Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế, xã hội Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định - Pdf 26

S g

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG MAI KIM LIÊN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
NHẰM BƢỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI
THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. Trần Hồng Thái
2. GS. TSKH. Trƣơng Quang Học Hà Nội, năm 2010 iv MỤC LỤC

MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẤU 8
1. Lý do chọn Đề tài 8
2. Mục đích của Đề tài 10
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU, Ở
VIỆT NAM VÀ THÀNH PHỐ QUY NHƠN 12
1.1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 12
1.1.1. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 14
1.1.2. Hậu quả của biến đổi khí hậu 14
1.2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 18
1.2.1. Khái quát về biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong thời gian qua 18
1.2.2. Khả năng dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu 18

3.1.3. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho thành phố Quy Nhơn 66
3.2. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CÁC KHU
VỰC VÀ LĨNH VỰC 73
3.2.1. Thiên tai, hiểm họa do khí hậu và xu thế do biến đổi khí hậu 74
3.2.2. Tác động của thiên tai, hiểm họa gây ra bởi khí hậu 76
3.2.3. Các vấn đề trong tƣơng lai do BĐKH tại Quy Nhơn 81
3.2.4. Tác động đối với các thành phần kinh tế 89
3.2.5. Các tác động về xã hội 97
3.3. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
THÀNH PHỐ QUY NHƠN 104
3.3.1. Thể chế, chính sách 104
3.3.2. Cơ sở hạ tầng/ thiết bị phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với
BĐKH 107
3.3.3. Tổ chức ứng phó khi xảy ra thảm họa thiên tai 109
3.3.4. Năng lực và phân bổ nguồn lực ứng phó với BĐKH 110
3.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
THÀNH PHỐ QUY NHƠN 113
3.4.1. Các thực tiễn ứng phó với BĐKH 113
3.4.2. Nội dung để ứng phó với BĐKH cho Quy Nhơn 115
3.4.3. Cơ chế giám sát, đánh giá 117
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119
vi DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tác động của thiên tai, hiểm họa gây ra bởi khí hậu và biến đổi khí hậu TP Quy
Nhơn 21

Quy Nhơn 100
Bảng 3.8. Nội dung để ứng phó và thích ứng với BĐKH thành phố Quy Nhơn 115
Bảng 3.9. Các khu vực và các chỉ tiêu giám sát, đánh giá 117
vii DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1. Bản đồ ranh giới thành phố Quy Nhơn 25
Hình 2.2. Cơ cấu lao động theo ngành nghề TP Quy Nhơn năm 2007 33
Hình 2.3. Cơ cấu kinh tế theo GDP của thành phố Quy Nhơn năm 2007 34
Hình 3.1. Các họ kịch bản phát thải theo IPCC 56
Hình 3.2. Lƣợng phát thải khí CO
2
tƣơng đƣơng theo các kịch bản phát thải khác nhau 57
Hình 3.3. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A1FI năm 2020 63
Hình 3.4. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A1FI năm 2030 63
Hình 3.5. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A1FI năm 2040 63
Hình 3.6. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A1FI năm 2050 63
Hình 3.7. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A2 năm 2020 64
Hình 3.8. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A2 năm 2030 64
Hình 3.9. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A2 năm 2040 64
Hình 3.10. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản A2 năm 2050 64
Hình 3.11. Bản đồ ngập lụt TP Quy Nhơn ứng với kịch bản B2 năm 2020 65

Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, nhiệt độ trung bình ở nƣớc ta tăng
khoảng 0,1°C/thập niên; dao động năm của hiện tƣợng Elnino ngày càng có tác động
mạnh đến chế độ thời tiết và đặc trƣng khí hậu ở nhiều khu vực; kết quả quan trắc
đƣợc trong vòng nửa thế kỷ qua cho thấy, mực nƣớc biển đã dâng lên trung bình từ 2,5
- 3 cm/thập niên; mùa hoạt động của bão kéo dài và dịch lùi dần về các tháng cuối
năm, quỹ đạo của các cơn bão cũng có xu hƣớng chuyển dần về các vĩ độ phía Nam,
khác với quy luật chung. Các tỉnh TP duyên hải miền Trung thƣờng xuyên gánh chịu
khoảng 70% tổng số các cơn bão đổ bộ vào nƣớc ta; trong đó, có từ 60 - 65% số cơn
bão có sức mạnh từ cấp 8 - cấp 12 kèm với triều cƣờng nên hậu quả gây ra đối với môi
trƣờng và đời sống sản xuất của nhân dân là rất nghiêm trọng. 9

