BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TIỂU LUẬN
GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE
Họ và tên: Trần Thị Hồng Nhung
MSV: A14001
Lớp: QA21a9
Năm học: 2009 - 2010
Hà Nội: 03/2010
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
LỜI NÓI ĐẦU
Con người trong quá trình tiến hoá, để sinh tồn trong sự đấu tranh với tự
nhiên đã hình thành và phát triển những kỹ năng như chạy, nhảy, bơi leo trèo Trải
qua quá trình sống, con người đã nhận biết rằng sự thành thục các kỹ năng trên sẽ
giúp ích nhiều trong việc tìm kiếm thức ăn, để có thể hình thành những kỹ năng đó
chỉ có thông qua tập luyện thường xuyên, từ đó các bài tập thể chất ra đời. Có thể
nói thể dục thể thao (TDTT) hình thành cùng với sự tiến hoá của loài người thông
qua con đường lao động và đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên.
Thế kỷ XIX, ở chân Âu đã xuất hiện một thuật ngữ “Thể dục” (Physical
education - Giáo dục thể chất), hàm nghĩa của nó là một loại hình giáo dục nhằm
duy trì và phát triển cơ thể. Cùng với sự tiến bộ không ngừng của tiến bộ loài người
và thực tiễn TDTT ngày càng phong phú thì khái niệm TDTT với hàm nghĩa bên
trong và bên ngoài của nó cũng không ngừng thay đổi.
Ngày nay hàm nghĩa thể dục với nghĩa rộng lớn là một quá trình giáo dục đồng
thời cũng là một hoạt động văn hoá xã hội, lấy sự phát triển cơ thể, tăng cường thể
chất, nâng cao sức khoẻ làm đặc trưng cơ bản. Nó là hiện tượng xã hội đặc thù bao
hàm giáo dục thể chất, TDTT thành tích cao và rèn luyện thân thể. TDTT là những
hoạt động phục vụ cho một nền chính trị, xã hội, kinh tế nhất định, đồng thời cũng
Giáo dục thể chất không đơn thuần chỉ là thể dục cơ bắp thuần tuý và không
chỉ đánh giá lượng hoá bằng thành tích của các môn: chạy cự ly ngắn, dài, nhảy xa,
nhảy cao, đẩy tạ, xà đơn, xà kép mà nó phải là giáo dục sức khoẻ toàn diện. Bởi
vì, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã góp phần chuyển đổi tính chất, cơ cấu của
lao động từ cơ bắp giản đơn sang lao động trí óc, điều khiển thiết bị máy móc tinh
vi, phát minh sáng chế, xử lý thông tin cho nên gíáo dục thể chất phải giúp sinh
viên hiểu rõ sức khoẻ thực sự không phải là sức nhanh, sức mạnh của cơ bắp mà
còn là khoẻ mạnh về tâm lý thần kinh, khả năng tự điều chỉnh thích nghi, cân bằng
hài hoà với môi trường sống, có nếp sống lành mạnh kết hợp với hoàn cảnh thực tế,
có khả năng ứng xử hợp lý với mọi tác động biến đổi của môi trường thiên nhiên và xã
hội, nâng cao ngưỡng rung động, cảm xúc cũng như khả năng chịu đựng, nâng cao
chất lượng sống và khả năng tự chủ, phục vụ tốt cho học tập, nghiên cứu và lao động,
đặc biệt là đối với lực lượng trí thức trẻ - những tài năng tương lai của đất nước.
Hà Nội, tháng 03 năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Hồng Nhung
