BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
TIỂU LUẬN
GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ SỨC KHỎE
Họ và tên: Trần Thị Hồng Nhung
MSV: A14001
Lớp: QA21a9
Năm học: 2009 - 2010
Hà Nội: 03/2010
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
LỜI NÓI ĐẦU
Con người trong quá trình tiến hoá, để sinh tồn trong sự đấu tranh với tự
nhiên đã hình thành và phát triển những kỹ năng như chạy, nhảy, bơi leo trèo Trải
qua quá trình sống, con người đã nhận biết rằng sự thành thục các kỹ năng trên sẽ
giúp ích nhiều trong việc tìm kiếm thức ăn, để có thể hình thành những kỹ năng đó
chỉ có thông qua tập luyện thường xuyên, từ đó các bài tập thể chất ra đời. Có thể
nói thể dục thể thao (TDTT) hình thành cùng với sự tiến hoá của loài người thông
qua con đường lao động và đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên.
Thế kỷ XIX, ở chân Âu đã xuất hiện một thuật ngữ “Thể dục” (Physical
education - Giáo dục thể chất), hàm nghĩa của nó là một loại hình giáo dục nhằm
duy trì và phát triển cơ thể. Cùng với sự tiến bộ không ngừng của tiến bộ loài người
và thực tiễn TDTT ngày càng phong phú thì khái niệm TDTT với hàm nghĩa bên
trong và bên ngoài của nó cũng không ngừng thay đổi.
Ngày nay hàm nghĩa thể dục với nghĩa rộng lớn là một quá trình giáo dục đồng
thời cũng là một hoạt động văn hoá xã hội, lấy sự phát triển cơ thể, tăng cường thể
chất, nâng cao sức khoẻ làm đặc trưng cơ bản. Nó là hiện tượng xã hội đặc thù bao
hàm giáo dục thể chất, TDTT thành tích cao và rèn luyện thân thể. TDTT là những
hoạt động phục vụ cho một nền chính trị, xã hội, kinh tế nhất định, đồng thời cũng
Giáo dục thể chất không đơn thuần chỉ là thể dục cơ bắp thuần tuý và không
chỉ đánh giá lượng hoá bằng thành tích của các môn: chạy cự ly ngắn, dài, nhảy xa,
nhảy cao, đẩy tạ, xà đơn, xà kép mà nó phải là giáo dục sức khoẻ toàn diện. Bởi
vì, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã góp phần chuyển đổi tính chất, cơ cấu của
lao động từ cơ bắp giản đơn sang lao động trí óc, điều khiển thiết bị máy móc tinh
vi, phát minh sáng chế, xử lý thông tin cho nên gíáo dục thể chất phải giúp sinh
viên hiểu rõ sức khoẻ thực sự không phải là sức nhanh, sức mạnh của cơ bắp mà
còn là khoẻ mạnh về tâm lý thần kinh, khả năng tự điều chỉnh thích nghi, cân bằng
hài hoà với môi trường sống, có nếp sống lành mạnh kết hợp với hoàn cảnh thực tế,
có khả năng ứng xử hợp lý với mọi tác động biến đổi của môi trường thiên nhiên và xã
hội, nâng cao ngưỡng rung động, cảm xúc cũng như khả năng chịu đựng, nâng cao
chất lượng sống và khả năng tự chủ, phục vụ tốt cho học tập, nghiên cứu và lao động,
đặc biệt là đối với lực lượng trí thức trẻ - những tài năng tương lai của đất nước.
Hà Nội, tháng 03 năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Hồng Nhung