Nằm trong sự ảnh hƣởng chung của BĐKH đến các tỉnh- thành phố ven biển
miền Trung, môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên, TP Quy Nhơn cũng chịu ảnh hƣởng
rõ rệt do hiện tƣợng Elnino - một trong những biểu hiện của BĐKH toàn cầu. Số liệu
quan trắc tại trạm Quy Nhơn cho thấy, chu kỳ tác động của Elnino có xu hƣớng tăng
dần trong những thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI (trung bình từ 2 đến 4
năm) so với tình hình chung của nửa thế kỷ XX trở về trƣớc (trung bình từ 3 đến 10
năm). Các giá trị cực đại về nhiệt độ trung bình của một số tháng mùa hè trong các
năm 1986, 1987, 1992, 1998, 2003 và 2005 đều vƣợt quá giá trị nhiệt độ trung bình
các tháng tƣơng ứng trong nhiều năm từ 1 - 1,5°C và vƣợt xa nhiệt độ trung bình năm
từ 3,2 - 4,7°C.
Hạn hán và gió Tây khô nóng hoành hành sớm từ đầu tháng 5 và kéo dài theo
từng đợt từ 7 - 9 ngày, có năm nắng kéo dài suốt cả tháng đã làm tăng cƣờng hiện
tƣợng nhiễm mặn, nhiễm phèn. So với lƣợng mƣa trung bình nhiều năm, lƣợng mƣa có
xu hƣớng tăng trong giai đoạn 1955 - 1964, sau đó giảm rõ rệt giai đoạn 1965 -1984 và
tăng trở lại trong giai đoạn 1985 - 2004. Thông thƣờng mƣa bão và lũ chính ở tỉnh
Bình Định diễn ra vào cuối tháng 10, nhƣng gần đây có năm lũ đến rất sớm (2000,

việc phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, theo đó,
một trong các nhiệm vụ quan trọng là đòi hỏi phải có những nghiên cứu, đánh giá tác
động của BĐKH đến các mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng cho các khu vực (tỉnh/
thành phố) và đƣa ra các giải pháp thích ứng với BĐKH.
Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định là một thành phố ven biển, nơi mà theo
đánh giá của nhiều chuyên gia trong nƣớc và quốc tế là một khu vực có tính tổn
thƣơng cao do tác động của BĐKH, do đó các nghiên cứu phục vụ cho mục đích ứng
phó với BĐKH tại khu vực này cần đƣợc ƣu tiên. Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm bƣớc đầu đánh giá tác
động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế, xã hội Thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định” để thực hiện luận văn Thạc sĩ khoa học có ý nghĩa thực tiễn và cấp
thiết cao.
2. Mục đích của Đề tài
1) Đánh giá khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và biến đổi khí hậu của
thành phố Quy Nhơn.
2) Đánh giá tác động của các kịch bản biến đổi khí hậu tới các vùng, lĩnh vực và
năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của thành phố Quy Nhơn.
3) Đề xuất các định hƣớng ứng phó với biến đổi khí hậu cho thành phố Quy Nhơn.
4) Học tập phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu để tiến hành một đề tài
nghiên cứu. 11

Để đạt đƣợc những mục tiêu trên, Học viên đã kết hợp những kiến thức thu
hoạch đƣợc từ những giờ học của Khóa cao học K5, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên
và Môi trƣờng; sự hƣớng dẫn của những giáo viên hƣớng dẫn là GS, TS Trƣơng
Quang Học và TS Trần Hồng Thái; những kinh nghiệm thực tế và sự hỗ trợ, chỉ dẫn
tận tình của tập thể các cán bộ nghiên cứu Trung tâm Tƣ vấn Khí tƣợng Thủy văn và
Môi trƣờng, tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:

̣
biến đô
̉
i
khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra vơ
́
i nhƣ
̃
ng thơ
̀
i ky
̀
la
̣
nh va
̀
no
́
ng ke
́
o dài hàng va
̣
n năm
mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng. Thời kỳ băng hà cuối cùng
đã xảy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng.
Xét về nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy đó là do sự
tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái
đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dƣơng và đặc biệt là sự thay đổi trong thành
phần khí quyển.
Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì

13

qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây nhƣ đã có khoảng
250 triệu ngƣời bị ảnh hƣởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico. Các
nƣớc Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận
cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nƣớc Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ
lụt lớn, do mực nƣớc biển dâng cao cũng nhƣ những đợt băng giá mùa đông khốc liệt.
Những trận bão lớn vừa xảy ra tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên
nhân từ hiện tƣợng trái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua. Những dữ liệu thu đƣợc
qua vệ tinh từng năm cho thấy số lƣợng các trận bão không thay đổi, nhƣng số trận
bão, lốc cƣờng độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái
Bình Dƣơng, Ấn Độ Dƣơng, bắc Đại Tây Dƣơng. Số lƣợng các trận bão lớn, lốc xoáy
cƣờng độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp với nhiệt độ bề mặt đại dƣơng tăng lên. Trận
sóng thần ở Ấn Độ Dƣơng (2004) cƣớp đi sinh mạng 225 000 ngƣời thuộc 11 quốc
gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nƣớc Mỹ (2005) gây thƣơng vong lên đến hàng
ngàn ngƣời và thiệt hại kinh tế ƣớc tính 25 tỷ USD, và gần đây nhất siêu bão Nargis
đánh vào Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số
lƣợng ngƣời thiệt mạng. Trận bão này giết chết hơn 135.000 ngƣời và đẩy hơn một
triệu ngƣời vào cảnh không nhà cửa. Tính ra, thiên tai đã cƣớp đi mạng sống của hơn
220.000 ngƣời trong năm 2008 và gây thiệt hại khoảng 200 tỷ USD, biến nó thành một
trong những năm đáng sợ nhất trong lịch sử loài ngƣời tính theo tổn thất thiên tai về
ngƣời và của. Diễn biến mới nhất của thiên tai là trận cháy rừng khủng khiếp do thời
tiết quá khô hạn vừa xãy ra ở nƣớc Úc (2/2009) đã giết chết ít nhất 210 ngƣời và làm
bị thƣơng hơn 500 ngƣời cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất. Một nghiên cứu với
xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ ngƣời rơi vào cảnh thiếu lƣơng thực
vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái Đất.
Theo tính toán của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), trong những
thập niên gần đây, nhiệt độ tăng trung bình 0,3
o
C/mỗi thập niên. Mƣa trở nên thất

1.1.2. Hậu quả của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất
và cấp bách nhất đối với loài ngƣời trong mấy thập kỷ qua. Các nƣớc kể cả phát triển
và đang phát triển đều phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng nhất của hiện
tƣợng biến đổi khí hậu. Theo lời ông Achim Steiner, Giám đốc Chƣơng trình môi
trƣờng của Liên Hiệp quốc, “Chúng ta đã mất 30 năm để tranh cãi xem có đúng là
Trái đất đang ấm lên không . Giá nhƣ khi ấy chúng ta hành động ngay thì cái giá của
cuộc tranh cãi ấy đã không quá đắt nhƣ bây giờ. Nay thì chúng ta không còn thời gian
để tranh cãi nữa. Chúng ta không thể xa xỉ chuyển vấn đề này cho thế hệ sau quyết 15

