Thực trạng và triển vọng trong hợp tác năng lượng giữa Việt Nam với Liên bang Nga - Pdf 28


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TRẦN KHÁNH LINH

THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG TRONG HỢP TÁC NĂNG LƢỢNG
GIỮA VIỆT NAM VỚI LIÊN BANG NGA LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


Mã số: 603107
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN CẢNH TOÀN
Hà Nội – 2014 i
LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, các Giáo sư, Tiến sĩ, Giảng viên đã tham gia giảng dạy,
hướng dẫn luận văn lớp Cao học K18 - Kinh tế đối ngoại, đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tác giả được học tập nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu

về năng lượng trong bối cảnh toàn cầu hóa 7
1.1. Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Hợp tác kinh tế quốc tế và nhu cầu hợp tác năng lượng
trong bối cảnh toàn cầu hóa 7
1.1.2. Các hình thức hợp tác năng lượng 9
1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1. Tổng quan về lĩnh vực năng lượng của Việt Nam 12
1.2.2. Vị thế, tiềm năng của Liên bang Nga trong lĩnh vực năng lượng 20
1.2.3. Sự cần thiết phải tăng cường hợp tác năng lượng giữa
Việt Nam và Liên bang Nga … 29
1.3 Kinh nghiệm hợp tác kinh tế về năng lươ
̣
ng của Việt Nam
với một số nước … 31
Chương 2: Thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và Liên bang Nga … 35
2.1. Khái quát về quan hệ chính trị và kinh tế song phương 35
2.2. Hợp tác năng lượng trong các lĩnh vực chủ chốt………………………….41
2.2.1 Hợp tác trong lĩnh vực thủy điện và nhiệt điện 41
2.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực dầu khí……………………………….…49
2.2.3 Hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân 56
Chương 3: Những đánh giá, triển vọng và một số giải pháp thúc đẩy quan
hệ hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - Liên bang Nga 67

iii
3.1 Đánh giá về thực trạng hợp tác hai nước trong lĩnh vực năng lượng… 67
3.2. Triển vọng hợp tác song phương 81
3.1.1. Vị trí và tầm quan trọng trong hợp tác năng lượng
giữa Việt Nam - Liên bang Nga 81
3.1.2. Một số dự báo về triển vọng hợp tác năng lượng
giữa Việt Nam - Liên bang Nga 82


i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2
LB Nga
Liên bang Nga
3
NMĐHN
Nhà máy điện hạt nhân
4
PVN
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
5
SNG
Cộng đồng các quốc gia độc lập


Các nhà máy thuỷ điện lớn (>100MW)
của Việt Nam.
14
2
Bảng 2.1
Kim ngạch và phần trăm tăng trưởng
thương mại Việt Nam - LB Nga và giá
trị xuất nhập, khẩu của Việt Nam.
37
3
Bảng 2.2
Nội dung và kết quả đàm phán về Hiệp
định xây dựng NMĐHN Ninh Thuận 1
giữa Việt Nam và Nga.

57
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của loài người, năng lượng luôn đóng một vai
trò quan trọng. Từ xa xưa con người đã biết khai thác các nguồn tài nguyên
năng lượng để phục vụ các hoạt động sản xuất, đi lại, xây dựng và đời sống
hàng ngày. Ngày nay, năng lượng đang trở thành là vấn đề cấp thiết, toàn cầu
khi mà các nguồn tài nguyên năng lượng trên thế giới bị con người khai thác
đang dần trở nên cạn kiệt trong khi nhu cầu ngày càng tăng cao. Chúng ta có
thể thấy rất rõ các vấn đề khủng hoảng năng lượng thường có tác động rất lớn
tới các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội của các nước trên thế giới. Do vậy
nhiều nước đã đưa vấn đề năng lượng thành quốc sách, đặt thành vấn đề ―an
ninh năng lượng‖ đối với sự phát triển của quốc gia trong đó có Việt Nam.
Việt Nam có nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng đầy đủ các chủng
loại như than, dầu khí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo. Trong
những năm vừa qua, Việt Nam đã tiến hành khai thác tích cực các nguồn tài
nguyên sẵn có và quan tâm phát triển ngành năng lượng nhưng đến nay về cơ
bản ta vẫn chưa thể tự cung ứng năng lượng, bên cạnh việc xuất khẩu than và
dầu thô, ta vẫn phải nhập khẩu các nguồn năng lượng từ bên ngoài. Theo
nghiên cứu của Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và
môi trường, Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Thế Chinh [48], từ năm 2025 đến

2. Tình hình nghiên cứu
Hợp tác giữa Việt Nam - LB Nga là vấn đề được nhiều người quan tâm
và bỏ nhiều công sức nghiên cứu, tuy nhiên tới nay chưa có một đề tài nghiên

