BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM HỒNG HÀ
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI
CỤC THUẾ BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tác giả luận văn
PHẠM HỒNG HÀ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được nội dung này, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ
rất tận tình của TS. NGUYỄN QUỐC OÁNH, sự giúp đỡ, động viên của các
thầy cô giáo trong khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, ban Quản lý đào tạo.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.
Nguyễn Quốc Oánh và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo
trong khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Cục thuế tỉnh Bắc Ninh và cán bộ các
Chi cục thuế đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp của luận văn 3
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU
NHẬP CÁ NHÂN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Tổng quan về thuế và thuế thu nhập ở Việt Nam 4
2.1.2. Tổng quan về thuế TNCN 6
2.1.3 Tổng quan về quản lý thuế TNCN 8
2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 20
2.2.1 Hệ thống các văn bản liên quan tới quản lý thuế thu nhập cá nhân 20
2.2.2. Bài học kinh nhiệm trong quản lý thuế thu nhập cá nhân 22
2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan 29
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1. Khái quát về kinh tế - xã hội của Tỉnh Bắc Ninh và Cục thuế Bắc Ninh 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh 30
3.1.2. Khái quát về Cục thuế Bắc Ninh 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
3.2.1. Khung phân tích 35
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá công tác quản lý thuế TNCN 40
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả và chất lượng công tác quản lý thuế TNCN . 40
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tính tuân thủ pháp luật thuế TNCN của đối tượng nộp
thuế 40
4. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
BẮC NINH 43
4.1. Thực trạng công tác quản lý thuế thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh 43
STT Tên bảng TrangBảng 3.1. Kết quả thu thuế TNCN trên tổng nguồn thu 32
Bảng 4.1. Tổ chức bộ máy quản lý thuế theo chức năng của Cục Thuế Bắc Ninh 44
Bảng 4.2. Kết quả cấp Mã số thuế TNCN giai đoạn 2011-2013 47
Bảng 4.3. Giao dự toán thu thuế thu nhập cá nhân cho các đơn vị cấp Chi cục 50
Bảng 4.4. Tổng hợp kết quả khai thuế TNCN giai đoạn 2011-2013 52
Bảng 4.5. Các lỗi thường gặp khi kê khai 53
Bảng 4.6. Tình hình nợ thuế TNCN từ năm 2013 55
Bảng 4.7. Số liệu nợ thuế của cơ quan chi trả giai đoạn các năm 2011 - 2013 56
Bảng 4.8. Kết quả thu nợ thuế TNCN của Cục Thuế Bắc Ninh bằng biện pháp đôn
đốc, thu nợ bình thường 57
Bảng 4.9. Tình hình người nộp nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2013 61
Bảng 4.10. Kết quả kiểm tra về thuế TNCN giai đoạn 2011 - 2013 62
Bảng 4.11. Đánh giá công tác quản lý kê khai và nộp thuế 69
Bảng 4.12. Đánh giá của đối tượng điều tra về công tác quản lý quyết toán thuế và
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 CQCT Cơ quan chi trả
3 ĐTNT Đối tượng nộp thuế
4 MST Mã số thuế
5 NNT Người nộp thuế
6 NSNN Ngân sách nhà nước
7 TNCN Thu nhập cá nhân
8 UBND Uỷ ban nhân dân Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Thuế TNCN đã được áp dụng từ lâu trên thế giới và có lịch sử hàng trăm
năm. Thuế TNCN được áp dụng lần đầu tiên ở Anh năm 1799 dưới hình thức thu
tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được
chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN được nhanh chóng lan
truyền sang các nước công nghiệp khác như: Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913),
Pháp (năm 1914) Các nước Châu Á như Thái Lan bắt đầu áp dụng vào năm
1939, ở Phi-líp-pin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-si -a năm 1949,
Trung Quốc năm 1984. Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN và
thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế
của nhiều nước. Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế
TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy
động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế.
lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Cục thuế Tỉnh Bắc Ninh” được lựa
chọn để nghiên cứu làm luận văn cao học.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất một số giải pháp
chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn
Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ cơ bản
sau:
Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về thuế Việt Nam nói
chung và thuế TNCN nói riêng.