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
4
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Phần I
SỨC KHỎE VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỨC KHỎE
Trang
I – Định nghĩa.…………………………………………….………………………………
8
II – Tầm quan trọng của sức khỏe………………………………………….……
9
IV – Các nguyên tắc trong tập luyện TDTT
1. Hiểu rõ về bản thân thực sự cầu thị……………………………………
18
2. Xây dựng niềm tin, ý chí tiến thủ………………………………………
18
3. Tập luyện toàn diện, chú trọng hiệu quả thực tế…………………
18
4. Kiên trì thường xuyên tập luyện………………………………………
18
5. Kế hoạch tập luyện hợp lý tuần tự, nâng dần……………………….
18
6. Tuân theo quy luật tự bảo vệ sức khoẻ……………………………….
19
V – Các chú ý trong tập luyện TDTT
1. Làm tốt công tác chuẩn bị về thân thể và tâm lý…………………
19
2. Chú ý trang phục tập luyện………………………………………………
19
3. Chuẩn bị dụng cụ tập luyện……………………………………………
19
4. Làm quen với dụng cụ sân bãi………………………………………….
19
5. Tình hình thời tiết khí hậu………………………………………………
20
6. Khởi động……………………………………………………………………
20
7. Các vấn đề trong vận động……………………………………………….
20
8. Thả lỏng………………………………………………………………………
21
2 Cân bằng cơ thể……………………………………………………………
25
3 Cân bằng âm dương………………………………………………………
25
II - Phân tích tác dụng phương pháp hít thở theo kinh nghiệm cổ
truyền - khí công dưỡng sinh (thở bụng)
1. Quy trình tập luyện…………………………………………………………
26
2. Tư thế ngồi: Tĩnh tọa………………………………………………………
26
3 Tư thế đứng: Hiệp khí âm dương………………………………………
27
4 Tư thế nằm: ngọa công……………………………………………………
27
5 Đạo dẫn khí công theo vòng châu thiên……………………………
27
Phần VI
KINH LẠC HUYỆT ĐẠO THỰC HÀNH
XOA BÓP BẤM HUYỆT PHỤC HỒI SỨC KHỎE
I - Khái niệm…………………………………………………………………………
28
II – Tác dụng của xoa bóp bấm huyệt………………………………………
28
III – Một số bệnh học đường sinh viên thường mắc phải
1. Bệnh đau đầu…………………………………………………………………
29
2. Người bị cận thị……………………………………………………………
29
3. Bệnh đau lưng………………………………………………………………
30
50
Kết luận
Phần I
SỨC KHỎE VÀ TẦM QUAN
TRỌNG CỦA SỨC KHỎE VỚI CUỘC SỐNG
I - ĐỊNH NGHĨA SỨC KHỎE
Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO- World
Health Organization):
“Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần
và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”
Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là: Hoạt động thể lực, hình dáng, ăn,
ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp
với từng lứa tuổi.
Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là: Bình an trong tâm hồn. Biết
cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống.
Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là: Nghề nghiệp với thu nhập đủ sống.
An sinh xã hội được đảm bảo.
Không có bệnh tật hay tàn phế là: Không có bệnh về thể chất, bệnh tâm
thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội.
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc
bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào.
Theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức khoẻ
tốt. Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn luyện sức
khoẻ. Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập TDTT phù hợp, an toàn lao động
và khám bệnh định kỳ để chủ động trong việc phòng và chữa bệnh.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
7
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
những dự định, không thể làm được những công việc có hiệu quả như mong
muốn, cuộc sống bị trì trệ bi quan, chán nản, sa sút tinh thần
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
8
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Trong gia đình chúng ta, nếu có người
ốm đau bệnh tật, cả nhà lo lắng, tốn
kém tiền của cho việc chạy chữa,
thuốc men, phải tiêu hao thời gian đi
lại, chăm sóc người bệnh Có nhiều
gia đình đã bị kiệt quệ vì có người nhà
đau ốm lâu dài. Trong cơ quan, nếu có
người ốm công việc sẽ bị bỏ dở, đình
trệ, không giải quyết kịp thời
Trong quân đội, nếu có người ốm thì
sức chiến đấu sẽ bị giảm sút , sự
phối hợp thiếu đồng bộ, chắp vá
Như vậy, sức khoẻ của mỗi người sẽ
ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống gia
đình nói riêng và các hoạt động kinh tế -
chính trị của xã hội nói chung.