3
cứu nào thực sự đi sâu vào vấn đề hợp tác năng lượng giữa Việt Nam - LB
Nga, có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu đã được công bố như:
Tác giả Nguyễn Công Khang và Nguyễn Quốc Minh (2010) trong
nghiên cứu về ―Triển vọng quan hệ hợp tác Việt - Nga về lĩnh vực dầu khí
trong khuôn khổ Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro‖ đã đề cập khá sâu sắc
về vấn đề hợp tác năng lượng Việt Nam và LB Nga trong lĩnh vực dầu khí
tuy nhiên nghiên cứu lại bị gói gọn trong hợp tác hai nước trong lĩnh vực dầu
khí và chỉ trong khuôn khổ xí nghiệp Vietsopetro.
Bên cạnh đó còn có bài viết như: Nhìn lại 10 năm chính sách đối ngoại
của LB Nga và quan hệ Việt Nam - LB Nga những năm đầu thế kỷ XXI của
tiến sỹ Nguyễn An Hà (2010); ―Thử phân tích chiến lược mới của Nga đối với
ASEAN và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam sau Thông điệp Liên bang
ngày 12/11/2009 của Tổng thống D.Medvedev‖ của tiến sỹ Nguyễn Cảnh
Toàn; bài ―Quan hệ Việt - Nga: Một mô hình của quan hệ truyền thống và đối
tác chiến lược‖ của tác giả Lê Quỳnh Nga (2010); bài Quan hệ đối tác chiến
lược Việt - Nga của tác giả Đinh Công Tuấn (2010); Sách ―Quan hệ kinh tế
Việt Nam - LB Nga, hiện trạng và triển vọng‖ của tác giả Bùi Huy Khoát,
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995; Sách ―Quan hệ Việt - Nga
trong bối cảnh quốc tế mới‖ của tác giả Võ Đại Lược - Lê Bộ Lĩnh, Nhà xuất
bản Thế giới (2005). Bài ―Quan hệ kinh tế Việt Nam - LB Nga (2001 - 2010)‖
của Nguyễn Sinh Cúc. Ngoài ra còn có nhiều bài viết có liên quan được đăng
trên các báo, tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Kinh tế
đối ngoại, mạng Internet, các báo Dân trí, báo Nhân dân, báo Tuổi trẻ. Dù
phong phú về số lượng và chủng loại song các công trình trên trên chỉ đưa ra
một cách khái quát về tình hình hợp tác năng lượng giữa hai nước như là một

hệ thống lại các vấn đề để có thể đưa ra bức tranh khái quát về đề tài nghiên
cứu, góp phần làm cho bài viết thêm mạch lạc và đầy đủ.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trong bối cảnh hiện tại khi mà trữ lượng tài nguyên dầu mỏ, than đá
trên thế giới đang ngày trở nên cạn kiệt, năng lượng đã và sẽ là vấn đề cấp
thiết và nỏng bỏng đối với các nước, đặc biệt là đối với những nước đang trên
đà phát triển như Việt Nam.
Hợp tác năng lượng Việt Nam - LB Nga đã có truyền thống từ thời
Liên Xô và ngày càng phát triển cho đến ngày nay, không chỉ giúp ta đáp ứng
được yêu cầu đảm bảo an ninh năng lượng, tận dụng được những công nghệ
mới hiện đại của Nga trong lĩnh vực này mà còn củng cố, tăng cường đảm bảo
an ninh quốc gia của Việt Nam trong bối cảnh tranh chấp biển đảo giữa ta và
Trung Quốc chở nên ngày càng diễn biến phức tạp.
Tuy vậy hiện nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu sâu và đầy đủ
toàn cảnh về thực trạng hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga. Do
vậy, đề tài nghiên cứu về ―Thực trạng và triển hợp tác năng lượng Việt Nam -
LB Nga‖ không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Luận văn đã tập hợp, lựa chọn và xử lý một khối lượng tư liệu lớn, rời
rạc để dựng thành một bức tranh tổng thể về thực trạng và triển vọng trong
hợp tác năng lượng giữa Việt Nam và LB Nga. Trên cơ sở những khó khăn,
hạn chế trong quá trình hợp tác giữa hai nước, tác giả đã đưa ra những kiến
nghị, giải pháp có thể khắc phục và thúc đẩy hợp tác năng lượng giữa Việt
Nam - LB Nga.