định”. “Biến đổi khí hậu đã trở thành kẻ hủy diệt thứ năm đối với sức khỏe con ngƣời
sau chiến tranh, đói nghèo, dịch hạch và cái chết”, Tổng giám đốc WHO Margaret
Chan, nhấn mạnh. Phát biểu của ông Chan phần nào khẳng định rằng số ngƣời chết do
biến đổi khí hậu ngày một tăng. Thiên tai và nghèo đói đang cƣớp đi tƣ liệu sản xuất
của ngƣời nghèo khiến cuộc sống của phần dân số này ngày càng trở nên cùng cực.
1.1.2.1. Biến đổi khí hậu và các vấn đề kinh tế, xã hội
Biến đổi khí hậu đang trở thành một vấn đề có thể ảnh hƣởng nghiêm trọng tới
quá trình phát triển. Một trong những mối quan ngại đó là tác động của biến đổi khí
hậu tới an ninh lƣơng thực. Với tốc độ biến đổi khí hậu nhƣ hiện nay, sản lƣợng các
cây lƣơng thực sẽ giảm 15%, điều này không những làm ảnh hƣởng đến sự phát triển
bền vững, lâu dài của các quốc gia, mà trực tiếp sẽ đẩy 50 triệu ngƣời trên thế giới vào
cảnh nghèo đói trong vài thập kỷ tới.
Ở các nƣớc đang phát triển, hàng triệu ngƣời nghèo nhất trên thế giới đang phải
đối mặt với các tác động của biến đổi khí hậu. Đó là tình trạng hạn hán, bão lụt và sự
gia tăng sức ép môi trƣờng. Trong hai thập kỷ qua, đã có 3 triệu ngƣời chết, 200 triệu
ngƣời bị ảnh hƣởng bởi biến đổi khí hậu; thiệt hại hàng năm ƣớc tính lên tới 40 tỷ
USD. Dự báo 50 năm sau, thiên tai sẽ tăng gấp 4 lần và số ngƣời chịu ảnh hƣởng có

ngƣỡng cửa của sự khủng hoảng nƣớc: số lƣợng nƣớc cần cung cấp đã không đủ mà
chất lƣợng nƣớc lại xấu đi do ô nhiễm. Năm 1980, Liên Hiệp Quốc đã khởi xƣớng
“Thập kỷ quốc tế về cung cấp nƣớc uống và vệ sinh 1980 - 1990” với mục đích năm
1990 đảm bảo cho tất cả mọi ngƣời đƣợc cung cấp nƣớc sạch và sử dụng các phƣơng
tiện kỹ thuật vệ sinh thích hợp. Thế nhƣng chƣơng trình mới chỉ đạt chừng đƣợc một
nửa mong muốn.
1.1.2.2. Biến đổi khí hậu dẫn đến gia tăng xung đột
Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, biến đổi khí hậu toàn cầu có thể dẫn
tới gia tăng các cuộc xung đột và giảm dân số. Đó là kết luận của các nhà khoa học
thuộc Viện Kỹ nghệ Georgia Mỹ trong quá trình nghiên cứu lịch sử nhân loại từ năm
1400 tới 1900. Các tác giả của công trình nghiên cứu này đã dựa trên hệ thống lôgic
sau đây: Sự thay đổi khí hậu (lạnh đi hay ấm lên) tất yếu sẽ ảnh hƣởng đến số lƣợng và
chất lƣợng của nƣớc ngọt, độ màu mỡ của đất đai và thời hạn của các mùa làm nông
nghiệp. Nếu tình hình trở nên tồi tệ hơn, con ngƣời sẽ có ít lƣơng thực, thực phẩm và
nƣớc uống, tình trạng này sẽ dẫn đến bùng nổ các cuộc xung đột vũ trang, nổi loạn,
chiến tranh Những hệ lụy tất yếu của tình trạng này còn là nạn đói, bệnh dịch khiến
cho dân số suy giảm. Trong giai đoạn đƣợc nghiên cứu nói trên, những năm lạnh nhất
là 1450, 1650 và 1820. Thực tế cho thấy, trong những khoảng thời gian giá lạnh nhất,
số các cuộc chiến tranh và nội chiến tăng lên rõ rệt. Trong những thế kỷ băng giá, trên 17

thế giới đã bùng nổ số các cuộc chiến tranh nhiều gấp đôi so với một thế kỷ tƣơng đối
ấm là thế kỷ XIX. Các tác giả của công trình nghiên cứu trên bày tỏ lo ngại rằng, kịch
bản tƣơng tự có thể lặp lại trong tƣơng lai, khi nhiệt độ Trái đất không ngừng tăng
thêm. Cũng vậy, theo Giáo sƣ Dakebo, Giám đốc Chƣơng trình nghiên cứu biến đổi
khí hậu và an ninh Mỹ, tất cả những khu vực phải chịu ảnh hƣởng tiêu cực của biến
đổi môi trƣờng đều có nguy cơ gia tăng sự bất ổn về chính trị. Quá trình Trái đất nóng
dần lên sẽ làm trầm trọng hơn các cuộc xung đột đang tồn tại. Những thay đổi về khí

