Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến vườn quốc gia xuân thủy và đề xuất các định hướng ứng phó - Pdf 28



ii
MỤC LỤC

Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 2
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4.1. Cách tiếp cận: 2
4.1.1. Tiếp cận dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem based approach): 2
4.1.2. Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community based approach): 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 4
4.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu (số liệu thứ cấp) 4
4.2.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa (thu thập số liệu sơ cấp) 4
4.2.3. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) 4
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1. Cơ sở lý luận 6
1.1.1. Một số khái niệm 6
1.1.2. Nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu và nước biển dâng 8
1.2. Tổng quan tài liệu 10
1.2.1. Nghiên cứu trên thế giới 10
1.2.2. Nghiên cứu trong nước 12

3.3.2. Nhận thức của cộng đồng về tình trạng gia tăng các hiện tượng thời
tiết, thiên tai và biến đổi khí hậu ở khu vực Vườn quốc gia Xuân Thủy 68
3.4. Đánh giá năng lực ứng phó với Biến đổi khí hậu của cộng đồng dân cư
vùng đệm 74 iv
CHƯƠNG IV. ĐỀ XUẤT CÁC ĐỊNH HƯỚNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG CHO VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY 83
4.1. Tăng bể hấp thụ khí nhà kính 83
4.2. Giảm phát thải khí nhà kính 84
4.3. Các biện pháp thích ứng 85
4.4. Cần quan tâm đến hệ thống quản lý và sử dụng bền vững nguồn lợi
thuỷ sản 86
4.4.1. Quản lý và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản 86
4.4.2. Quản lý khu du lịch bền vững 87
4.4.3. Chính sách sử dụng không khéo và bền vững tài nguyên đất ngập
nước ở khu vực vùng lõi của Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ 88
4.4.4. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng dân vùng đệm
của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ 88
4.4.5. Chính sách về bảo vệ an ninh quốc phòng 89
4.4.6. Chính sách về quản lý khu dân cư 89
4.4.7. Các công nghệ sản xuất ở các xã vùng đệm đã và đang trực tiếp tạo ra
nạn ô nhiễm môi trường và làm suy giảm các chức năng quan trọng
của hệ sinh thái đất ngập nước ở Vườn Quốc gia. 90
4.4.8. Biện pháp thích ứng đối với từng lĩnh vực 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC



Du lịch sinh thái
ĐDSH

Đa dạng sinh học
ĐBBB

Đồng bằng Bắc Bộ
ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu
Long
ĐBSH

Đồng bằng Sông Hồng
ĐNN

Đất ngập nước
GIS
Geograpic Information
System
Hệ thống thông tin địa lý
HST

Hệ sinh thái
IPCC
Intergovernmental Panel on
Climate Change
Ủy ban Liên chính phủ về
Biến đổi khí hậu

and Environment
Bộ Tài nguyên và Môi
trường
MCD
Center for Marinelife
Conservation and Community
Development
Trung tâm Bảo tồn sinh
vật biển và Phát triển cộng
đồng
SĐVN

Sách Đỏ Việt Nam
TNMT

Tài nguyên và Môi trường
THCS

Trung học cơ sở
THPT

Trung học phổ thông
UBND

Ủy ban nhân dân
UNDP
United Nations Development
Programme
Chương trình phát triển
Liên hợp quốc

Thủy
NLTS

Nguồn lực thủy sản
NTTS

Nuôi trồng thủy sản
PRA
Participatory Rural Appraisal
Bộ công cụ đánh giá nông
thôn có sự tham gia
RAMSAR

Công ước quốc tế về bảo
tồn và sử dụng một cách
hợp lý và thích đáng các
vùng đất ngập nước
RNM

Rừng ngập mặn
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên Bảng
Trang

quyền địa phương có thể làm được để thích ứng với BĐKH 81
4.1 Công nghệ thích nghi của vùng ven biển 85 viii
DANH MỤC CÁC HÌNH

STT
Tên Hình
Trang
2.1 Vườn Quốc gia Xuân Thủy – Huyện Giao Thủy – tỉnh Nam Định 18
2.2 Các hệ sinh thái ĐNN ở VQG Xuân Thủy 24
3.1 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) so với thời kỳ 1980 - 1999
theo kịch bản phát thải trung bình (B2) ở tỉnh Nam Định 39
3.2 Nhiệt độ trung bình của tỉnh Nam Định từ năm 2020 – 2100 (0C) so
với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 40
3.3 Mức thay đổi (%) lượng mưa so với thời kỳ 1980 – 1999 theo kịch
bản phát thải trung bình (B2) địa bàn tỉnh Nam Định 40
3.4 Lượng mưa trung bình của tỉnh Nam Định từ năm 2020 – 2100 so với
thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 41
3.5 Kết quả tính toán xác định vùng ngập của tỉnh Nam Định với Kịch bản
nước biển dâng (B2) 42
3.6 Nhiệt độ trung bình khu vực Nam Định giai đoạn 1990 – 2009 43
3.7 Tổng lượng mưa trung bình năm khu vực Nam Định giai đoạn
1990-2009 45
3.8 Độ ẩm trung bình khu vực Nam Định giai đoạn 1990-2009 46
3.9 Tổng số giờ nắng trung bình năm khu vực Nam Định giai đoạn
1990-2009 47
3.10 Bằng chứng về tác động của nước biển dâng tại khu vực nhà
Môi trường 50

Vùng ảnh hưởng nhiều nhất sẽ tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng
sông Cửu Long nơi có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng do đó dễ bị tổn
thương do mực nước biển dâng, sự xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực
đoan như dông, bão, áp thấp nhiệt đới. Ở đồng bằng Bắc Bộ, vùng chịu tác động
rõ rệt nhất là các vùng đất ngập nước ven biển, bao gồm cả Vườn Quốc gia Xuân
Thủy thuộc tỉnh Nam Định.
Vườn Quốc gia Xuân Thủy cách Hà Nội khoảng 150 km về hướng Đông
Nam, diện tích tự nhiên 7.100 ha với nhiều sinh cảnh và các loài động thực vật
hoang dã phong phú và độc đáo. Đây cũng là khu RAMSAR đầu tiên của Việt
Nam cũng như của Đông Nam Á (theo Công ước bảo tồn những vùng đất ngập
nước có tầm quan trọng Quốc tế đặc biệt là nơi cư trú của những loài chim nước -
Ramsar, Iran, 1971). VQG Xuân Thủy cũng còn là Khu Dự trữ sinh quyển Châu
thổ sông Hồng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh những tác động
tiêu cực của con người, Vườn Quốc gia Xuân Thủy còn chịu những tác động của
biến đổi khí hậu.
Hiện nay trên phạm vi cả nước, các Bộ, ngành và các địa phương đang
xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động thực hiện Chương trình mục tiêu
Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2008) và Chiến lược
Quốc gia về biến đổi khí hậu (phê duyệt năm 2011). Trong bối cảnh đó, chúng
tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến Vườn
Quốc gia Xuân Thủy và đề xuất các định hướng ứng phó” cho luận văn tốt
nghiệp với hy vọng góp phần nhỏ vào việc triển khai kế hoạch ứng phó với
BĐKH tại khu vực VQG nói riêng cũng như của tỉnh Nam Định nói chung. 2
2. Mục tiêu nghiên cứu
 Đánh giá được diễn biến của thời tiết khí hậu trong vòng 15 năm qua
tại khu vực nghiên cứu.
 Đánh giá được những tác động của biến đổi khí hậu đối với đa dạng

cách mạnh mẽ nhất, và 2) Các hoạt động bảo tồn HST cuối cùng vẫn phải hướng
tới và đem lại phúc lợi cho con người (MEA, 2005). Vì vậy, cách tiếp cận hệ sinh
thái (do Công ước Đa dạng sinh học đề xuất năm 1998) là một chiến lược quản lý
tổng hợp tài nguyên thiên nhiên (đất, nước và sinh vật); và gần đây, đã được áp
dụng rộng rãi trong phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu (WB,
2010). Cách tiếp cận dựa vào HST trong giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH nhằm
mang đến những giải pháp ứng phó có tính bền vững và thích hợp cho từng khu
vực, từng quốc gia, từng địa phương cụ thể (Trương Quang Học, 2012). Đồng
thời, tính chống chịu của hệ xã hội cũng được tăng cường thông qua các hoạt
động như hoàn thiên thể chế, xây dựng nguồn lực (con người, cơ sở hạ tầng, tài
chính), nâng cao nhận thức. Tất cả các hoạt động này nhằm chủ động tăng cường
tính chống chịu (tăng cường khả năng thích ứng, giảm tính dễ bị tổn thương để
giảm rủi ro khi hậu, giảm thiệt hại do BĐKH gây ra cho cộng đồng/hệ sinh thái -
xã hội.
4.1.2. Tiếp cận dựa vào cộng đồng (community based approach):
BĐKH vừa mang tính toàn cầu lại vừa mang tính đặc thù cho từng vùng,
miền, địa phương mà cộng đồng dân cư là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp của BĐKH tại đó. Theo các chuyên gia, cộng đồng có vai trò chủ
chốt trong thích ứng và ứng phó với BKH. Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng
(CBA) là phương pháp bền vững. CBA dựa trên nguyên tắc “Thực hiện từ cộng
đồng, dựa vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng” nhằm nâng cao tính chủ
động, tích cực của người dân vào các giải pháp ứng phó với thiên tai và BĐKH.
CBA tạo ra sự linh hoạt, nhạy bén trong thích ứng với BĐKH, tận dụng lực
lượng đông đảo cũng như huy động phương tiện sẵn có trong cộng đồng. Thích
ứng với BĐKH là việc làm cấp bách và có ý nghĩa, nhưng không dễ dàng, đòi hỏi
sự tham gia của cộng đồng để có thành công nhanh và hiệu quả hơn. Chính vì
vậy, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng và các biện pháp ứng phó với
BĐKH cần được thực hiện rộng rãi hơn, thường xuyên hơn Có như vậy, người
đã được sử dụng như phỏng vấn qua bảng hỏi, lịch mùa vụ, ma trận xếp thứ hạng,
quan sát, thảo luận nhóm 5
Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm tại các thôn
nhóm nghiên cứu đã có một buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các ban ngành
của xã. Trong các buổi làm việc, các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội và một số biểu hiện của sự tác động BĐKH, khả năng của địa phương đã
được tìm hiểu và thu thập. Chúng tôi tiến hành thảo luận với lãnh đạo xã về các
vấn đề liên quan đến hoạt động ứng phó với BĐKH. Tại các buổi thảo luận với
lãnh đạo các xã và các ban ngành liên quan, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn ra các
hộ đại diện để tiến hành điều tra, phỏng vấn tại 5 xã vùng đệm: Giao Thiện, Giao
Hải, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao An. Phương pháp phỏng vấn bán định hướng
được sử dụng trong quá trình trao đổi và thu thập thông tin. Nhóm nghiên cứu
cũng đã cùng với cộng tác viên tiến hành điều tra, khảo sát. Hộ gia đình được
phỏng vấn đã kể những câu chuyện về việc thiên tai, các hiện tượng thời tiết
cực đoan đã xảy ra như thế nào, các hiện tượng khí hậu cực đoan đã ảnh hưởng
ra sao đến sản xuất và đời sống của họ cũng như họ đã làm thế nào để ứng phó
và phục hồi. Các hộ dân được chính quyền xã lựa chọn sao cho đảm bảo có đại
diện của các loại hộ dân với điều kiện kinh tế khác nhau. Đồng thời nhóm thảo
luận cũng đưa ra những đánh giá về vai trò của chính quyền và các đơn vị địa
phương trong quá trình phòng tránh, phục hồi và thích ứng với thiên tai, các
hiện tượng thời tiết cực đoan. Các cuộc họp cũng như phỏng vấn sâu cũng được
tổ chức tại tỉnh và huyện với sự tham gia của các sở và phòng ban có liên quan
nhằm có được bức tranh tổng thể về tình hình BĐKH tại địa phương. Quan sát
hiện trường để phân tích, tìm hiểu và đánh giá vấn đề nghiên cứu. 6
7
hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ
thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu
ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [IPCC, 2007].
d. Tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (Vulnerability)
Khái niệm tính dễ bị tổn thương được hiểu theo nhiều cách khác nhau do
đó cũng được ứng dụng theo các hướng khác nhau. Trong biến đổi khí hậu, IPCC
đã nhiều năm nghiên cứu và phát triển nhằm có được định nghĩa về tính dễ bị tổn
thương đối với BĐKH và NBD một cách chính xác nhất. Ban đầu tính dễ bị tổn
thương được xác định là mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả
của BĐKH và NBD [IPCC, 1992]. Tiếp theo, Báo cáo đánh giá lần thứ 2 [IPCC,
1996] đã xác định tính dễ bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại
hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào
độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng
đồng với điều kiện khí hậu mới. Khái niệm được ứng dụng rộng rãi nhất là khái
niệm do IPCC (2007) xây dựng: “Tình trạng dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó
một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực
của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan
của khí hậu. Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và
mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và
khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC, 2001)”.
Có thể tóm tắt lại rằng, tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống
(tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả
năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH.
e. Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response)
Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và
giảm nhẹ BĐKH. Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích
ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH.

nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác. Mực nước biển tăng phù hợp với xu
thế nóng lên do sự đóng góp của các thành phần chứa nước trên toàn cầu được
ước tính gồm: giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băng trên núi, băng
Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền. Các kết quả
nghiên cứu gần đây đưa ra dự báo mực nước biển sẽ cao hơn từ 0,5 – 1,4m vào
cuối thế kỉ XXI.
9
1.1.3. Biểu hiện chính của biến đổi khí hậu
Biểu hiện của BĐKH rất phức tạp, bao gồm các dấu hiệu chính như sau:
- Nhiệt độ trung bình năm tăng, tính biến động và dị thường của thời tiết và
khí hậu tăng lên;
- Mực nước biển dâng lên do sự tan băng ở các Cực và các đỉnh núi cao;
- Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng, giá rét, bão, lũ lụt,
hạn hán, v.v.) xảy ra với độ bất thường, cường độ, tần suất tăng lên.
Bảng 1.1. Các biểu hiện chính của BĐKH và tác động tới tự nhiên và đời
sống xã hội
Yếu tố Biến đổi khí hậu
Tác động
Nước biển dâng
 Gây ngập lụt ở các vùng thấp;
 Thay đổi dòng chảy của sông
ngòi và hệ thống thủy lợi;
 Tăng xâm nhập mặn.
Thiên tai và các cực đoan của khí hậu,
thời tiết (áp thấp, bão, lũ lụt, hạn hán,
năng nóng, rét hại) gia tăng
 Tăng thiệt hại về người và của;

nhiều rủi ro nhất do tác động của BĐKH gây ra trong đó có Việt Nam (WB).
Sự ra đời của IPCC đã đánh dấu bước quan trọng về nhận thức và hành
động của toàn thế giới trước thảm họa BĐKH toàn cầu. IPCC đã tổng hợp hàng
loạt các nghiên cứu từ nguyên nhân đến hệ quả (sự tăng nhiệt độ bề mặt trái đất,
sự dâng lên của mực nước biển, cùng với những biến đổi về thời tiết, thủy văn,
hải dương, …), từ tác động của nó đối với tự nhiên, môi trường, các đối tượng
KT-XH đến việc xây dựng giải pháp thích ứng và chiến lược ứng phó toàn cầu.
Các báo cáo của IPCC là cơ sở cho các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị
Thượng đỉnh của LHQ về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, 1992; Hội
nghị các bên nước tham gia UNFCCC (từ COP1 đến COP19), v.v. Qua các báo
cáo của IPCC, từ cuối thế kỷ XIX đến nay có thể nhận thấy được xu thế chung là
nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể. Nhiệt độ không khí trung bình
toàn cầu trong thế kỷ XX đã tăng lên 0,6
o
C (+/- 0,2
o
C); trên đất liền, nhiệt độ
tăng nhiều hơn trên biển; thập kỷ 90 là thập kỷ nóng nhất trong thiên niên kỷ vừa
qua (IPCC, 2001).
Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc nhận định, BĐKH được xem
như là một trong những thách thức lớn nhất đối với “an ninh môi trường – phát
triển toàn cầu”. Đến năm 2025, khoảng 5 tỷ người có thể sẽ sống trong những
khu vực có nguy cơ căng thẳng, xung đột liên quan đến nước và lương thực. Đến
năm 2050, khoảng150 triệu người có thể phải rời khỏi khu vực duyên hải do
NBD, bão, lụt hoặc nước ngọt bị nhiễm mặn. Chất lượng sống kém, dân cư quá 11
đông đúc và tình trạng thiếu nước, mất vệ sinh cũng như không hiệu quả trong
việc quản lý và xử lý rác thải là nguyên nhân gây ra tỉ lệ mắc bệnh ngày một cao.