6
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, bảng chữ các viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo và
phần phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của hợp tác kinh tế về năng lượng trong
bối cảnh toàn cầu hóa.

tế đối ngoại phát triển.
Một cách tổng thể, hợp tác kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó
diễn ra quá trình xã hội hoá có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất
giữa các chủ thể kinh tế quốc tế. Đó là sự thành lập một tổ hợp kinh tế quốc tế
của một nhóm thành viên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi ích
giữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các
bên và thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả về chiều rộng và chiều
sâu. Liên kết, hợp tác kinh tế quốc tế được xem là mối quan hệ kinh tế vượt ra
khỏi lãnh thổ của một quốc gia, được hình thành dựa vào sự thỏa thuận hai
bên hoặc nhiều bên, ở tầm vĩ mô hoặc vi mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động kinh tế và thương mại phát triển. Quá trình liên kết kinh tế quốc tế
đưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các
mối quan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng. Các bên tham gia liên kết

8
kinh tế quốc tế có thể là các quốc gia hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thuộc
các nước khác nhau.
Toàn cầu hóa là xu thế khách quan của nhân loại mà không một quốc
gia nào có thể đứng ngoài. Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên
tất cả các lĩnh vực của cuộc sống và lĩnh vực năng lượng cũng không nằm
ngoài quy luật này. Thật vậy, sự ràng buộc giữa các quốc gia về năng lượng
ngày càng trở nên rõ ràng hơn khi mà hiện này mọi biến động (tăng, giảm giá
sản phẩm hay sản lượng hàng năm, hay tình hình chính trị ) trên thị trường
năng lượng đều tác động tới các nền kinh tế lớn nhỏ trên thế giới, không chỉ
tới các nước nhập khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc mà còn tới
các nước xuất khẩu như Nga, Iran Chính vì vậy nhu cầu hợp tác trên thế
giới để đảm bảo sự thống nhất giữa các quốc gia về chính sách trong lĩnh vực
này nhằm tạo sự ổn định thị trường năng lượng thế giới là nhu cầu tất yếu,
không thể thiếu trong thời đại hiện nay. Một số tổ chức quốc tế được lập ra
đang điều hành và chi phối các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng như: Tổ

- Hình thức hợp tác trong lĩnh vực sản xuất: Là hình thức hợp tác trong
lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn
hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế các sản phẩm năng lượng.
Nhận gia công các bộ phận, máy móc thiết bị năng lượng là một hình
thức hợp tác hiệu quả, tận dụng được nguồn lao động, tạo nhiều việc làm và
tận dụng công suất máy móc hiện có. Muốn mở rộng việc nhận gia công cho
nước ngoài phải nắm bắt tốt những nhu cầu sản xuất hàng hóa của thế giới.

10
Về mặt pháp lý, xí nghiệp chung thường được tổ chức dưới hình thức
công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số vốn góp của các
thành viên. Các xí nghiệp này thường được ưu tiên xây dựng ở những ngành
nghề kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu và
trở thành nguồn thu ngoại tệ chuyển đổi hay tạo điều kiện cho Nhà nước tiết
kiệm ngoại tệ. Do phân công lao động quốc tế tất yếu dẫn đến hợp tác quốc tế
trên cơ sở chuyên môn hoá, có thể là chuyên môn hoá giữa những ngành khác
nhau hay chuyên môn hoá trong cùng một ngành. Hình thức này làm cho cơ
cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết, phụ thuộc lẫn nhau.
- Hình thức hợp tác khoa học kỹ thuật: Hình thức này được thực hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau như phối hợp nghiên cứu khoa học kỹ thuật,
hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân, chuyển giao công nghệ
Đối với những nước lạc hậu về kỹ thuật, phương tiện vật chất kỹ thuật
còn thiếu, đội ngũ cán bộ mỏng, vốn đầu tư nghiên cứu ít thì việc hợp tác
khoa học kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng, giúp các nước này nhanh chóng
rút ngắn khoảng cách lạc hậu về khoa học kỹ thuật với các nước phát triển.
- Hình thức ngoại thương hay thương mại quốc tế trong lĩnh vực năng
lượng là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (các sản phẩm, thiết bị năng lượng như
dầu mỏ, ga, than đá, các thiết bị trong các công trình năng lượng; dịch vụ
thẩm định, thiết kế, xây dựng ) giữa các quốc gia.
Ngoại thương có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là