Có một câu hỏi lớn được đặt ra là mỗi
người chúng ta đã dành được bao nhiêu thời
gian cho việc tìm hiểu kiến thức về sức
khoẻ và cần phải làm gì cho sức khởe của
chính mình một cách chủ động? Hầu hết
mọi người khi phát hiện ra mình có bệnh
lúc đó mới tìm cách chữa trị thậm chí có
luyện tập thể thao nâng cao sức khoẻ ngày
càng được chú trọng cả về bề rộng lẫn
chiều sâu. Không những Đảng và Nhà
nước ta quan tâm tới vấn đề này mà ngay
cả tại các cơ quan xí nghiệp, trường học
cho đến những người dân, tất cả đều ý
thức được việc luyện tập thể thao để có
được một sức khoẻ tốt nhằm góp phần
tích cực vào việc bảo vệ, xây dựng và
phát triển Đất nước.
Sau những giờ làm việc mệt nhọc, căng thẳng, việc luyện tập TDTT thư
giãn và giải trí là một nhu cầu thiết thực. các trò chơi vận động, các hình
thức biểu diễn TDTT luôn được coi là món ăn tinh thần giúp cho cuộc sống
lành mạnh và tươi vui.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
10
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Nói tóm lại, mỗi cá nhân đều nên đảm
bảo cho mình một trạng thái thật tốt về tinh
thần, trí tuệ, rèn luyện nâng cao thể trạng,
tầm vóc và cả sự tao nhã trong phong cách
ứng xử. Làm tốt được những điều này
chính là đem tới cho chúng ta một sức khoẻ
toàn diện.
Đối với các bạn thanh niên nói riêng
thì mong các bạn hãy nhớ rằng chúng ta
chính là tương lai của Đất nươc, và vì thế
các bạn cũng đừng quên câu nói: "Sức
GDTC ở nước ta thường được gọi là TDTT trường học, nó là một bộ phận
quan trọng cấu thành nên TDTT và cũng là một bộ phận quan trọng để cấu
thành nên giáo dục ở trường học, đồng thời nó cũng là nền tảng của TDTT
toàn dân.
TDTT trường học trở thành một giao điểm của sự kết hợp giữa giáo dục
và TDTT, là một trong những trọng điểm của sự phát triển TDTT.
Nội dung chương trình GDTC trong trường Đại học được tiến hành
trong cả quá trình học tập của sinh viên trong nhà trường: Trang bị những
kiến thức hiểu biết về sức khoẻ toàn diện; nắm được một số kỹ năng luyện
tập, lựa chọn bài tập phù hợp; Rèn luyện tinh thần tự chủ, sáng tạo, ứng xử
tốt bằng các hình thức:
* Giờ học TDTT chính khoá:
Là hình thức cơ bản nhất của GDTC được tiến hành trong kế hoạch học
tập của nhà trường. Vì việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học
sinh sinh viên là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích
hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh
sinh viên. Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các
kỹ thuật động tác TDTT.
Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong
trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể
chất và thể thao của học sinh sinh viên, phát triển các tố chất thể lực, phát
triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục
được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho sinh viên”.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
12
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Bản thân giờ học TDTT có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý
và giáo dục con người trong xã hội. Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật
13
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Là những hình thức tập luyện để
giữ gìn và nâng cao sức khoẻ cho bản
thân người tập, không mang tính chất
thi đấu, xếp đẳng cấp, tranh huy
chương. Thể dục mang tính chất
phong trào, quần chúng, cho mọi đối
tượng xã hội, phát triển trên tinh
thần tự chủ và ý thức tự giác.
Nhìn chung, luyện tập thể dục có thể chia thành ba nhóm theo tác động
nói chung lên cơ thể con người:
- Tập luyện về cơ bắp: chẳng hạn như uốn dẻo nhằm chăm sóc chức năng
vận động của cơ và các khớp. Các bài tập Aerobic như đi bộ và chạy tập trung
vào việc tăng sức chịu đựng của hệ tuần hoàn. Bài tập Anaerobic chẳng hạn
nâng tạ hoặc chạy nước rút tăng sức mạnh của cơ trong thời gian ngắn.
- Tập luyện với khí huyết tinh thần: chẳng hạn như việc hô hấp, hít thở, nhằm
chăm sóc chức năng vận động khí huyết, thư giãn và tập trung tinh thần. Các bài
tập thái cực quyền, khí công, Yoga làm tăng sự lưu thông khí huyết và hướng
tinh thần vào các động tác tập luyện. Từ đây làm tăng khả năng tập trung, rèn
luyện trí nhớ.
