Đào tạo cán bộ công chức, viên chức của sở giáo dục và đào tạo tỉnh hải dương - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** LÊ THỊ NHANH
ĐÀO TẠO CÁN BỘ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC
CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH HẢI DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2014BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn trung thực và chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.

Tác giác luận văn
Lê Thị Nhanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghên cứu và viết luận văn thạc sĩ, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các giảng viên Khoa Kế toán và
Quản trị kinh doanh, Khoa đào tạo sau đại học - Trường Học Viện Nông
Nghiệp Hà Nội, đặc biệt là các giảng viên trong Bộ môn Quản trị kinh doanh -
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS.Đỗ Văn Viện dành
nhiều thời gian tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đồng chí trong Ban lãnh
đạo Sở Giáo dục và Đào tạo, các phòng ban chuyên môn của Sở đã tạo điều
kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn gia đình bạn bè đã động viên, chia sẻ và tạo

2.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. 14
2.1.4 Nội dung đào tạo. 15
2.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo cán bộ công chức, viên chức cấp Sở 18
2.1.6 Hình thức đào tạo 20
2.1.7 Quy trình đào tạo 21
2.2 Cơ sở thực tiễn 21
2.2.1 Kinh nghiệm đào tạo cán bộ công chức, viên chức ở các nước trên thế giới 24
2.2.2 Kinh nghiệm đào tạo cán bộ công chức, viên chức ở Việt Nam 29
3 ĐẶC ĐIẾM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Một số nét khái quát về Thành phố Hải Dương và Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Hải Dương 32
3.1.1 Khái quát đặc điểm địa lý, tự nhiên 32
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

3.1.2 Khái quát vị trí, vai trò và những kết quả đạt được của ngành Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Hải Dương 33
3.1.3 Quá trình hình thành và phát triển của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh
Hải Dương 39
3.1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương 40
3.1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 45
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Thực trạng đào tạo cán bộ công chức, viên chức Sở Giáo Dục và Đào
tạo tỉnh Hải Dương 47
4.1.1 Quy định tiêu chuẩn, điều kiện, chức danh cán bộ công chức, viên
chức cơ quan Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương 47
4.1.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Sở Giáo dục

XHCN Xã hội chủ nghĩa Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

3.1 Tình hình cán bộ công chức, viên chức của Sở Giáo dục và đào tạo
tỉnh Hải Dương 38
3.2 Thành phần và mục đích thu thập thông tin nhu cầu đào tạo 43
4.2 Số lượng cán bộ công chức, viên chức thuộc Sở Giáo Dục và Đào tạo
giai đoạn 2010-2013 50
4.3 Trình độ chuyên môn của CBCC,VC Sở Giáo dục và Đào tạo Hải
Dương năm 2013 51
4.4 Trình độ LLCT, QLNN, tin học của CBCC - VC khối cơ quan Sở GD
& ĐT Hải Dương năm 2013 53
4.5 Số lượng Các lớp đào tạo, bồi dưỡng CBCC – VC Sở GD & ĐT Hải
Dương năm 2011 – 2013 55
4.6 Trình độ chuyên môn CBCC - VC khối văn phòng Sở năm 2013 57
4.7 Trình độ CBCC - VC các phòng ban chuyên môn khối văn phòng Sở
năm 2013 59
4.8 Năng lực CBCC - VC các phòng ban chuyên môn thuộc khối văn
phòng Sở 61
4.9 Trình độ chuyên môn của CBCC - VC các đơn vị trực thuộc Sở 62
4.10 Trình độ CBCC - VC các đơn vị trực thuộc Sở năm 2013 63
4.11 Mức đáp ứng yêu cầu công việc của CBCC - VC thuộc Sở 65
4.12 Khó khăn của CBCC - VC trong thực thi nhiệm vụ 66