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
4
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Phần I
SỨC KHỎE VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỨC KHỎE
Trang
I – Định nghĩa.…………………………………………….………………………………
8
II – Tầm quan trọng của sức khỏe………………………………………….……
9
IV – Các nguyên tắc trong tập luyện TDTT
1. Hiểu rõ về bản thân thực sự cầu thị……………………………………
18
2. Xây dựng niềm tin, ý chí tiến thủ………………………………………
18
3. Tập luyện toàn diện, chú trọng hiệu quả thực tế…………………
18
4. Kiên trì thường xuyên tập luyện………………………………………
18
5. Kế hoạch tập luyện hợp lý tuần tự, nâng dần……………………….
18
6. Tuân theo quy luật tự bảo vệ sức khoẻ……………………………….
19
V – Các chú ý trong tập luyện TDTT
1. Làm tốt công tác chuẩn bị về thân thể và tâm lý…………………
19
2. Chú ý trang phục tập luyện………………………………………………
19
3. Chuẩn bị dụng cụ tập luyện……………………………………………
19
4. Làm quen với dụng cụ sân bãi………………………………………….
19
5. Tình hình thời tiết khí hậu………………………………………………
20
6. Khởi động……………………………………………………………………
20
7. Các vấn đề trong vận động……………………………………………….
20
8. Thả lỏng………………………………………………………………………
21
2 Cân bằng cơ thể……………………………………………………………
25
3 Cân bằng âm dương………………………………………………………
25
II - Phân tích tác dụng phương pháp hít thở theo kinh nghiệm cổ
truyền - khí công dưỡng sinh (thở bụng)
1. Quy trình tập luyện…………………………………………………………
26
2. Tư thế ngồi: Tĩnh tọa………………………………………………………
26
3 Tư thế đứng: Hiệp khí âm dương………………………………………
27
4 Tư thế nằm: ngọa công……………………………………………………
27
5 Đạo dẫn khí công theo vòng châu thiên……………………………
27
Phần VI
KINH LẠC HUYỆT ĐẠO THỰC HÀNH
XOA BÓP BẤM HUYỆT PHỤC HỒI SỨC KHỎE
I - Khái niệm…………………………………………………………………………
28
II – Tác dụng của xoa bóp bấm huyệt………………………………………
28
III – Một số bệnh học đường sinh viên thường mắc phải
1. Bệnh đau đầu…………………………………………………………………
29
2. Người bị cận thị……………………………………………………………
29
3. Bệnh đau lưng………………………………………………………………
30
50
Kết luận
Phần I
SỨC KHỎE VÀ TẦM QUAN
TRỌNG CỦA SỨC KHỎE VỚI CUỘC SỐNG
I - ĐỊNH NGHĨA SỨC KHỎE
Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO- World
Health Organization):
“Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần
và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”
Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là: Hoạt động thể lực, hình dáng, ăn,
ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp
với từng lứa tuổi.
Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là: Bình an trong tâm hồn. Biết
cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống.
Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là: Nghề nghiệp với thu nhập đủ sống.
An sinh xã hội được đảm bảo.
Không có bệnh tật hay tàn phế là: Không có bệnh về thể chất, bệnh tâm
thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội.
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc
bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào.
Theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khoẻ
tốt. Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
7
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
khoẻ. Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập TDTT phù hợp, an toàn lao động
và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh.
bi quan, chán nản, sa sút tinh thần
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
8
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Trong gia đình chúng ta, nếu có người
ốm đau bệnh tật, cả nhà lo lắng, tốn
kém tiền của cho việc chạy chữa,
thuốc men, phải tiêu hao thời gian đi
lại, chăm sóc người bệnh Có nhiều
gia đình đã bị kiệt quệ vì có người nhà
đau ốm lâu dài. Trong cơ quan, nếu có
người ốm công việc sẽ bị bỏ dở, đình
trệ, không giải quyết kịp thời Trong
quân đội, nếu có người ốm thì sức
chiến đấu sẽ bị giảm sút , sự phối hợp
thiếu đồng bộ, chắp vá
Như vậy, sức khoẻ của mỗi người sẽ
ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống gia đình
nói riêng và các hoạt động kinh tế - chính
trị của xã hội nói chung.
Có một câu hỏi lớn được đặt ra là mỗi
người chúng ta đã dành được bao nhiêu thời
gian cho việc tìm hiểu kiến thức về sức
khoẻ và cần phải làm gì cho sức khởe của
chính mình một cách chủ động? Hầu hết
mọi người khi phát hiện ra mình có bệnh
lúc đó mới tìm cách chữa trị thậm chí có
chữa đôi
nước ta quan tâm tới vấn đề này mà ngay
cả tại các cơ quan xí nghiệp, trường học
cho đến những người dân, tất cả đều ý
thức được việc luyện tập thể thao để có
được một sức khoẻ tốt nhằm góp phần tích
cực vào việc bảo vệ, xây dựng và phát
triển Đất nước.