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương về công tác quản lý thuế
TNCN.
Phân tích, đánh giá thực trạng của công tác quản lý thuế TNCN trên địa
bàn Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
trên địa bàn Cục thuế tỉnh Bắc Ninh.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhằm tăng cường công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn Cục thuế tỉnh
Bắc Ninh gồm một số vấn đề cơ bản sau:
Cơ quan quản lý thuế các cấp (từ tỉnh xuống thành phố, huyện, thị xã).
Đối tượng chịu thuế TNCN; Đối tượng nộp thuế.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu, đánh giá công tác
quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (thuế Nhà nước, 2002)
2.1.1.2 Hệ thống thuế của Việt Nam
Hệ thống thuế của nước ta bao gồm nhiều sắc thuế mà Nhà nước sử dụng
để tạo lập nguồn thu NSNN và thực hiện các mục tiêu nhất định trong quản lý
nền kinh tế.
Hệ thống thuế nước ta qua nhiều lần cải cách bằng nhiều văn bản luật
thuế, pháp lệnh và áp dụng chung cho mọi thành viên trong cả nước. Hệ thống
thuế của Việt Nam bao gồm các loại thuế sau: (1) Thuế giá trị gia tăng; (2) Thuế
thu nhập doanh nghiệp; (3) Thuế tiêu thụ đặc biệt; (4) Thuế xuất khẩu, nhập
khẩu; (5) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; (6) Thuế tài nguyên; (7) Thuế
TNCN; (8) Thuế môn bài; (9) Thuế môi trường; …
Ngoài ra, còn có một số loại phí khác có tính chất như thuế: lệ phí trước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
bạ, lệ phí chứng thư, lệ phí hải quan, phí giao thông, phí cầu phà, thu tiền sử
dụng đất…
Một hệ thống thuế hiện đại phải bảo đảm được các yêu cầu cơ bản sau: (1)
Tính công bằng (theo chiều dọc và chiều ngang); (2) Tính hiệu quả (đối với công
tác thuế và với nền kinh tế); (3) Tính trung lập; (4) Tính rõ ràng, minh bạch; (5)
Tính thân thiện; (6) Tính ổn định.
2.1.1.3 Phân loại thuế
Phân loại theo tính chất chuyển giao của thuế gồm:
Thuế trực thu: là loại thuế huy động trực tiếp một phần thu nhập của
người làm nghĩa vụ, NNT là người chịu thuế, không có sự chuyển giao gánh
nặng cho người khác chịu.
Thuế gián thu: là loại thuế mà NNT gián tiếp nộp cho người tiêu dùng, họ
không phải là người chịu thuế.Ở đây có sự chuyển giao gánh nặng thuế từ NNT
sang người tiêu dùng thông qua cơ chế giá cả.
Phân loại theo đối tượng đánh thuế gồm:
tính chất hành chính để thi hành luật thuế (như thủ tục kê khai, tính thuế và nộp
thuế).
Ngoài những yếu tố trên, trong luật thuế bao giờ cũng qui định rõ quyền
hạn trách nhiệm của chính phủ, UBND các cấp, của Bộ tài chính, cơ quan thuế ở
trung ương và các địa phương, nghĩa vụ của người nộp thuế.
2.1.2. Tổng quan về thuế TNCN
2.1.2.1 Khái niệm về thuế TNCN
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trên thu nhập nhận được của
các cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) hoặc theo
từng lần phát sinh (Nguyễn Xuân Quang, 2009).
Thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động
nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội. Thuế TNCN đánh vào
cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh.
2.1.2.2 Vai trò của thuế TNCN
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ
yếu của thuế nói chung vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có
được như:
Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
yếu của NSNN, trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu
thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính
cho nhà nước. Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho
ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của
dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng
có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần. Thuế TNCN
luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu
người.
Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thực hiện công bằng xã hội là một
cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có
tính chất xã hội trước khi tính thuế.
Bốn là, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến từng phần do
thuế TNCN được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ
vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động
viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong
xã hội.
Năm là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ. Thuế
TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó
không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ.
2.1.3 Tổng quan về quản lý thuế TNCN
2.1.3.1 Khái niệm quản lý thuế TNCN
Theo Giáo trình Khoa học quản lý (2001)
“Quản lý là sự tác động có
hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ
trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập
hệ thống mới và điều khiển hệ thống”
Như vậy, có thể hiểu
quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản
lý nên khác thể quản lý dựa trên những quy định và pháp luật liên quan
theo từng hoạt động.
Quản lý thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng là sự tác
động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối
với quá trình tính và thu thuế nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách, tạo sự
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
công bằng trong xã hội và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.
Page 10
đảm tăng thu vào tổng số thu NSNN. Qua đó, đáp ứng được mọi nhu cầu chi tiêu
thường xuyên, vừa góp phần tích luỹ cho xây dựng cơ sở hạ tầng và trả nợ, góp
phần giảm bội chi ngân sách, kiềm chế lạm phát. Tỷ trọng thu thuế TNCN trong
tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước
khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ
trọng 30- 40% như Anh, Mỹ. Tại Việt Nam, tỷ trọng thu về thuế TNCN cũng
mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
Quản lý thuế của Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện thuế TNCN được
nghiêm minh: Do đặc điểm của Thuế TNCN là một loại thuế trực thu điều tiết
vào thu nhập của cá nhân, do người chịu thuế trực tiếp nộp thuế vào NSNN, nên
nó rất có tác dụng trong việc điều hoà thu nhập, góp phần giảm bớt sự chênh lệch
về thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư. Tuy nhiên, thuế TNCN lại có hạn
chế lớn là dễ gây phản ứng từ phía NNT hoặc dễ xảy ra tình trạng trốn, lậu thuế
nếu quy định mức thuế suất cao. Hơn nữa, thuế TNCN có diện thu thuế rộng và
phân tán, việc theo dõi, tính toán và thu thuế rất phức tạp. Vì vậy, nếu không có
biện pháp quản lý thuế hiệu quả thì dễ dẫn đến hạn chế tác dụng của loại thuế này
trong việc tập trung số thu đầy đủ, kịp thời về cho NSNN, do đó phải có quản lý
thuế của Nhà nước để đảm bảo việc thu thuế được nghiêm chỉnh, đúng pháp luật.
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công
bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, thể hiện
rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc
"lợi ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế". Theo nguyên tắc “lợi ích” thì mọi
người trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về
luật pháp thể chế, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng
có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp
thuế. Nguyên tắc "công bằng" và “khả năng nộp thuế” thể hiện ở chỗ: người có
thu nhập cao hơn thì nộp thuế nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có
hoàn cảnh khó khăn hơn thì nộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các
việc quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN phải được nâng cao.
2.1.3.3 Đặc điểm của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
Đối với công tác quản lý thuế thì trước hết chúng ta cần phải xây dựng Bộ
máy quản lý thuế TNCN. Một đội ngũ cán bộ thuế chuyên trách được đào tạo
chuyên sâu trong công tác quản lý thuế TNCN là điều cần thiết nếu như chúng ta
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
muốn thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN. Đội ngũ này cần phải tổ chức
lại một cách thống nhất, đồng bộ và có khoa học. Nếu làm được điều này thì
chúng ta sẽ vừa tiết kiệm được chi phí cho công tác quản lý thuế đồng thời vẫn
đảm bảo thực hiện tốt công tác thu thuế.