- Tập luyện thế dục rất quan trọng trong việc giữ hìn sức khoẻ thế chất gồm
có trọng lượng, thế hình và xương, cơ, khớp, tăng cường hoạt động của hệ
miễn dịch. Tập luyện tinh thần làm vững chắc hệ thần kinh, làm hoạt hoá
các hoạt động về khí huyết.
b. Thể thao:
Là các nội dung tập luyện nâng cao kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn
để thi đấu, xếp hạng thắng thua, tranh huy chương vàng, bạc, đồng. Có thể
coi thể thao là các hoạt động khai thác thành tích, chuyên sâu của thể dục.
dụng của TDTT nhất là trong giáo dục.
Khêu gợi kích thích lòng yêu tổ quốc,
tinh thần tự hào đoàn kết dân tộc.
Giáo dục tinh thần tự chủ, bản lĩnh,
lòng tự tin, tính trung trực và cao
thượng.
GDTC ở trường học, TDTT giúp cho học sinh sinh viên nâng cao thể chất,
rèn luyện tinh thần, ổn định tâm lý, nâng cao phẩm chất đạo đức và ứng xử xã
hội.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
15
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
3. Chức năng quân sự:
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn và bảo vệ quyền lợi của các bộ lạc, bộ tộc,
quốc gia…TDTT đã góp phần tích cực trong việc huấn luyện thể lực, kỹ
năng
chiến đấu cho binh sỹ. Các môn tập bắt
buộc trong quân đội và ngành an ninh:
Chạy, nhẩy, bơi lội, võ thuật chiến đấu, tự
vệ luôn là nội dung huấn luyện quan
trọng trong chương trình đào tạo và có ý
nghĩa đặc biệt trong việc nâng cao sức chiến
đấu, ý chí kiên cường, tinh thần quyết chiến
quyết thắng của quân đội.
4. Chức năng kinh tế:
TDTT và kinh tế có mối quan hệ tương hỗ. Khi đánh giá giá trị sản xuất
thì tố chất của người lao động là tiêu chuẩn quan trọng nhất, trong đó sức
khoẻ về thể lực và tinh thần của người lao động là tiêu chí đầu tiên để lựa
Thường xuyên tập luyện TDTT xẽ đẩy mạnh sự phát triển chiều cao của
các em thiếu niên nhi đồng.
2. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ hô hấp:
Khi tập luyện TDTT cơ thể đòi hỏi nhiều hơn về oxy, chính vì vậy mà tần
số hô hấp tăng lên từ đó nâng cao được chức năng của các cơ quan trong hệ
thống hô hấp làm cải thiên cơ năng hệ hô hấp.Cơ hô hấp được phát triển
dần có lực, có sức bền, có thể chịu đựng lượng vận động lớn.
Dung tích sống tăng lên, tăng cường hấp thụ oxy và thải khí cacbonic.
3. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ tuần hoàn:
Tập luyện TDTT có thể nâng cao chức năng của tim, tăng nhanh tốc độ
tuần hoàn máu, nâng cao chức năng của hệ thống huyết quản.
" Tiết kiệm hoá" trong làm việc của tim. Tiến hành vận động nhẹ nhàng
ở một lượng vận động, tần số mạch đập và biên độ biến đổi huyết áp ở
người thường xuyên tập luyện TDTT nhỏ hơn người bình thường và không
dễ bị mệt mỏi, hồi phục nhanh, tăng tính dẫn truyền của huyết quản.
4. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ tiêu hoá:
Năng lực tiêu hoá của dạ dầy và ruột tốt sẽ có nhiều ảnh hưởng tốt đối với
sức khoẻ con người. Thường xuyên tập luyện TDTT sẽ nâng cao được công
năng tiêu hoá của dạ dầy và ruột, tăng cường sự khoẻ mạnh cho gan, đồng
thời có tác dụng trị liệu và phòng ngừa một số bệnh về hệ thống tiêu hoá.
5. Sự ảnh hưởng của tập luyện TDTT đối với hệ thần kinh:
Hệ thống thần kinh khống chế các loại hành vi của con người, thường xuyên
tập luyện TDTT sẽ làm nâng cao năng lực làm việc của các tế bào thần kinh
ở đại não, nâng cao tính linh hoạt và sự hưng phấn của hệ thần kinh, phản
ứng nhanh, tăng thêm tốc độ linh hoạt và sự chuẩn xác nhịp nhàng của
động tác.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
17
thể chất có hiệu quả. Rèn luyện thân thể mà bỏ giữa chừng thời gian càng dài
thì sự mất đi càng rõ rệt hơn, rèn luyện thân thể trong thời gian ngắn sẽ không
có hiệu quả rõ rệt.
5. Kế hoạch tập luyện hợp lý tuần tự, nâng dần:
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
18
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Nguyên tắc tuần tự tăng dần chủ yếu là chỉ khi sắp xếp nội dung, độ khó,
thời gian và lượng vận động tập luyện cần căn cứ vào quy luật phát triển của cơ
thể và nguyên lý của lượng vận động hợp mức, có kế hoạch, có tiến trình để
từng bước nâng cao yêu cầu làm cho cơ thể không ngừng thích nghi, thể
chất từng bước được nâng cao.
6. Tuân theo quy luật tự bảo vệ sức khoẻ:
Muốn đạt được sức khoẻ tập luyện thật tốt bắt buộc phải tuân theo những
quy luật khoa học trong tập luyện, đồng thời tăng cường sự giám sát của bản
thân, bảo vệ sức khoẻ của bản thân. Tăng cường tự bảo vệ sức khoẻ có thể làm
giảm bớt những chấn thương không cần thiết.
V- CÁC CHÚ Ý TRONG TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO.
1. Làm tốt công tác chuẩn bị về thân thể và tâm lý:
Hiểu rõ về tình trạng cơ thể bản thân, điều chỉnh tốt về trạng thái tâm lý, điều
quan trọng nhất là công tác chuẩn bị để hoạt động cực nhọc.
2. Chú ý trang phục tập luyện:
Yêu cầu cơ bản về y phục trong hoạt động TDTT là "gọn nhẹ", trong khi
vận động phải cố gắng hết mức có thể không mặc quá nhiều để quần áo quá
nặng ảnh hưởng đến năng lực vận động.
Ngoài ra trọng điểm phải là " tiện ".
Khi lựa chọn trang phục nên lựa chọn
những trang phục rộng rãi, nhẹ nhàng hoặc
6. Khởi động
Trước khi tiến hành những vận động tối đa bắt buộc phải làm tốt những bài
tập khởi động. Khởi động tốt có thể nâng cao sự hưng phấn của hệ thống trung
khu thần kinh và khắc phục tính ỳ của chức năng các cơ quan nội tạng, cũng
phòng ngừa được sự phát sinh chấn thương vận động, điều chỉnh tốt trạng thái
vận động.
7. Các vấn đề trong vận động
a. "Cực điểm" và "hô hấp lần hai".
Trong khi chạy ở các cự ly trung bình và dài thưưòng xuất hiện sau khi chạy
một thời gian không lâu hiện tượng tức ngực, khó thở, cảm giác chân nặng,
động tác không còn nhịp nhàng. Hiện tượng này gọi là "cực điểm".
Sau khi xuất hiện "cực điểm" chỉ cần
giảm tốc độ chạy thích hợp, hít thở sâu,
kiêm trì với động tác chạy về trước thì
những cảm giác không tốt do "cực điểm" tạo
ra sẽ mất đi, động tác sẽ nhịp nhàng, nhẹ
nhàng có lực trở lại, năng lực làm việc lại
bắt đầu được nâng lên. Hiện tượng này được
gọi là "hô hấp lần hai".
b. Chú ý tính hợp lý giữa lượng vận
động và cường độ vận động
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
20
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Căn cứ vào thực trạng cơ thể để xây dựng một kế hoạch vận động tương ứng,
sắp xếp lượng vận động và cường độ vận động khi bắt đầu không nên quá lớn để
tránh việc phát sinh những chấn thương.
8. Thả lỏng
YOGA là một lối luyện tập và kiến thức đã có từ lâu đời, 95% của nó là
từ thực tiễn. YOGA là một hệ thống của nhiều kỹ thuật làm sao cho thân
thể và trí não khỏe mạnh. Nó là một khoa học làm thế nào đem lại sự hài
hòa hoàn toàn và quân bình cho đời sống. Bằng chứng là những ai luyện
tập YOGA đều đặn đều có sức khoẻ tốt.