hƣởng của những yếu tố nhƣ nhiệt độ trung bình trong năm, mực nƣớc biển hay thay
đổi lƣợng mƣa… tới các quốc gia khác nhau. Ngay từ đầu, các tác giả đã xác định rằng
các nƣớc nghèo hiển nhiên kém thích nghi hơn với những biến đổi nhƣ vậy, họ ít tiềm
năng hơn và kém khả năng hơn trong việc giúp đỡ kịp thời những ngƣời bị nạn, gìn
giữ môi trƣờng xung quanh, biến cải định hƣớng phát triển kinh tế… Nhìn từ một góc
độ khác, bản thân các quốc gia phát triển cũng có thể bị thiệt hại nặng nề hơn do biến
đổi khí hậu, vì mật độ dân cƣ của họ lớn hơn và hạ tầng cơ sở sang trọng hơn, tốn kém
hơn. Trong danh sách các quốc gia và khu vực có thể bị thiệt hại hơn cả vì quá trình
Trái đất ấm dần có Trung quốc, Myanma, Bangladesh, Việt Nam, các nƣớc Bắc Phi
và Tây - Nam Phi, Braxin, khu vực bờ biển phía Đông nƣớc Mỹ, các quốc gia Địa
Trung Hải ở châu Âu (kể cả Pháp, Italia, và Tây Ban Nha), Liên bang Nga và các nƣớc
vùng Scadinavia. Khi lập danh sách này, các chuyên gia đã tính tới nhiều yếu tố khác
nhau. Ví dụ, sự biến đổi khí hậu nhìn chung không có hại gì nhiều tới Ấn độ và Hoa
kỳ. Tuy nhiên, do ở hai nƣớc này, mật độ dân cƣ quá cao và tiềm năng kinh tế phát
triển lớn nên họ có thể bị thiệt hại nặng nề. Về phần mình, các quốc gia kém phát triển
nhƣ Bangladesh và các nƣớc châu Phi có thể bị thiệt hại nặng nề về vật chất bởi tình
trạng Trái đất nóng dần lên, do tình trạng lũ lụt trở nên nghiêm trọng hơn.
1.2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
1.2.1. Khái quát về biến đổi khí hậu ở Việt Nam trong thời gian qua
Cũng giống nhƣ bức tranh chung trên toàn cầu, ở Việt Nam, trong khoảng 50
năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,7oC, mực nƣớc biển trung bình năm
đã cao hơn khoảng 20 cm. Hiện tƣợng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ
đến Việt Nam. BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán
ngày càng ác liệt (Bộ TN&MT, 2003).
1.2.2. Khả năng dễ bị tổn thƣơng do biến đổi khí hậu
Việt Nam đang đối mặt với nhiều tác động của BĐKH bao gồm tác động đến
cuộc sống, sinh kế, tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền
kinh tế. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hƣởng nặng nề
1.2.3. Tác động của biến đổi khí hậu đến một số hiện tƣợng thời tiết nguy hiểm
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vị trí địa lý trải dài và địa
hình đa dạng làm cho Việt Nam trở thành một trong những đất nƣớc bị đe doạ nhiều 20

nhất bởi các thiên tai nhƣ là bão nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, sự lở đất và
cháy rừng… Trong đó, bão nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, và hạn hán là những
thiên tai thƣờng xuyên xảy ra và gây thiệt hại nặng nề nhất.
1.3. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN
1.3.1. Thay đổi của các yếu tố khí tƣợng trong những năm gần đây
Qua sự phân tích số liệu thu thập từ nhiều năm qua (tham khảo chi tiết tại [16]),
các yếu tố khí tƣợng tại TP Quy Nhơn thay đổi nhƣ sau:
- Nhiệt độ: nhiệt độ tối thấp có xu hƣớng giảm rồi lại tăng và tăng mạnh ở các
thập kỷ cuối. Nhiệt độ trung bình và nhiệt độ tối cao có xu hƣớng tăng ở tất cả các
thập kỷ. Trung bình trong một thập kỷ nhiệt độ trung bình tăng 0,1
0
C, tối thấp tăng
0,13
0
C và tối cao tăng 0,15
0
C.
- Độ ẩm: Độ ẩm tƣơng đối trung bình biến đổi từ tháng này qua tháng khác
chỉ chênh lệch 1 - 2%, riêng tháng kết thúc mùa khô bắt đầu mùa mƣa độ ẩm không
khí chênh lệch 7 - 8%. Biên độ năm của độ ẩm tƣơng đối trung bình 11-13%. Độ ẩm
tƣơng đối thấp nhất ở tất cả các tháng trong năm đều dƣới 50%, trong đó thấp nhất đo
đƣợc vào tháng V là 31%. Số ngày xảy ra độ ẩm thấp nhất dƣới 50% trung bình từ 17 -
26 ngày ở ven biển, chủ yếu xuất hiện từ tháng III đến tháng X.

