2010) và giảm tỷ trọng nông nghiệp (57,50% năm 2000
giảm xuống 12,65% năm 2010 ). Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 3,82
triệu đồng (năm 2000) đến 27,2 triệu đồng (năm 2010). Tạo thêm nhiều việc
17
làm mới, thu hút khoảng 25.000 lao động vào làm việc tại các khu, cụm công
có việc làm cũng tăng lên tập trung ở lao động không có tay nghề, không được
đào tạo, tuổi lao động cao và thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu cũng chỉ
ra việc thu hồi đất nông nghiệp làm cho tình hình tệ nạn xã hội tăng lên. Sự du
nhập nhiều luồng văn hóa từ bên ngoài vào do có cụm công nghiệp hình thành
làm thay đổi phong tục, tập quán, ý trí vượt khó cần cù lao động bị giảm xuống
thay vào đó là sự hưởng thụ. Cùng với đó là môi trường sống bị ô nhiễm và suy
giảm do tình trạng chất thải tại cụm công nghiệp, khu dân cư.
Trong nghiên cứu “Tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến người
dân trong quá trình đô thị hóa đặc thù công nghiệp hóa xã Bá Hiến huyện
Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc” của nhóm sinh viên Đào Thanh Thái, Nguyễn
Tiến Sơn, Hoàng Tuấn Dũng, Nguyễn Văn Linh, Trần Ánh Tuyết. Nghiên
cứu này đã chỉ ra tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương trước và
sau khi bị thu hồi đất. Nghiên cứu cũng chỉ ra những tác động chung chung về
các mặt của đời sống, xã hội, môi trường. Kết quả cho thấy việc thu hồi đất có
những mặt tích cực là có điều kiện để tiếp cận với cơ sở hạ tầng và hệ thống
an sinh xã hội tốt hơn, có nguồn vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh…Bên
cạnh những mặt tích cực thì nghiên cứu cũng đã đưa ra những mặt tiêu cực
của việc thu hồi đất đó là số người thất nghiệp tăng lên, thu nhập giảm đi,
cuộc sống của người dân bị động, mối quan hệ trong gia đình phải đối mặt
nhiều thách thức, vai trò của người phụ nữ chưa được cải thiện rõ ràng trong
gia đình. Các vấn đề tệ nạn xã hội như học sinh bỏ học, chơi game, thanh niên
đánh bạc…tăng lên. Qua nghiên cứu này cho thấy cũng với sự phát triển của
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa là một loạt các vấn đề xã hội kéo theo.
Ngoài ra còn có các nghiên cứu “Thực trạng việc làm của người dân
sau khi bàn giao đất cho khu công nghiệp” (2008) của Kim Thị Hồng Lụa
và nghiên cứu “Thực trạng nghề nghiệp của người dân sau khi bàn giao đất
cho khu công nghiệp” (2008) của Trần Thị Ngọc Khuyên. Hai đề tài nghiên
19
cứu này đều đã chỉ ra được thực trạng thu hồi đất để xây dựng các khu công
người lao động đều có trình độ học vấn thấp, hầu hết chưa được đào tạo
nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật. Cơ cấu lao động của các hộ nông dân bị thu
hồi đất nông nghiệp phần lớn là thất nghiệp và không có việc làm, hoặc việc
làm không ổn định.
Có thể thấy, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp và những tác động của nó
đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
với nhiều hướng tiếp cận khác nhau như kinh tế, văn hóa, xã hội học… Tất cả
các công trình nghiên cứu cũng như các bài viết trên đều đưa ra được thực
trạng thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – đô
thị hóa nói chung. Các tác giả đã đưa ra được những mặt tích cực và những
mặt tiêu cực của quá trình thu hồi đất sản xuất nông nghiệp như vấn đề về
việc làm, giải quyết việc làm, quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm cho
người lao động nhằm nâng cao đời sống về vật chất và tinh thần cho người
dân, giảm thiểu các vấn đề xã hội nảy sinh đặc biệt là tình trạng thất nghiệp
hiện nay; các vấn đề về môi trường, tệ nạn xã hội…
Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ nhìn nhận và đánh giá chung về
những tác động của việc mất đất dẫn đến mất việc làm của người dân sau khi
bị thu hồi đất nông nghiệp mà chưa nghiên cứu sâu về cách thức mà người
dân chuyển đổi việc làm, mô hình việc làm mới trong trường hợp cụ thể đặc
biệt là tại một vùng ven đô. Đặc thù Hà Nội, Hà Đông là quận mới sát nhập
Hà Nội vào năm 2008 và phường Kiến Hưng cũng là một xã vừa lên phường
tạo nên sự thay đổi toàn diện không chỉ về mặt hành chính mà cả về kinh tế,
văn hóa, xã hội. Đặc biệt, khi mới được chuyển từ xã lên phường thì vẫn đang
có sự giao thoa giữa một bên là đô thị tấp nập, ồn ào, náo nhiệt với một bên là
vùng nông thôn và người dân vẫn còn nặng về tâm lý trồng lúa nước. Đây
cũng là một điểm mới của đề tài cần nghiên cứu. Do đó, nghiên cứu “Chuyển
đổi việc làm của người dân ven đô sau khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
tại phường Kiến Hưng, quận Hà Đông, Hà Nội” nhằm làm nổi bật những
21