Công tác quản lý thuế TNCN đặc biệt quan trọng ở khâu quản lý thu nhập
của các ĐTNT. Chính vì vậy, chúng ta cần phải giám sát thu nhập của tất cả các
đối tượng lao động.Để từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải
nộp thuế và nộp thuế là bao nhiêu. Muốn thực hiện tốt điều này thì chúng ta cần
phải có chế độ giám sát các khoản thu nhập một cách chặt chẽ như phải mở sổ
sách kế toán, chứng từ và các khoản chi trả thu nhập cần phải được làm sáng tỏ
trong sổ sách kế toán. Khi đó cơ quan thuế sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc xác
định cũng như kiểm tra thu nhập của người lao động. Đồng thời để tạo thuận lợi
cho công tác giám sát kiểm tra các ĐTNT thì cơ quan thuế cần phải tiến hành cấp
MST cho các ĐTNT và cơ quan chi trả thu nhập. Sau khi cấp MST thì cơ quan
thuế có thể giám sát các đối tượng qua MST của họ, nhờ đó mà tránh được tình
trạng thiếu sót các ĐTNT đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan
thuế trong công tác quản lý thuế.
Công tác quản lý thuế TNCN không chỉ dừng lại ở việc thu thuế đầy đủ
đúng như qui định, nó còn cần phải phát hiện ra những bất cập, thiếu sót trong
qui định về nội dung luật thuế cũng như những qui định trong công tác quản lý
kê khai nộp thuế. Trong quá trình thực hiện quản lý thuế, cơ quan sẽ dễ dàng tìm
ra những sai sót trong quá trình lập chính sách, đồng thời cũng sẽ dễ tìm ra
tạo mới của tập thể cán bộ trong quản lý, tạo điều kiện để cho mọi cán bộ đều có
cơ hội thăng tiến, phát huy khả năng làm việc cũng như học tập để nâng cao kiến
thức và trau dồi kỹ năng quản lý thuế. Theo đó là các chế độ thưởng đột xuất,
thường xuyên đối với cán bộ thuế nói chung và cán bộ thuế có thành tích xuất sắc
trong công tác quản lý thuế nói riêng. Đồng thời có những biện pháp xử lý
nghiêm những cán bộ vi phạm quy chế làm việc, có hành vi tham ô, nhận hối lộ.
Khai thác các yếu tố tâm lý giữ vai trò rất quan trọng trong công tác quản
lý thuế. Cán bộ lãnh đạo phải thực sự song hành cùng cán bộ thuế. Sự công tâm,
tâm lý trong công tác chỉ đạo, quản lý tác động tích cực rất lớn đến tính tự giác
và thái độ làm việc của cán bộ thuế.
Quan điểm của lãnh đạo ảnh hưởng đến các biện pháp xử lý đối với các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
ĐTNT tìm cách trốn thuế, dây dưa, chây ỳ trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai,
nộp thuế và hợp tác với cơ quan thuế. Đối với những đối tượng có hành vi gian
lận thuế, trốn thuế cần có những hình thức xử phạt thích đáng, đảm bảo tính công
bằng, làm cho mọi người tin tưởng vào pháp luật, tích cực đấu tranh chống các
hành vi vi phạm.
• Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN.
Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức
kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng
của ngành thuế. Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành
thuế. Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là
một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thuế hiệu quả, chính
xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí. Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản
lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về
dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu
theo kiểu thủ công.
Đội ngũ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế
phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng một bộ máy phù hợp với những
điều kiện kinh tế xã hội và có hiệu quả cao.
• Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu
quản lý thuế. Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý
thu nhập của các đối tượng. Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ
thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ
quan thuế trong việc giám sát, kê khai của NNT. Bên cạnh đó, nếu phương thức
thanh toán trong dân cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp
dụng phương pháp thu thuế TNCN thông qua ngân hàng. Điều này vừa giúp
giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu
nhập của ĐTNT. Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với
việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để
có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN.
• Tính nghiêm minh của luật pháp
Cơ quan quản lý làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm