Quản trị vốn luân chuyển tại công ty cổ phần đầu tư và xây dựng bưu điện (full) - Pdf 28

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế ngày
càng sâu rộng, mở ra cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận
và kế thừa công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại của các nền kinh tế phát
triển, mở rộng thị trường ra bên ngoài đồng thời cũng đề ra những thách thức
không nhỏ cho các doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển bền vững đòi hỏi
các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh
tranh, trong đó vấn đề nâng cao năng lực tài chính và trình độ quản trị vốn trở
nên đặc biệt quan trọng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của doanh nghiệp là
năng lực quản trị tài chính hạn chế, thể hiện qua tình trạng thiếu vốn, mất khả
năng thanh toán. Nếu doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì sẽ dẫn đến thâm
hụt vốn và phá sản. Nhưng một doanh nghiệp hoạt động có lãi chưa chắc đã
hiệu quả khi sức khỏe tài chính không tốt. Có lợi nhuận nhưng không có tiền
để tái đầu tư, để tài trợ hoạt động liên tục, để thanh toán công nợ đúng hạn thì
cũng chưa được đánh giá là hiệu quả. Quản trị năng động cấu trúc vốn sẽ góp
phần cải thiện tỷ suất sinh lợi, gia tăng giá trị doanh nghiệp. Do đó, quản trị
vốn, đặc biệt là quản trị vốn luân chuyển tốt sẽ mang lại sự phát triển bền
vững đối với các doanh nghiệp, nhất là đối với các công ty cổ phần.
Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu điện là một doanh nghiệp Nhà
nước được cổ phần hóa kể từ năm 2004, hoạt động trong lĩnh vực xây lắp và
thương mại các sản phẩm công nghệ thông tin. Trong quá trình phát triển của
mình, Công ty không ngừng cải thiện và xây dựng các giải pháp về quản trị
kinh doanh để ngày càng hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, xuất thân từ một doanh
nghiệp Nhà nước lại kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù vì vậy công tác quản
1
trị nói chung và quản trị tài chính nói riêng còn mạng nặng bao cấp, chưa linh
hoạt và quan tâm đúng mức. Để tìm hiểu sâu hơn vấn đề này, em đã chọn đề
tài: Quản trị vốn luân chuyển tại Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bưu
điện, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện hơn công tác

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị vốn luân chuyển trong doanh
nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị vốn luân chuyển tại Công ty cổ
phần Đầu tư & Xây dựng Bưu điện.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị vốn luân chuyển tại
Công ty cổ phần Đầu tư & Xây dựng Bưu điện.
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN
CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn,
đó là các tài sản có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt trong một chu kỳ
kinh doanh, thường qui ước nhỏ hơn hoặc bằng một năm.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn luân chuyển có vai trò duy trì
hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp đáp ứng đủ nhu cầu về vốn
luân chuyển, quá trình kinh doanh sẽ không bị gián đoạn. Xây dựng được cơ
cấu vốn luân chuyển hợp lý sẽ tiết kiệm được nguồn vốn và nâng cao khả
năng sinh lợi cho doanh nghiệp.
Khi phân tích về vốn luân chuyển, người ta có thể sử dụng thêm chỉ tiêu
vốn luân chuyển ròng (VLCR), đây là phần giá trị tài sản ngắn hạn được tài
trợ bằng các nguồn vốn dài hạn.
Vốn luân chuyển ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
Nếu vốn luân chuyển ròng bị âm (VLCR<0), nghĩa là nợ ngắn hạn lớn
hơn tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp đã sử dụng một phần nợ ngắn hạn đầu tư
vào tài sản cố định. Vốn luân chuyển ròng âm rất nguy hiểm bởi vì nợ ngắn
hạn có thời gian đáo hạn ngắn, trong khi tài sản cố định có thời gian hoàn vốn
chậm dẫn đến doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
1.1.2 Phân loại vốn luân chuyển
Nhằm đảm bảo sử dụng vốn luân chuyển hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả,

5
khâu của quá trình luân chuyển vốn, để điều chỉnh phù hợp với mục tiêu quả
trị của doanh nghiệp nhằm tạo ra một cơ cấu vốn luân chuyển hợp lý. Đồng
thời, đây cũng là cơ sở để quản lý mức dự trữ hàng tồn kho.
1.1.2.2 Phân loại vốn luân chuyển dựa theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này vốn luân chuyển được chia thành 2 loại: Vốn
bằng tiền và vốn hàng tồn kho.
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng,
tiền đang chuyển và các khoản công nợ phải thu.
- Vốn hàng tồn kho: bao gồm vốn về vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang,
thành phẩm.
Ý nghĩa của cách phân loại này: Giúp doanh nghiệp tính toán, kiểm tra được
khả năng thanh toán, mức tồn kho dự trữ của doanh nghiệp. Là cơ sở để
doanh nghiệp đánh giá kết cấu vốn luân chuyển, từ đó tìm ra các biện pháp
phát huy chức năng của các thành phần vốn.
1.1.2.3 Phân loại vốn luân chuyển dựa theo nguồn hình thành
Theo cách phân loại này vốn luân chuyển được chia thành 2 loại: Nguồn
vốn chủ sở hữu và nợ.
- Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.
- Nợ: là các khoản nợ được hình thành từ nhiều nguồn như: tín dụng ngân
hàng, tín dụng thương mại, và vay thông qua phát hành trái phiếu, …. để bổ
sung thêm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp chỉ có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.
Ý nghĩa của cách phân loại này: Giúp doanh nghiệp thấy được kết cấu vốn
luân chuyển của doanh nghiệp được hình thành từ nguồn vốn nào, tự có hay
từ nợ vay. Từ đó doanh nghiệp có thể lựa chọn được đối tượng huy động tối
ưu để có được số vốn ổn định đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
6
1.1.3 Kết cấu vốn luân chuyển và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn

nghiệp khác, thông thường sự giao nhận tiền – hàng hóa không xảy ra đồng
thời nên phát sinh công nợ phải thu khách hàng. Qui mô các khoản phải thu
phục thuộc vào qui mô kinh doanh của doanh nghiệp, loại hình kinh doanh
của doanh nghiệp và chính sách tín dụng của doanh nghiệp.
- Giá trị hàng tồn kho: Trong quá trình luân chuyển vốn phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh thì vật tư, sản phẩm dở dang, hàng hóa tổn kho là
điều không thể thiếu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tính toán, duy trì
một lượng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hóa với cơ
cấu hợp lý nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh liên tục và hiệu quả.
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn luân chuyển
- Các nhân tố về mặt sản xuất: bao gồm các nhân tố như qui mô sản xuất,
trình độ sản xuất, đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất, độ phức tạp của sản
phẩm, độ dài của chu kỳ sản xuất, … khác nhau sẽ dẫn đến tỷ trọng vốn luân
chuyển ở các khâu dự trữ - sản xuất – lưu thông khác nhau.
- Các nhân tố về cung ứng – tiêu thụ: khoảng cách giữa doanh nghiệp và
các nhà cung cấp, khoảng cách giữa doanh nghiệp và khách hàng, khả năng
cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng, khối lượng tiêu thụ sản phẩm mỗi
lần giao hàng, ….
- Các nhân tố về mặt thanh toán: phương thức thanh toán, thủ tục thanh
toán, việc chấp hành kỷ luật trong thanh toán, ….
1.1.4 Sự cần thiết của việc quản trị vốn luân chuyển
Tài sản ngắn hạn thường chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của
một doanh nghiệp. Chúng có đặc điểm chuyển hóa thành tiền nhanh, vì thế tài
8
sản ngắn hạn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo khả năng thanh
toán của doanh nghiệp. Tuy nhiên, so với các tài sản khác, chúng lại có khả
năng sinh lợi thấp.
Đối với nhà quản trị tài chính của một doanh nghiệp, các chỉ tiêu liên
quan đến vốn luân chuyển là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến lượng tiền
một doanh nghiệp cần duy trì hoạt động thường xuyên. Nếu vốn luân chuyển

Hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển là việc xây dựng nhu cầu vốn cần
phải đầu tư cho năm kế hoạch, dựa trên cơ sở tổng hợp nhu cầu của từng bộ
phận vốn luân chuyển cần đầu tư.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự ảnh hưởng
của nhiều yếu tố: nguồn lực tài chính, thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường
các yếu tố đầu vào, … Sự biến động của môi trường kinh doanh bên ngoài
hay những yếu tố bên trong của doanh nghiệp đều ảnh hưởng đến qui mô vốn
luân chuyển. Doanh nghiệp luôn cần một lượng vốn để đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất. Nếu nhu cầu
vốn luân chuyển được xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác
tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng về vốn, làm gián đoạn quá trình tái sản
xuất của doanh nghiệp, doanh nghiệp không có khả năng trả nợ được người
lao động, trả nợ nhà cung cấp khi đến hạn thanh toán làm giảm uy tín của
doanh nghiệp và ngược lại.
Vì vậy, việc xác định đúng đắn và hợp lý nhu cầu vốn luân chuyển có ý
nghĩa rất quan trọng, giúp cho doanh nghiệp xác định được qui mô vốn cần
thiết, từ đó có những giải pháp quản lý, cân đối giữa các loại tài sản sao cho
hiệu quả.
10
1.2.1 Phương pháp hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển
Việc xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp. Tùy
theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong từng
thời kì mà có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định
nhu cầu vốn. Có hai phương pháp chủ yếu để xác định nhu cầu vốn của doanh
nghiệp là: Phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
1.2.1.1 Phương pháp trực tiếp
Nội dung phương pháp này là doanh nghiệp căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến vốn luân chuyển của doanh nghiệp để xác định nhu cầu
vốn luân chuyển của doanh nghiệp
- Xác định nhu cầu vốn tiền mặt: căn cứ vào lượng tiền mặt cần thiết cho

định nhu cầu vốn. Có thể chia thành hai trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh
nghiệp kinh doanh cùng ngành để xác định nhu cầu vốn cho mình. Việc xác
định nhu cầu vốn theo cách này là dựa vào hệ số vốn luân chuyển tính theo
doanh thu được rút ra từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh
cùng ngành. Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự kiến của doanh
nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn luân chuyển cần thiết.
- Trường hợp thứ hai: Dựa vào mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành
vốn luân chuyển với doanh thu thuần của kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ phần
trăm tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn cho
năm kế hoạch.
Phương pháp này thực hiện theo các trình tự sau:
+ Xác định số dư các bộ phận vốn luân chuyển năm báo cáo.
+ Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo
cáo.
Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn luân chuyển so với doanh thu
thuần.
+ Xác định nhu cầu vốn luân chuyển cho năm kế hoạch.
Phương pháp này đơn giản hơn, dễ thực hiện, khối lượng tính toán không
nhiều nhưng kém chính xác hơn.
1.2.2 Giải pháp cho nguồn vốn thiếu
12
Sau khi hoạch định nhu cầu vốn luân chuyển, trong trường hợp vốn luân
chuyển thiếu, doanh nghiệp cần tìm cho mình nguồn tài trợ hợp lý. Doanh
nghiệp có thể sử dụng các nguồn tài trợ sau:
- Nguồn vốn chủ sở hữu: Đây là nguồn vốn do Nhà nước cấp (đối với
doanh nghiệp Nhà nước), vốn do cổ đông đóng góp ( đối với công ty cổ
phần), vốn bổ sung từ kết quả kinh doanh. Sử dụng nguồn vốn này doanh
nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán nhưng chi phí sử dụng cao.
- Nguồn vốn vay: Đây có thể là các khoản vay từ các tổ chức tín dụng,

xác định chi tiết cho từng mục tiêu mà chỉ tổng hợp lại và xây dựng một tài
khoản tiền mặt hợp lý, vì cùng một khoản tiền, doanh nghiệp có thể sự dụng
cho nhiều mục đích khác nhau. Dù vậy, nhà quản trị tài chính vẫn phải xem
xét đầy đủ các yếu tố để xây dựng mức tồn quĩ mục tiêu.
Hoạch định nhu cầu tiền mặt tối ưu của doanh nghiệp phải thỏa mãn được
những nhu cầu chính: chi trả các khoản phải trả phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp; chi tiền nộp thuế; dự phòng cho các
khoản chi ngoài kế hoạch; dự phòng cho các cơ hội phát sinh ngoài dự kiến
khi thị trường có sự thay đổi đột ngột
Hoạch định nhu cầu tiền mặt tức là quyết định xem doanh nghiệp nên
thiết lập và duy trì mức tồn quĩ bao nhiêu là hợp lý. Liên quan đến việc đánh
đổi giữa chi phí cơ hội do giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch do giữ
quá ít tiền mặt.
Chi phí cơ hội: là chi phí mất đi do giữ tiền mặt, khiến cho tiền không
được đầu tư vào hoạt động sinh lời.
Chi phí giao dịch: là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi từ tài sản khác
thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi tiêu.
14
Nếu doanh nghiệp giữ quá nhiều tiền mặt thì chi phí giao dịch sẽ nhỏ,
nhưng ngược lại chi phí cơ hội sẽ lớn. Tổng chi phí giữ tiền mặt chính là tổng
chi phí cơ hội và chi phí giao dịch.
Doanh nghiệp phải làm sao cân bằng được giữa chi phí cơ hội và chi phí
giao dịch để tổng chi phí tồn quĩ là thấp nhất.
Chi phí
Chi phí cơ hội
Tổng chi phí giữ tiền mặt
Chi phí giao dịch

C
*

séc và thời điểm tờ séc được xuất trình.
- Hệ thống tài khoản thu gom: Doanh nghiệp có thể đẩy nhanh tốc độ thu
tiền, tăng thời gian hữu dụng của vốn bằng tiền thông qua hệ thống tài khoản
thu gom. Trong hệ thống tài khoản thu gom, các tờ séc của khách hàng được
gửi đến hộp thư đặt ở gần khách hàng. Ngân hàng địa phương sẽ đến kiểm tra
hộp thư nhiều lần trong ngày và chuyển tiền vào tài khoản của doanh nghiệp
ngay tại địa phương đó. Sau đó, ngân hàng báo có cho doanh nghiệp những
biên lai nhận được trong ngày thông qua hệ thống chuyển dữ liệu điện tử.
16
Thông qua hệ thống tài khoản thu gom, vốn trôi nổi do thu và chi tiền
được rút xuống, nó giảm thời gian nhận séc từ khách hàng, sau đó chuyển qua
hệ thống ngân hàng để đưa quĩ vào sử dụng. Qua hệ thống này, bên cạnh việc
tăng thời gian sử dụng ngân quĩ so với hệ thống thông thường, nó còn làm
giảm chi phí do ngân hàng chuyên môn hóa trong việc xử lý hệ thống thu
gom lớn nên chi phí trên mỗi đơn vị thấp hơn.
- Kiểm soát quá trình thanh toán: Mục đích của kiểm soát quá trình thanh
toán là làm chậm lại tới mức có thể các khoản chi. Các biện pháp tiến hành
gồm:
+ Cực đại hóa vốn trôi nổi: Là tìm cách làm tăng khoản chênh lệch giữa
tổng số tiền séc thanh toán qua ngân hàng và giá trị thể hiện trên sổ sách của
doanh nghiệp. Điều này được thực hiện bằng cách doanh nghiêp thực hiện
thanh toán cho nhà cung cấp từ các tài khoản đặt ở vị trí rất xa các nhà cung
cấp, điều này làm tăng thời gian chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng. Séc
được phát hành xa khách hàng nên có thể tối đa hóa vốn trôi nổi chuyển
khoản.
+ Sử dụng nhiều ngân hàng có khả năng dịch chuyển vốn nhanh tới các
ngân hàng mà khoản chi xuất hiện, có thể ngăn ngừa được sự tích tụ quá mức
tiền ở một ngân hàng nào đó.
+ Tập trung hóa các khoản phải trả, thường là về trung tâm nhờ đó có
thể điều tiết chính xác các khoản trả theo ý muốn.

lợi của tài sản và tăng nguy cơ nợ khó đòi làm ảnh hưởng đến việc bảo toàn
và phát triển vốn của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc bán hàng tín dụng cần tuân theo một khuôn khổ chính sách
hợp lý. Quyết định chính sách bán tín dụng gắn liền với việc đánh đổi giữa
18
chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng
hóa, kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và
chi phí rủi ro.
1.3.2.1 Chính sách tín dụng thương mại
Thành công hay thất bại của một doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào
nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
số bán hàng sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, yêu tố bên ngoài và cả những yếu
tố bên trong nằm trong phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp. Những yếu tố có
thể kiểm soát được bao gồm: giá bán, chất lượng sản phẩm và chính sách tín
dụng. Trong đó, chính sách tín dụng được xem là yếu tố quyết định tình hình
khoản phải thu của doanh nghiệp.
Chính sách tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh
nghiệp dưới các hình thức mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ. Trong đó, người
bán chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời cho người mua trong một
khoảng thời gian nhất định. Sau khoảng thời gian thỏa thuận đó, người mua
có trách nhiệm thanh toán cả vốn lẫn lãi cho người bán. Tín dụng thương mại
là nguồn tài trợ ngắn hạn phổ biến và quan trọng nhất đối với doanh nghiệp.
Chính sách tín dụng thương mại thể hiện quan điểm của doanh nghiệp về
tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận do các khoản phải thu đem lại. Chính
sách tín dụng thương mại gồm một số yếu tố sau:
- Tiêu chuẩn tín dụng: liên quan đến sức mạnh tài chính cần thiết để
khách hàng tín dụng có thể được chấp nhận mua tín dụng.
- Thời hạn tín dụng: là thời gian mà người mua được trì hoãn thanh toán,
nghĩa là từ lúc có hóa đơn đến thời hạn cuối cùng họ phải thanh toán.
- Chiết khấu thanh toán: Tỷ lệ phần trăm giảm giá và thời hạn trả trước để

- Thế chấp ( Collateral )
Đặc tính này ám chỉ các tài sản mà khách hàng có thể dùng để đảm bảo
cho khoản nợ của mình.
- Điều kiện kinh tế ( Condition )
Liên quan đến sự phát triển kinh tế vi mô, vĩ mô có ảnh hưởng tới khả
năng thanh toán nợ của khách hàng.
* Thời hạn tín dụng
Thời hạn tín dụng có thể tác động rất lớn đến doanh số. Nếu nhu cầu đối
với một loại sản phẩm nào đó phụ thuộc vào thời hạn tín dụng, doanh nghiệp
có thể thúc đẩy tăng doanh số. Tuy nhiên, để ra quyết định này, doanh nghiệp
phải nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh gần nhất. Nếu các đối thủ cũng kéo dài
thời hạn tín dụng thì có thể doanh nghiệp sẽ vẫn không tăng được doanh số
khi nới rộng thời hạn thanh toán cho khách hàng.
Cũng như tiêu chuẩn tín dụng, khi mở rộng hay thu hẹp thời hạn tín dụng,
các nhà quản trị tài chính phải xem xét sự đánh đổi bù trừ giữa lợi nhuận tăng
thêm và chi phí tăng thêm. Xem xét mức tăng lợi nhuận có đủ bù đắp mức
tăng chi phí hay không? Hay tiết kiệm chi phí có đủ bù đắp lợi nhuận giảm
không? Từ đó ra quyết định đúng đắn nhất.
* Chiết khấu thanh toán
Mục đích của việc áp dụng chiết khấu thanh toán của doanh nghiệp có thể
là: Kích thích gia tăng doanh số, tìm kiếm khách hàng mới, khuyến khích
được khách hàng thanh toán sớm từ đó giảm được kỳ thu tiền bình quân cũng
nhu giải phóng nhanh hàng tồn kho góp phần tái sản xuất nhanh chóng. Bên
21
cạnh đó, áp dụng chiết khấu thanh toán còn giúp doanh nghiệp gia tăng năng
lực cạnh tranh trong ngành.
Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách chiết khấu, nghĩa là giảm doanh thu
ròng, do đó, giảm lợi nhuận. Liệu giảm chi phí đầu tư khoản phải thu có đủ bù
đắp thiệt hại do giảm lợi nhuận hay không, đó cũng là điều doanh nghiệp cần
xem xét trước khi áp dụng chính sách chiết khấu thanh toán cho khách hàng.

Hoạt động
SXKD của
khách hàng
Dòng ngân
quĩ
Lợi nhuận
Tài sản & nợ
hiện tại
Sức mạnh
kinh doanh
Khả năng thanh toán và sức mạnh tài
chính
Khả năng
hoàn trả nợ
Độ an toàn về
tài chính
Nới lỏng chính sách tín
dụng
Tăng khoản
phải thu
Tăng
doanh thu
Tăng
lợi nhuận
Tăng chi phí vào khoản
phải thu
Tăng lợi nhuận đủ bù
đắp tăng chi phí không?
RA QUYẾT ĐỊNH
Hình 1.4: Mô hình thắt chặt chính sách tín dụng

RA QUYẾT ĐỊNH
1.3.3.1 Hàng tồn kho và chi phí hàng tồn kho
Hàng tồn kho là những tài sản được giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh
doanh, hoặc đang trong quá trình sản xuất dở dang.
Hai chi phí liên quan trực tiếp đến quản trị hàng tồn kho là chi phí đặt
hàng và chi phí lưu kho. Trong đó:
- Chi phí đặt hàng: bao gồm các chi phí giao dịch, vận chuyển và chi phí
nhận hàng. Chi phí đặt hàng được tính cho mỗi lần đặt hàng khi doanh nghiệp
tiến hành đặt hàng từ bên ngoài.
- Chi phí lưu kho: bao gồm tất cả các chi phí lưu trữ hàng hóa trong kho
một khoảng thời gian xác định như chi phí lưu giữ hàng tồn kho, chi phí hư
hỏng – thiệt hai do bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí đầu tư
vào hàng tồn kho. Chi phí lưu kho được tính trên mỗi đơn vị hàng tồn kho
hoặc được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng tồn kho trong một thời
kỳ.
Tổng chi phí hàng tồn kho có thể khái quát như sau:
Tổng chi phí hàng tồn kho = Chi phí đặt hàng + Chi phí lưu kho
Chi tiết phương trình trên như sau:

)
2
()(
Q
H
Q
D
FT
+=
Trong đó:
D: tổng nhu cầu hàng cần nhập trong kỳ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status