khi thiếu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, không hội tụ đầy đủ tri thức, trình
độ, năng lực, để đảm nhận và hoàn thành công việc được giao. Trong bất kỳ một tổ
chức chính trị nào, chính trị xã hội nghề nghiệp, đội ngũ cán bộ công chức, viên
chức chính là hạt nhân là nhân tố quyết định đến chất lượng hoạt động của chính
quyền các cấp, chính vì vậy trong phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính
giai đoạn 2010-2020. Tỉnh ủy đã đặt ra mục tiêu nhằm cải cách hành chính giai
đoạn 2011-2020, trong đó mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công chức, viên chức được đặc biệt quan tâm.
Ngày 13/11/2008, Quốc Hội đã Ban hành Luật số 22/2008/QH12 ngày Ban
hành Luật cán bộ công chức; chính phủ đã ban hành một số văn bản liên quan để
từng bước chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức, viên chức các cấp. Tuy nhiên, trên
thực tế, công tác quản lý hành chính Nhà nước của các cấp chính quyền trong cả
nước còn bị buông lỏng ở nhiều khâu, hiệu quả quản lý của chính quyền chưa cao,
tập trung chủ yếu ở cấp chính quyền các cấp, trong đó chính quyền cấp Sở là cấp có
nhiều khó khăn phức tạp khi thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Một trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp trồng người là việc đào
tạo CBCC - VC vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên
môn cao, có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu quả
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ
công chức, viên chức có vai trò vô cùng quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

quả hoạt động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền thuộc cấp Sở nói
riêng. Hiệu lực quản lý nhà nước được thực hiện bởi số lượng và chất lượng của đội
ngũ cán bộ công chức, viên chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn "Cán bộ nào thì
phong trào ấy". Do vậy, nhận biết được thực trạng của đội ngũ cán bộ công chức,
viên chức thuộc Sở là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đưa ra những giải
pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức
nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác đào tạo cán bộ công chức ,viên chức

sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết
quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.
Công tác đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu
cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa,
vùng đặc biệt khó khăn.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đào tạo
cán bộ công chức, viên chức của Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương” làm
luận văn tốt nghiệp.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 Mục tiêu chung.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác đào tạo cán bộ công chức, viên
chức của Sở Giáo Dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương những năm qua từ đó đề xuất
giải pháp tăng cường đào tạo cán bộ công chức, viên chức của Sở Giáo dục và Đào
tạo tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ công chức,
viên chức và đào tạo cán bộ công chức, viên chức.
- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức của Sở
Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương những năm qua và chỉ ra nguyên nhân ảnh
hưởng hạn chế công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức của Sở Giáo Dục và
Đào tạo tỉnh Hải Dương.
- Đề xuất giải pháp tăng cường đào tạo cán bộ công chức, viên chức thuộc
Sở Giáo dục và Đào Tạo tỉnh Hải Dương những năm tới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức

2.1 Cơ sở lý luận.
2.1.1 Khái niệm cán bộ công chức, viên chức và nâng cao trình độ và năng lực
cho cán bộ công chức, viên chức.
2.1.1.1 Khái niệm cán bộ công chức, viên chức.
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước”.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công
lập theo quy định của pháp luật”.
Bên cạnh các khái niệm “cán bộ”, “công chức” là khái niệm “viên chức”.
Luật Viên chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. Điều 2 quy định:
Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm
việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

rằng học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7

nghiệp của mỗi cá nhân.
Nâng cao trình độ là sự phát triển, nâng cao kiến thức nhận thức chính trị, về
kỹ thuật, về kinh tế - xã hội. Vì vậy, để nâng cao được trình độ chỉ có thể thông qua
đào tạo và ngược lại đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu này đó là xu thế tất yếu của
xã hội. Trình độ của mỗi cán bộ công chức, viên chức khác nhau, dẫn đến kết quả
thực thi và hoàn thành nhiệm vụ cũng khác nhau.
Cùng một vấn đề nghiên cứu, bàn luận, song người có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và sự hiểu biết xã hội sâu rộng sẽ giải quyết được vấn đề nhanh hơn và
ngược lại. Trong cuộc sống phát triển ngày càng cao, khoa học kỹ thuật đạt đến
đỉnh cao, điều đó đòi hỏi người cán bộ công chức, viên thức phải có trình độ học
vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và am hiểu các chủ trương, đường lối
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn
để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Năng lực được con người sử dụng ở nhiều phương diện như: Năng lực công tác,
năng lực sản xuất, năng lực quản lý điều hành Theo cuốn Gốc và nghĩa của từ tiếng
Việt thông dụng thì năng lực được chia làm hai vế: Năng là làm nổi việc; lực là sức
mạnh. Năng lực được hiểu là sức mạnh có thể làm nổi việc.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng NXB giáo dục ấn hành thì năng lực
được hiểu là "khả năng làm việc tốt”.
Theo đại từ điển Tiếng Việt NXB văn hoá thông tin: Hiểu theo hai nghĩa: 1.
Năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì. Ví dụ: Năng lực tư
duy của con người; 2. Năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc. Ví dụ:
Có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức.
Theo tác giả Snow tập trung chỉ ra cấu trúc lịch sử của khái niệm, thúc đẩy
mối quan tâm của các nhà tâm lý học thực hành, đặc biệt các chuyên gia đang làm
việc ở lĩnh vực học đường - bởi vì năng lực nhận thức và cả sở thích của học sinh -

quả hơn và cảm thấy hạnh phúc khi lao động". Trong nền Tâm lý học Liên xô từ
năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về những vấn đề năng
lực, có thể điểm qua một số các công trình nối tiếng của các tác giả như: Năng lực
toán học của V.A.Crutetxki, V.N. Miaxisốp; năng lực văn học của Côvaliốp, v.p.
Iaguncôva những công trình nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản
cả về mặt và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên xô
trong những nghiên cứu về năng lực.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

Trong bất cứ hoạt động nào của con người, để thực hiện có hiệu quả, con
người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết và tổ hợp những phẩm chất
này được gọi là năng lực. Theo quan điểm của Tâm lý học mác xít, năng lực của
con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Như chúng ta đã biết, nội dung
và tính chất của hoạt động được quy định bởi nội dung và tính chất của đối tượng
của nó. Tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất của đối tượng mà hoạt động đòi hỏi ở
chủ thể những yêu cầu xác định. Nói một cách khác thì mỗi một hoạt động khác
nhau, với tính chất và mức độ khác nhau sẽ đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm
lý (điều kiện cho hoạt động có hiệu quả) nhất định phù hợp với nó. Như vậy, khi
nói đến năng lực cần phải hiểu năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy
nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính
tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự
thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác
qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nói lên với tư cách
chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu
cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Do đó chúng
ta có thể định nghĩa năng lực như sau: "Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính
của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt
động đạt được những kết quả cao".
2.1.2 Khái niệm về đào tạo, nhu cầu đào tạo và đánh giá nhu cầu đào tạo.

Đào tạo con người là quá trình nâng cao năng lực của con người về mặt thể
lực, trí lực, tâm lực đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng
lực của nguồn nhân lực để phát triển doanh nghiệp, đất nước.
Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được
chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức phản ánh cùng một mục
đích là trang bị kiến thức cho họ. Đào tạo còn là quá trình truyền thụ và trang bị
những kiến thức mới để người cán bộ công chức, viên chức có một trình độ cao
hơn, còn bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức đòi hỏi
với những người mà họ đang giữ chức vụ nhất định. Trong công tác đào tạo cán bộ
công chức, viên chức thì việc làm sao để việc đào tạo có được chất lượng cao là
một vấn đề thời sự. Chất lượng đào tạo cán bộ công chức, viên chức thế hiện ở trình
độ, khả năng thực hiện các công việc tương ứng với thời gian và trình độ mà cán bộ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

công chức, viên chức đạt được.
Tóm lại, có thể nói đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức là các
hoạt động nhằm nâng cao năng lực và trình độ cho cán bộ công chức, viên chức
trong việc đóng góp vào các hoạt động và thành công của tổ chức, đơn vị trong
thực thi các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ được giao.
* Nhu cầu đào tạo
Là sự mong muốn giảm sự khác biệt giữa thực tế với điều kiện nên có. Sự
khác biệt này có thể về kiến thức và kỹ năng, quan điểm của học viên cần để làm
việc một cách tốt hơn.
Nhu cầu đào tạo chính là lỗ hổng kiến thức và kỹ năng đế thực hiện một
công việc nhất định. Hay nói cách khác nhu cầu đào tạo chính là sự khác nhau giữa
việc thực thi công việc như mong muốn và việc thực hiện công việc hiện tại của
một cá nhân.
Tự đào tạo là quá trình tự thân vận động để lĩnh hội kiến thức hoặc tham

Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân phải luôn ghi nhớ rằng “Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Thực hiện đường lối đổi mới CNH - HĐH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nền
Giáo dục đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu to lớn. Nền
Giáo dục nước ta đã phát triển tương đối toàn diện. Có những thành tựu đó là do có
vai trò của công tác đào tạo đội ngũ cán bộ. Đặc biệt là công tác đào tạo đội ngũ cán
bộ công chức, viên chức giáo dục, đưa nước ta từ một nước nghèo nàn lạc hậu trở
thành nước có nền giáo dục phát triển mạnh trên thế giới.
* Vai trò của các đơn vị trong việc đào tạo.
Thực hiện NQ TW 2 khóa VIII: Tập trung “nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu xây dựng thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”, như lời cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Vào đây là cất giấu kho báu của
trí tuệ dân tộc và trí tuệ loài người; ra khỏi đây là đi tới những nơi mình có thể đóng
góp phần quan trọng nhất của mình vào sự nghiệp xây dựng đất nước, đào tạo con
người và chuẩn bị cho tương lai”.
Mục tiêu của các trường là: Đào tạo những thế hệ trẻ có đủ năng lực, trình
độ; người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có
đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong nhiều năm qua, hệ thống các trường đào tạo như: Học Viện Nông
nghiệp Việt Nam, Trường Đại Học sư phạm I Hà Nội, Trường Đại học sư phạm II,
Trường Đại Học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Trường Đại
học Hằng Hải Hà Nội, Trường Đại học Thái Nguyên, Trường Trung tâm giáo dục
thường xuyên tỉnh Hải Dương, Trường chính trị tỉnh Hải Dương, Trung tâm chính
trị thành phố Hải Dương. Chúng ta đã đào tạo các cấp chính quyền bao nhiêu thế hệ
cán bộ công chức, viên chức có đủ đức, đủ tài gánh vác nhiệm vụ được Đảng và nhân

tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn
nhân lực cho CNH, HĐH đất nước; phát triển văn hoá thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; Tăng cường quốc phòng an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ
động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị xã hội; sớm
đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” .
Những nhiệm vụ nặng nề nêu trên đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ
cán bộ công chức, viên chức tương xứng vừa phải phát huy đức tính tốt đẹp của con
người Việt Nam truyền thống vừa có bản lĩnh, phẩm chất, năng lực và tác phong
công nghiệp đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Đảng và Nhà nước ta phải xây
dựng và chuẩn bị đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đặc biệt là phải xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trẻ, đồng bộ, có tầm nhìn xa, hạn chế sự hẫng
hụt, chắp vá
Từ Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) đến nay sau khi nhận thức khuyết
điểm về công tác cán bộ, Đảng ta đã từng bước xác định rõ quan điểm về xây dựng
đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong tình hình mới như sau:
Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ trình bày ở Đại hội
VII đến Nghị quyết Đại hội VIII, Đại hội IX, Đại hội X, Đại hội XI, nhiệm vụ
CNH, HĐH đặt ra rất nhiều yêu cầu đổi mới cho công tác cán bộ công chức, viên
chức. Đảng ta xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm, nhiệm vụ đó và các
nhiệm vụ khác là căn cứ để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức cả về cơ
cấu, số lượng, phẩm chất và năng lực để đáp úng yêu cầu mới, nhằm thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức phải gắn với xây dựng các tổ
chức, đổi mới cơ chế, chính sách, phương thức, lề lối làm việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức và
quản lý đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ đi

Page 16

- Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm thường xuyên xây dựng đội ngũ cán hộ,
công chức, viên chức Nhà nước có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị
đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt.
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hành chính Nhà nước nhằm xây dựng một
đội ngũ cán bộ công chức, viên chức vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng
của cán bộ công chức, viên chức Nhà nước trước yêu cầu của nhiệm vụ mới.
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng
cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới.
- Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng nghề nghiệp để xây dựng một đội ngũ chuyên gia giỏi, có năng lực xây
dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các
chương trình, dự án của Nhà nước có hiệu quả, đáp ứng các mục tiêu phát triển.
- Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ công chức, viên chức Nhà nước
để tăng cường khả năng giao dịch, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực
chuyên môn.
- Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công cụ tin học nhằm
từng bước hiện đại hoá và tăng cường năng lực của nền hành chính Nhà nước. Đào
tạo. Bao gồm xác định nhu cầu đào tạo, xác định mục tiêu, lựa chọn đối tượng, xây
dựng chương trình và lựa chọn phương pháp cụ thể như sau:
- Xác định nhu cầu đào tạo và xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải đào
tạo, đào tạo kỹ năng nào cho cán bộ nào và bao nhiêu người. Nhu cầu đào tạo được
xác định dựa trên phân tích nhu cầu cán bộ công chức, viên chức, các yêu cầu về
kiến thức và kỹ năng phân tích trình độ kiến thức và kỹ năng hiện có của cán bộ
công chức, viên chức.
Trước yêu cầu của công việc đòi hỏi ngày một chuyên sâu cùng với tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, người cán bộ công chức, viên chức phải không ngừng nâng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status