phòng tránh của ngƣời dân gặp nhiều khó khăn.
Bảng 1.1. Tác động của thiên tai, hiểm họa gây ra bởi khí hậu và biến đổi khí hậu TP
Quy Nhơn

Các loại
thiên tai
chính
Tác động
Địa điểm tác
động
Nhóm dễ bị
tổn thƣơng
Tác động đối
với tính mạng
con ngƣời/ sinh
kế/thu nhập
Tác động đối
với cơ sở hạ
tầng
Bão

Xói lở bờ
biển
- Các xã:
Nhơn Lý,
Nhơn
Hải,Nhơn

(Cảng cá Cù
Lao Xanh, Xã
Nhơn Châu)
Mƣa, gió lớn
gây ngập lụt,
lũ quét
Các phƣờng:
Nhơn Bình,
Nhơn Phú,
Đống Đa, Trần
Quang Diệu,
Bùi Thị Xuân,
Quang Trung,
Trần Hƣng
Đạo, Thị Nại,
- Ngƣời
nghèo
- Ngƣời già,
trẻ em, ngƣời
tàn tật
- Nhóm lao
động tự do,
nhập cƣ
không hợp
- Đổ nhà cửa
gây chết ngƣời
(2008).
- Thiệt hại hoa
màu,
- Sập các

tầng
Trần Phú.
Các xã: Nhơn
Hội, Phƣớc
Mỹ, Nhơn Lý.
pháp
- Nhóm diêm
dân
- NTTS: Vỡ các
ao, đầm nuôi (P.
Đống Đa, xã
Hoài Nhơn)
- Mất tài sản:
tàu bè đánh cá,
phụ nữ bị mất
việc làm, ảnh
hƣởng thu nhập
của cả gia
đình…
- Du lịch: giảm
lƣợng khách du
lịch
hỏng TBA
- Thông tin liên
lạc: gãy trụ ăng
ten (Nhơn Hội)
- Thủy lợi: sạt
lở đê sông, đê
biển (Nhơn
Phú); sạt lở

Nhơn Châu,
Nhơn Hải.
- Trẻ em,
ngƣời già
- Nhóm lao
động tự do,
nhập cƣ
không hợp
pháp
- Nhóm dân
sống ở gần
khu vực tiêu
thoát nƣớc
(hồ Bàu Sen,
Hồ Phú
Hòa…)
- Dịch bệnh, sức
khỏe
- Tăng chi phí
chăm sóc sức
khỏe, vệ sinh
môi trƣờng
- Giảm năng
suất lao động
- Chi phí quản
lý, vận hành các
hệ thống tiêu
thoát nƣớc tăng
- Giảm nguồn
hải sản đánh bắt

- Du lịch: giảm

23

Các loại
thiên tai
chính
Tác động
Địa điểm tác
động
Nhóm dễ bị
tổn thƣơng
Tác động đối
với tính mạng
con ngƣời/ sinh
kế/thu nhập
Tác động đối
với cơ sở hạ
tầng
Hải, Nhơn Lý,
Nhơn Châu

canh tác, NTTS,
làm muối
- Mất giống do
lụt tiểu mãn;
- Giảm sản
lƣợng, thu nhập
- Du lịch: giảm
nguồn thu từ du
lịch (P. Ghềng
Ráng)
- Giao thông:
sạt lở đƣờng ven
biển.
- Thủy lợi: sạt
lở hệ thống đê
biển (đê Đông),
công trình dƣới
đê