12
đề ra các chính sách mới ưu tiên tạo các vùng chứa lũ tạm thời và quyết định
thực hiện chương trình quốc gia về chứa tạm thời “Room for water program”.
Như vậy có thể nói hiện nay việc nghiên cứu, đánh giá BĐKH, tác động của
BĐKh cũng như đề xuất các giải pháp, chiến lược và kế hoạch ứng phó với BĐKH
đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. BĐKH đang là một vấn đề được quan tâm
hàng đầu trên các diễn đàn khoa học quốc tế và thu hút được rất nhiều các nhà
nghiên cứu tham gia. Tuy vậy, vẫn còn nhiều vấn đề cần được thảo luận để có được
sự đồng thuận chẳng hạn như trong việc xây dựng được một bộ chỉ số tốt trong lĩnh
vực thích ứng với BĐKH.
1.2.2. Nghiên cứu trong nước
Tháng 6 năm 1992, để chuẩn bị tham gia Hội nghị Môi trường và Phát
triển bền vững của Liên Hiệp Quốc tại Rio de Janeiro, Brazin, 1992, các nhà
khoa học Việt Nam thực hiện và công bố báo cáo “Biến đổi khí hậu và tác động
của chúng ở Việt Nam”. Năm 1994 các nhà khoa học Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn
Trọng Hiệu, …tham gia thực hiện dự án “Biến đổi khí hậu ở Châu Á” do ADB
tài trợ, Bộ Thủy lợi chủ trì đã hoàn thành một số báo cáo về: 1) Biến đổi khí hậu
ở Việt Nam trong 100 năm qua; 2) Tác động của BĐKH đến NBD và một số
ngành kinh tế quốc dân; 3) Kiểm kê quốc gia KNK năm 1990 ở Việt Nam.
Liên quan đến vấn đề thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực tài nguyên nước
và phòng chống thiên tai lũ lụt trong các công bố của Trần Thục (2001), Trần
Hồng Thái (2009), Nguyễn Thanh Sơn (2011), …Từ năm 1994 đến 1998,
Nguyễn Đức Ngữ và nnk., đã hoàn thành kiểm kê quốc gia KNK đến năm 1993,
xây dựng các phương án giảm KNK ở Việt Nam, đánh giá tác động của BĐKH
đến các lĩnh vực KT-XH, xây dựng kịch bản BĐKH ở Việt Nam cho các năm
2020, 2050, 2070 và 2100.
Từ năm 1998 đến năm 2003, Bộ TNMT đã hoàn thành thông báo đầu tiên
của Việt Nam cho UNFCCC trong đó tổng kết BĐKH của Việt Nam trong 100
năm gần đây, kiểm kê quốc gia KNK 1993 và ước lượng KNK các năm 2020,
2050, đánh giá tác động của nó đến các lĩnh vực KT-XH chủ yếu, xây dựng kịch

giảm nhẹ KNK. Thông báo Quốc gia lần thứ hai cho UNFCCC được hoàn
thành năm 2010, bao gồm các phát hiện của các đánh giá sâu hơn về tính dễ bị
tổn thương và thích ứng cũng như đưa ra một số khung chính sách thực hiện
những ứng phó mang tính chiến lược (Bộ TNMT, 2010). 14
Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN) đã thực
hiện rất nhiều các công trình, dự án liên quan đến BĐKH, như: Dự án
“UNDP/UNITAR/GEF – CC: TRAIN (giai đoạn 1)” (1994 – 1996) với mục tiêu
là giúp các nước xây dựng chính sách về BĐKH để thực hiện UNFCCC; Dự án
“Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với chi phí thấp nhất ở châu Á” (ALGAS)
(1995-1997); Dự án “Kinh tế trong hạn chế phát thải khí nhà kính, Pha 1: Xây
dựng phương pháp luận cho việc đánh giá giảm nhẹ biến đổi khí hậu” (1999), …
Đồng thời, Viện được Bộ TNMT giao nhiệm vụ xây dựng kịch bản BĐKH cho
Việt Nam (2009) và kịch bản cập nhật (2012).
Đồng bằng Sông Cửu Long được đánh giá là một trong ba đồng bằng trên
thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi nước biển dâng (WB, 2007; Bộ TNMT, 2008,
2009, 2011). Do vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về BĐKH
cho khu vực này. Chẳng hạn như dự án “Đánh giá sơ bộ tác động của nước biển
dâng tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, khu vực duyên hải miền Trung, đồng
bằng sông Cửu Long” do Viện Quy hoạch Thủy lợi và Viện Khoa học Thủy lợi
Việt Nam thực hiện năm 2008. Năm 1009, Trung tâm START vùng Đông Nam
Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu –
Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản
A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980 – 2000 để phỏng đoán
giai đoạn 2030 – 2040.
Ngoài ra cũng phải kể đến những nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Trí,
(2010) trong tham luận “Vai trò của các khu dự trữ sinh quyển trong bối cảnh
BĐKH” – Tuyển tập Hội thảo Quốc gia “Phục hồi và quản lý HST rừng ngập