Sau những giờ làm việc mệt nhọc, căng thẳng, việc luyện tập TDTT thư
giãn và giải trí là một nhu cầu thiết thực. các trò chơi vận động, các hình thức
biểu diễn TDTT luôn được coi là món ăn tinh thần giúp cho cuộc sống lành
mạnh và tươi vui.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
10
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Nói tóm lại, mỗi cá nhân đều nên đảm
bảo cho mình một trạng thái thật tốt về tinh
thần, trí tuệ, rèn luyện nâng cao thể trạng,
tầm vóc và cả sự tao nhã trong phong cách
ứng xử. Làm tốt được những điều này
chính là đem tới cho chúng ta một sức khoẻ
toàn diện.
Đối với các bạn thanh niên nói riêng thì
mong các bạn hãy nhớ rằng chúng ta chính
là tương lai của Đất nươc, và vì thế các bạn
cũng đừng quên câu nói: "Sức khoẻ là vốn
quý nhất của đời người".
Phần II
GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TDTT trường học trở thành một giao điểm của sự kết hợp giữa giáo dục và
TDTT, là một trong những trọng điểm của sự phát triển TDTT.
Nội dung chương trình GDTC trong trường Đại học được tiến hành trong cả
quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường: Trang bị những kiến thức hiểu
biết về sức khoẻ toàn diện; nắm được một số kỹ năng luyện tập, lựa chọn bài tập
phù hợp; Rèn luyện tinh thần tự chủ, sáng tạo, ứng xử tốt bằng các hình thức:
* Giờ học TDTT chính khoá:
Là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành trong kế hoạch học tập
của nhà trường. Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinh sinh
viên là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát
triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh sinh viên. Đồng thời,
giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT.
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong
trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể
chất và thể thao của học sinh sinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát triển
năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức
tính cơ bản và lòng nhân đạo cho sinh viên”.
Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý
và giáo dục con người trong xã hội. Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
12
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hoà,
bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyên môn.
* Giờ học ngoại khoá - tự tập:
Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của một bộ phận sinh viên với
mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn
diện, đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của sinh viên. Giờ học
đấu, xếp đẳng cấp, tranh huy chương.
Thể dục mang tính chất phong trào,
quần chúng, cho mọi đối tượng xã hội,
phát triển trên tinh thần tự chủ và ý thức
tự giác.
Nhìn chung, luyện tập thể dục có thể chia thành ba nhóm theo tác động nói
chung lên cơ thể con người:
- Tập luyện về cơ bắp: chẳng hạn như uốn dẻo nhằm chăm sóc chức năng
vận động của cơ và các khớp. Các bài tập Aerobic như đi bộ và chạy tập trung
vào việc tăng sức chịu đựng của hệ tuần hoàn. Bài tập Anaerobic chẳng hạn
nâng tạ hoặc chạy nước rút tăng sức mạnh của cơ trong thời gian ngắn.
- Tập luyện với khí huyết tinh thần: chẳng hạn như việc hô hấp, hít thở,
nhằm chăm sóc chức năng vận động khí huyết, thư giãn và tập trung tinh thần.
Các bài tập thái cực quyền, khí công, Yoga làm tăng sự lưu thông khí huyết và
hướng tinh thần vào các động tác tập luyện. Từ đây làm tăng khả năng tập trung,
rèn luyện trí nhớ.
- Tập luyện thế dục rất quan trọng trong việc giữ hìn sức khoẻ thế chất gồm
có trọng lượng, thế hình và xương, cơ, khớp, tăng cường hoạt động của hệ miễn
dịch. Tập luyện tinh thần làm vững chắc hệ thần kinh, làm hoạt hoá các hoạt
động về khí huyết.
b. Thể thao:
Là các nội dung tập luyện nâng cao kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn để thi
đấu, xếp hạng thắng thua, tranh huy chương vàng, bạc, đồng. Có thể coi thể thao
là các hoạt động khai thác thành tích, chuyên sâu của thể dục.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
14
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Thể thao thành tích cao dành cho những
3. Chức năng quân sự:
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
15
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn và bảo vệ quyền lợi của các bộ lạc, bộ tộc,
quốc gia…TDTT đã góp phần tích cực trong việc huấn luyện thể lực, kỹ năng
chiến đấu cho binh sỹ. Các môn tập bắt
buộc trong quân đội và ngành an ninh:
Chạy, nhẩy, bơi lội, võ thuật chiến đấu, tự
vệ luôn là nội dung huấn luyện quan
trọng trong chương trình đào tạo và có ý
nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao sức chiến
đấu, ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến
quyết thắng của quân đội.
4. Chức năng kinh tế:
TDTT và kinh tế có mối quan hệ tương hỗ. Khi đánh giá giá trị sản xuất thì
tố chất của người lao động là tiêu chuẩn quan trọng nhất, trong đó sức khoẻ về
thể lực và tinh thần của người lao động là tiêu chí đầu tiên để lựa chọn, tuyển
dụng người lao động.
Mặt khắc luyện tập TDTT thường xuyên góp phần nâng cao sức khoẻ, phòng
và chống được bệnh tật, góp phần giảm chi phí chữa bệnh tốn kém cho đông đảo
người lao động và quần chúng. Ngoài ra sự phát triển của TDTT đặc biệt là
những môn thi đấu đỉnh cao nếu được tổ chức ở một địa điểm nào đó sẽ kéo
thêm hàng loạt các loại dịch vụ: du lịch, thương mại, thông tin, xây dựng … có
ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế ở vùng đó, đất nước đó.
5. Ý nghĩa chính trị - ngoại giao:
Cùng với văn hoá nghệ thuật TDTT đã đóng góp vai trò hết sức quan trọng
trong việc đặt nền móng cho các mối quan hệ chính trị, ngoại giao giữa các dân
thường xuyên tập luyện TDTT nhỏ hơn người bình thường và không dễ bị mệt
mỏi, hồi phục nhanh, tăng tính dẫn truyền của huyết quản.
4. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ tiêu hoá:
Năng lực tiêu hoá của dạ dầy và ruột tốt sẽ có nhiều ảnh hưởng tốt đối với
sức khoẻ con người. Thường xuyên tập luyện TDTT sẽ nâng cao được công
năng tiêu hoá của dạ dầy và ruột, tăng cường sự khoẻ mạnh cho gan, đồng thời
có tác dụng trị liệu và phòng ngừa một số bệnh về hệ thống tiêu hoá.
5. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ thần kinh:
Hệ thống thần kinh khống chế các loại hành vi của con người, thường xuyên
tập luyện TDTT sẽ làm nâng cao năng lực làm việc của các tế bào thần kinh ở
đại não, nâng cao tính linh hoạt và sự hưng phấn của hệ thần kinh, phản ứng
nhanh, tăng thêm tốc độ linh hoạt và sự chuẩn xác nhịp nhàng của động tác.
Ngoài ra thường xuyên tập luyện TDTT còn có thể phòng ngừa được bệnh
suy nhược thần kinh.
IV- CÁC NGUYÊN TẮC TRONG TẬP LUYỆN TDTT
1. Hiểu rõ về bản thân thực sự cầu thị:
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
17
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế là chỉ việc tập luyện TDTT, rèn luyện
thân thể làm việc. Căn cứ vào tình trạng thực tế của bản thân cá nhân và hoàn
cảnh bên ngoài để xác định mục đích tập luyện, lựa chọn môn thể thao thích
hợp, sắp xếp hợp lý thời gian vận động và lượng vận động.
2. Xây dựng niềm tin, ý chí tiến thủ:
Tập luyện TDTT là quá trình tự bản thân tập luyện, tự bản thân hoàn thiện.
Nếu như không tự giác thì người khác cũng bất lực. Tập luyện TDTT có thể
nâng cao sức khoẻ có hiệu quả. Tự giác trong tập luyện TDTT và trong quá trình
tập luyện có được sự vui vẻ sảng khoái.
quy luật khoa học trong tập luyện, đồng thời tăng cường sự giám sát của bản
thân, bảo vệ sức khoẻ của bản thân. Tăng cường tự bảo vệ sức khoẻ có thể làm
giảm bớt những chấn thương không cần thiết.
V- CÁC CHÚ Ý TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO.
1. Làm tốt công tác chuẩn bị về thân thể và tâm lý:
Hiểu rõ về tình trạng cơ thể bản thân, điều chỉnh tốt về trạng thái tâm lý, điều
quan trọng nhất là công tác chuẩn bị để hoạt động cực nhọc.