Tác động
trực tiếp đến
các ngành
đánh bắt
Thủy sản,
tiêu thoát
nƣớc, giao
thông, thủy
lợi
Phƣờng Nhơn
Bình, Nhơn

công trình xây
dựng: hệ thống
thoát nƣớc, thủy
lợi
Ngập lụt
Nhơn Bình,
Nhơn Phú,
Đống Đa, Trần
Quang Diệu,
Quang Trung,
Trần Hƣng
Đạo, Nhân
Hội, Phƣớc
Mỹ, Nhơn Lý.
- Ngƣời
nghèo
- Ngƣời tàn
tật
- Ngƣời già,
trẻ em.
- Nông dân,
diêm dân
(Nhơn Bình,
Đống Đa)
- Thiệt hại về
hoa màu.
- Giảm năng

kế/thu nhập
Tác động đối
với cơ sở hạ
tầng
- Tăng chi phí
vận hành tiêu
thoát nƣớc

Xâm
nhập mặn

Các vùng cửa
sông của các
xã ven biển:
Nhơn Lý,
Nhơn Hải,
Nhơn Châu,
Hải Cảng,
Ghềnh Ráng ,
khu vực 2 Tuy
Hòa
- Các hộ dân
sản xuất
nông nghiệp,
NTTS
- Các hộ dân
khai thác sử
dụng nƣớc
ngầm từ
giếng khơi,

- Chi phí khám
chữa bệnh tăng;
- Giảm sản
lƣợng nuôi
trồng thủy sản;
- Tăng chi phí
quản lý vận
hành các hệ
thống công trình
thủy lợi;

- Các công trình
xây dựng cho tất
cả các ngành:
giảm tuổi thọ.
- Nhu cầu về
điện tăng làm
tăng áp lực đối
ngành điện
Hạn hán

- Nhơn Hội
- Nhơn Bình
- Phƣớc Mỹ,
- Nhơn Phú,
- Trần Quang
Diệu,
- Bùi Thị
Xuân


2.2.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, tại tọa độ
13
0
36‟ – 13
0
54‟ B, 109
0
6‟ – 109
0
22‟ Đ, phía Bắc và Tây Bắc giáp các huyện Tuy
Phƣớc và Phù Cát, phía Tây giáp huyện Tuy Phƣớc, phía Nam giáp huyện Sông Cầu
(tỉnh Phú Yên), phía Đông giáp biển Đông, cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách
thành phố Hồ Chí Minh 690 km về phía Nam và cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 176
km về phía Tây.

Hình 2.1. Bản đồ ranh giới thành phố Quy Nhơn
Thành phố Quy Nhơn nằm ở vị trí giao thông thuận lợi có đƣờng quốc lộ 1
chạy qua, có cảng Quy Nhơn, có đƣờng sắt xuyên Việt và có ga Diêu Trì ở phía Tây
thành phố. Tổng diện tích của thành phố vào khoảng 284,28 km², dân số khoảng
284.000 ngƣời. 26

Thành phố có 16 phƣờng: Trần Hƣng Đạo, Lê Lợi, Lê Hồng Phong, Trần Phú,
Lý Thƣờng Kiệt, Nguyễn Văn Cừ, Đống Đa, Thị Nại, Hải Cảng, Ngô Mây, Ghềnh
Ráng, Quang Trung, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu và 5 xã:
Nhơn Lý, Nhơn Hội, Nhơn Châu, Nhơn Hải và Phƣớc Mỹ (trong đó xã Phƣớc Mỹ
đƣợc tách từ huyện Tuy Phƣớc và sáp nhập vào Quy Nhơn năm 2006. Phƣờng Bùi Thị

thấp nhất trung bình năm 24
0
C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 15
0
C. Độ ẩm tƣơng đối
trung bình năm khoảng 78%, độ ẩm tƣơng đối thấp nhất trung năm 35,7%, độ ẩm
tƣơng đối cao nhất trung năm 83%. Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng
2521 giờ. Tổng lƣợng bốc hơi năm khoảng 1069mm.

Trích đoạn Tác động đối với các thành phần kinh tế Thể chế, chính sách Cơ sở hạ tầng/ thiết bị phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó vớ Tổ chức ứng phó khi xảy ra thảm họa thiên tai Năng lực và phân bổ nguồn lực ứng phó với BĐKH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status