đánh giá toàn diện tác động của BĐKH đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và KT –
XH của Việt Nam. Trong đó, nghiên cứu đánh giá tổn thương do tác động của
BĐKH đến Việt Nam nói chung và những khu vực, địa phương cụ thể cũng chưa
được thực hiện đầy đủ. Vì vậy, hướng nghiên cứu này trong thời gian tới cần
phải được tiếp tục triển khai.
1.2.3. Các nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy
Ngay từ ngày bắt đầu tham gia các Công ước quốc tế Ramsar, cộng đồng
quốc tế đã có sự quan tâm đặc biệt nhằm trợ giúp cho sự nghiệp bảo tồn và phát
triển tài nguyên môi trường ở khu vực. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Khu 16
Ramsar Xuân Thủy đã nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế, các dự
án cụ thể bao gồm:
Năm 1989, IUCN đã tài trợ các phương tiện giúp cho Ban quản lý Khu
Ramsar hoạt động để bảo tồn chim và rừng ngập mặn.
Năm 1995-1997, Vườn hợp tác với Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi
nguyên và môi trường (CRES) và Hội bảo tồn chim Nhật Bản thực hiện Dự án
nghiên cứu chim di cư thông qua hoạt động đóng vòng chim hàng năm. Dự án đã
xác định được khá nhiều loài chim di cư từ Nhật Bản đến Xuân Thủy hàng năm
vào mùa di trú.
Năm 1999-2000, Vườn Quốc gia Xuân Thủy hợp tác với Hội Nông dân
huyện Giao Thủy thực hiện dự án Nâng cao nhận thức và hỗ trợ cộng đồng địa
phương để góp phần bảo tồn tài nguyên môi trường ở Khu Ramsar Xuân Thủy,
do Chương trình tài trợ các dự án nhỏ (GEF/SGP) thuộc Quỹ môi trường
(UNDP) tài trợ. Dự án đã triển khai nhiều hoạt động nâng cao nhận thức và hỗ
trợ Hội nông dân các xã thuộc vùng đệm của Khu Ramsar.
Năm 2002, Vườn hợp tác với Birdlife Việt Nam để triển khai Dự án
giám sát sinh thái do Quỹ bảo tồn thiên nhiên Nhật Bản tài trợ. Dự án đã tập
huấn cho các cán bộ kỹ thuật công nghệ và triển khai hoạt động giám sát sinh

quan là tăng cường khả năng phục hồi của người dân vùng ven biển bị tổn
thương nhiều nhất trước tác động của thay đổi khí hậu, biến đổi khí hậu và thiên
tai, đặc biệt là phụ nữ. Khái niệm về khả năng phục hồi được nói đến trong dự án
này là khả năng của các cộng đồng và hệ sinh thái dễ bị tổn thương chống chịu,
hấp thụ, thích ứng và khôi phục từ những tác động của thay đổi khí hậu, biến đổi
khí hậu và thiên tai.

Trích đoạn Hiện trạng đa dạng sinh học ở VQG Xuân Thủy Hiện trạng kinh tế xã hội 5 xã vùng đệm Lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu BẢN ĐỒNG ẬP LỤT TỈNH NAM ĐỊNH THEO KỊCH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG (B2) CỦA VIỆT NAM Đánh giá tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đến Vườn Quốc gia Xuân Thủy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status