12
các tổ chức kinh tế, xã hội, các cá nhân trong nước với các chính phủ, các tổ
chức chính phủ và phi chính phủ, các cá nhân ngoài nước. Tín dụng có thể
dưới nhiều hình thức như vay nợ bằng tiền tệ, vàng, công nghệ, hàng hóa
hoặc thông qua hình thức đầu tư trực tiếp. Vốn tín dụng được dùng để mở
rộng sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng - những công trình năng lượng.
- Hình thức thu ngoại tệ khác: Hình thức này chủ yếu là xuất khẩu lao
động ra nước ngoài và tại chỗ, đáp ứng nhu cầu lao động trong lĩnh vực năng
lượng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về lĩnh vực năng lƣợng của Việt Nam
Ngành năng lượng Việt Nam đã có đóng góp đáng kể cho phát triển
kinh tế, tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu của đất nước. Việt Nam có
nguồn năng lượng đa dạng như: Dầu khí, than, thủy điện, năng lượng sinh
khối, năng lượng mặt trời, gió…nhưng không thật dồi dào.
Than là nguồn dự trữ năng lượng sơ cấp lớn nhất Việt Nam. Theo
Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trữ
lượng than Việt Nam rất lớn: Quảng Ninh khoảng 10,5 tỷ tấn trong đó đã
tìm kiếm thăm dò 3,5 tỉ tấn, chủ yếu là than antraxit. Đồng bằng sông
Hồng dự báo tổng trữ lượng 210 tỉ tấn than Ábitum, các mỏ than ở các tỉnh
khác khoảng 400 triệu tấn và riêng than bùn phân bố hầu hết ở 3 miền
khoảng 7 tỉ m3, chủ yếu tập trung ở miền Nam Việt Nam. Ngành than
được điều khiển bởi Vinacomin. Vinaomin nắm giữ 51% ở hầu hết các
công ty than nên các hoạt động xuất khẩu hay bán cho một số khách hàng,
khối lượng cũng như giá cả của các công ty này bị phụ thuộc vào đơn vị
chủ quản Vinacomin.

13


MW, trong đó có khoảng 3.000 MW đã được phát triển và khoảng 800
MW đang được xây dựng. Công suất của thủy điện hiện nay chiếm
khoảng 55% của tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống liên kết, khoảng
5.300 MW. Các nghiên cứu từ trước tới nay đã xác định được tiềm năng
lý thuyết của các sông ngòi Việt Nam vào khoảng 300 tỷ kWh và được
phân theo các vùng như sau: Miền Bắc(181 tỷ kWh); Miền Trung (89 tỷ
kWh); Miền Nam (30 tỷ kWh). Thủy điện là một nguồn năng lượng có thể
khai thác được với trình độ kỹ thuật của ta và có hiệu quả về phương diện
kinh tế trong tình hình hiện nay.
Bảng 1.2: Các nhà máy thuỷ điện lớn ( >100MW) của Việt Nam
Số
thứ
Tự
Tên
Công suất lắp máy
(MW)
Tỉnh

A. Đang vận hành 1
Hòa Bình
1920
Hòa Bình
2
Thác Bà
108
Yên Bái
3

Tuyên Quang
342
Tuyên Quang
2
Bản Chát
220
Lai Châu
3
Huội Quảng
520
Sơn La
4
Sơn La
2400
Sơn La
5
Bản Vẽ
300
Nghệ An
6
A Vương
210
Quảng Nam
7
Kanak-An Khê
173
Gia Lai
8
Sông Tranh 2
190

16
16
Đồng Nai 3
240
Lâm Đồng
17
Đồng Nai 4
270
Lâm Đồng

C. Chuẩn bị 1
Nho Quế 3
135
Hà Giang
2
Lai Châu
1200
Lai Châu
3
Nam Chien
210
Sơn La
4
Trung Sơn
250
Thanh Hoá
5

Kontum

D. Qui hoạch 1
Đông Phù Yên
1200
Sơn La
2
Bác Ái
1050
Ninh Thuận
(Nguồn: Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam năm 2010)
Dầu khí: Việt Nam được xếp thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ
31 trên thế giới về sản lượng dầu thô và khí đốt, có mức đóng góp khoảng

17
20% - 25% GDP hàng năm của Việt Nam. Tuy nhiên, ngành dầu mỏ của Việt
Nam chỉ mới đi vào khai thác và chế biến nên vẫn chưa thể đáp ứng đủ nhu
cầu sử dụng trong nước. Hiện nay, nước ta chủ yếu vẫn là khai thác để xuất
khẩu dầu thô, nhập khẩu dầu tinh phục vụ cho nhu cầu nội địa. Một số nhà
máy lọc dầu đã đi vào hoạt động như nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy
lọc dầu Nghi Sơn … nhưng mới chỉ cung cấp được khoảng 30% nhu cầu nội
địa. Sản lượng dầu khí Việt Nam từ năm 2001 - 2005 có sự tăng trưởng khá
cao và đều. Tuy nhiên, giai đoạn 2006 - 2008, sản lượng sụt giảm do diễn
biến ở các mỏ phức tạp, thời tiết xấu, sản lượng khai thác không đạt mức dự
kiến khi thăm dò…
Giai đoạn từ 2009 đến nay, công tác khai thác đã có những bước
tiến triển tốt. PVN liên tiếp hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. PVN đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status