2. Chú ý trang phục tập luyện:
Yêu cầu cơ bản về y phục trong hoạt động TDTT là "gọn nhẹ", trong khi vận
động phải cố gắng hết mức có thể không mặc quá nhiều để quần áo quá nặng
ảnh hưởng đến năng lực vận động.
Ngoài ra trọng điểm phải là " tiện ".
Khi lựa chọn trang phục nên lựa chọn
những trang phục rộng rãi, nhẹ nhàng hoặc
những trang phục có tính đàn hồi.
Khi xem và lựa chọn trang phục tập
luyện cần chú ý nguyên tắc " từ dầy đến
mỏng ". Nên căn cứ vào tình trạng phát
nhiệt của cơ thể trong quá trình vận động
để cân nhắc việc cởi bỏ áo ngoài sau khi
vận động, phải mặc quần áo ngoài kịp thời
bởi lẽ vận động đã toát mồ hôi ra rất nhiều
rất dễ dẫn đến cảm lạnh.
3. Chuẩn bị dụng cụ tập luyện
Trước khi tiến hành tập luyện TDTT cần phải làm tốt công tác chuẩn bị dụng
cụ tập luyện mà môn thể thao đó yêu cầu.
4. Làm quen với dụng cụ sân bãi
Trước khi tập luyện TDTT cần phải tiến hành xem xét, hiểu rõ về dụng cụ
sân bãi tập luyện, đồng thời cần phải kiểm tra những dụng cụ cần phải sử dụng
và sân bãi xem có vấn đề gì không, có phù hợp không, kiểm tra điều kiện bốn
bắt đầu được nâng lên. Hiện tượng này được
gọi là "hô hấp lần hai".
b. Chú ý tính hợp lý giữa lượng vận
động và cường độ vận động
Căn cứ vào thực trạng cơ thể để xây dựng một kế hoạch vận động tương ứng,
sắp xếp lượng vận động và cường độ vận động khi bắt đầu không nên quá lớn để
tránh việc phát sinh những chấn thương.
8. Thả lỏng
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
20
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Thả lỏng là một phương pháp tiêu giảm mệt mỏi, thực tiễn sự phục hồi thế
lực của cơ thể. Thông thường mà mà nói, sau khi con người tham gia vào các
hoạt động kịch liệt mà dừng hoạt động ngay lập tức thì sẽ khó có thể phát sinh
hiện tượng chóng mặt, bị ngất thậm chí còn dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng
khó lường.
Khi kết thúc các vận động, bắt buộc phải thực hiện các vận độg thả lỏng làm cho
cơ thể chuyển từ trạng thái vận động căng thẳng sang trạng thái vận động yên tĩnh.
Sau khi vận động, đặc biệt là sau những vận động kịch liệt nhất định phải
tiến hành thả lỏng.
9. Tắm sau vận động
Sau vận động không được tắm nước lạnh hoặc bơi lội.
Sau vận động nên tiến hành tắm với nước ấm là một phương pháp tiêu trừ
mệt mỏi đơn giản và dễ thực hiện nhất. Nuớc ấm vào khoảng 40 - 44°C là thích
hợp, thời gian tắm khoảng 10 - 15 phút.
Phần III
PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
I - KHÁI NIỆM
ASANA có nghĩa là một tư thế, nó có thể giữ được một cách thoải mái và dễ
chịu. Các bài tập YOGA có liên quan đến hệ thống thần kinh, hơi thở, toàn bộ
cơ quan nội tạng và đặc biệt là hệ thống nội tiết. Asana làm tăng sức mạnh hệ
thống nội tạng và làm cho chúng hoạt động một cách điều hòa. Tác dụng lớn của
Asana là trên các tuyến nội tiết. Các tuyến tiết xuất các hormone (nội tiết) vào
dòng máu và tuỳ theo đó mà chúng ta cảm thấy những loại tình cảm khác nhau.
Ví dụ tuyến giáp trạng (Thyroid gland) tiết xuất Thyroxin. Nếu tiết xuất quá
nhiều hormone con người cảm thấy nóng nảy và tâm trí dễ cáu giận. Nếu tiết
xuất quá ít hormone con người cảm thấy trì độn và suy nhược.
Các tư thế YOGA tạo sức ép từ nhiều
phía khác nhau trên các phần của cơ thể
con người giống như một loại xoa bóp
nhẹ. Điều này làm tăng sức kiểm soát
chức năng đúng của các tuyến. Khi việc
điều tiết hormone trở nên quân bình, nó
cũng cân bằng tình cảm của chúng ta,
giúp chúng ta kiểm soát tốt hơn những
xu hướng tình cảm xấu như giận hờn,
ganh tỵ, thèm muốn, sợ hãi
Hầu hết các bệnh tật đều do chức năng bất toàn của các tuyến. Các Asana
YOGA là các thế tự nhiên nhất để chữa trị tất cả các loại bệnh tật liên quan đến
vấn đề nội tiết. Nhiều loại bệnh tâm sinh lý cũng có thể chữa dễ dàng nhờ kết
hợp đặc biệt các Asana. Cơ thể và trí não liên hệ với nhau qua các kênh năng
lượng rất tinh vi (trung tâm năng lựợng) và não bộ. Các bài tập YOGA làm cho
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
22
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
những kênh lượng tinh tế và trung tâm tinh thần mạnh lên. Kết quả là ta cảm
23
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Phần IV
CÂN BẰNG CƠ THỂ - CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG
I - KHÁI NIỆM VỀ CÂN BẰNG CƠ THỂ
Theo quan niệm của y học cổ truyền, nếu cơ thể mất thăng bằng, khí huyết
trì trệ, không lưu thông, sự vận hành thiếu sự đồng bộ thì chắc chắn có bệnh "
thông thì bất thống, thống thì bất thông".
a. Có ba loại mất cân bằng cơ thể:
- Mất cân bằng hệ thống vận động: xương, cơ, khớp.
- Mất cân bằng hệ thống chức năng lục phủ ngũ tạng.
- Mất cân bằng hệ thống thần kinh.
b. Nguyên nhân:
- Tư thế làm việc, học tập.
- Làm việc quá sức.
- Vận động quá ít không đồng bộ.
- Ăn uống không đồng bộ, thức ăn kém phẩm chất, có độc hại.
- Căng thẳng thần kinh (stress).
II - KHÁI NIỆM VỀ CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG
Theo triết học phương Đông, học thuyết âm dương là cốt lõi để nhìn nhận
đánh giá và nhận định trong nhân sinh và vũ trụ hai mặt đối lập âm dương luôn
luôn vận động, biến hóa không ngừng tương thôi, tương tác, tạo ra muôn vạn
trạng thái hình thể diệu tướng của mọi sự vật, sự việc.
a. Nguyên nhân cơ bản:
- Âm dương căn hỗ.
- Âm dương tiêu trưởng.
- Âm dương chuyển hóa.
b. Ứng dụng trong phạm trù vận động:
+ Làm việc quá sức.
+ Vận động quá ít không đồng bộ.
+ Ăn uống không điều độ, thức ăn kém phẩm chất, có độc hại.
+ Căng thẳng thần kinh (stress).
3. Cân bằng âm dương:
Theo triết học phương Đông, học thuyết âm dương là cốt lõi để nhìn nhận
đánh giá và nhận định trong nhân sinh và vũ trụ hai mặt đối lập âm dương luôn
luôn vận động, biến hoá không ngừng, tương thôi, tương tác, tạo ra muôn vạn
trạng thái hình thể diện tướng của mọi sự vật, sự việc.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
25
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
a. Nguyên nhân cơ bản:
+ Âm dương căn hỗ.
+ Âm dương tiêu trướng.
+ Âm dương chuyển hoá.
b. Ứng dụng trong phạm trù vận động.
+ Động và tĩnh.
+ Cương và nhu.
+ Chủ động và thụ động.
+ Ý thức và vô thức.
+ Bản chất và hình tướng (hiện tượng).
+ Cục bộ và đồng bộ.
II. PHÂN TÍCH TÁC DỤNG PHƯƠNG PHÁP HÍT THỞ THEO KINH
NGHIỆM CỔ TRUYỀN – KHÍ CÔNG DƯỠNG SINH (THỞ BỤNG)
Theo quan điểm của cổ truyền phương đông, bụng là 1 nơi tích tụ năng
lượng chính của cơ thể (Đan điền, khí hải) các trường phái võ thuật, khí công,
Yoga đều nhấn mạnh vấn đề tập trung khí ở bụng.