YOGA rất hữu ích, nó tự tại như
ánh sáng mặt trời hay không khí, nó
không thuộc bất cứ một ai, một
quốc gia nào hay một dân tộc nào ,
mà nó là của cả nhân loại. YOGA
đã được phát triển tại vùng Hy Mã
Lạp Sơn hàng ngàn năm về trước từ
những nhà nghiên cứu cổ xưa thông thái. Họ quan sát thân thể và tâm trí con
người một cách sâu xa. Họ cũng nhận rõ các động tác của các loài động vật khác
nhau, họ bắt chước những tư thế đó và thử nghiệm trên chính thân thể của họ.
Đó chính là lý do tại sao nhiều bài tập được lấy tên từ các con thú. Những tư thế
yoga đó được gọi là ASANA và có thể có tới 50.000 tư thế.
ASANA có nghĩa là một tư thế, nó có thể giữ được một cách thoải mái và dễ
chịu. Các bài tập YOGA có liên quan đến hệ thống thần kinh, hơi thở, toàn bộ
cơ quan nội tạng và đặc biệt là hệ thống nội tiết. Asana làm tăng sức mạnh hệ
thống nội tạng và làm cho chúng hoạt động một cách điều hòa. Tác dụng lớn của
Asana là trên các tuyến nội tiết. Các tuyến tiết xuất các hormone (nội tiết) vào
dòng máu và tuỳ theo đó mà chúng ta cảm thấy những loại tình cảm khác nhau.
Ví dụ tuyến giáp trạng (Thyroid gland) tiết xuất Thyroxin. Nếu tiết xuất quá
nhiều hormone con người cảm thấy nóng nảy và tâm trí dễ cáu giận. Nếu tiết
xuất quá ít hormone con người cảm thấy trì độn và suy nhược.
Các tư thế YOGA tạo sức ép từ nhiều
phía khác nhau trên các phần của cơ thể
con người giống như một loại xoa bóp
nhẹ. Điều này làm tăng sức kiểm soát
- Tăng cường khả năng giao tiếp, làm chủ thần kinh trong ứng xử xã hội và
có khả năng tự vệ khi cần thiết.
- Nâng cao sức chịu đựng của cơ thể và ngưỡng rung động, cảm xúc phát
huy nội lực, lòng tự tin và sáng tạo trong học tập và công tác.
III - PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA PHƯƠNG PHÁP
1. Phạm vi ứng dụng
Có thể ứng dụng cho mọi đối tượng xã
hội, mọi lứa tuổi, mọi lúc, mọi nơi, trong
và ngoài nước.
2. Đối tượng chính đã thử nghiệm
có kết quả
- Sinh viên các trường Đại học và
Trung học chuyên nghiệp.
- Tầng lớp trí thức, lao động trí óc, người nước ngoài.
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
23
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
- Người cao tuổi, hưu trí, người có sức khỏe yếu.
- Người tàn tật, mù, câm điếc.
Phần IV
CÂN BẰNG CƠ THỂ - CÂN BẰNG ÂM DƯƠNG
I - KHÁI NIỆM VỀ CÂN BẰNG CƠ THỂ
Theo quan niệm của y học cổ truyền, nếu cơ thể mất thăng bằng, khí huyết
trì trệ, không lưu thông, sự vận hành thiếu sự đồng bộ thì chắc chắn có bệnh "
thông thì bất thống, thống thì bất thông".
a. Có ba loại mất cân bằng cơ thể:
- Mất cân bằng hệ thống vận động: xương, cơ, khớp.
- Mất cân bằng hệ thống chức năng lục phủ ngũ tạng.
I. KHÁI NIỆM
1. Khí công dưỡng sinh:
Là quá trình luyện cho khí sinh ra đầy đủ, vận hành thông suốt khiến
cơ thể được điều hòa âm dương, thích nghi tốt với các biến đổi môi trường,
phương pháp này giúp rèn luyện thể lực và ý chí con người, luyện tập nó có
thể giúp chúng ta phòng chống và chữa trị được một số loại bệnh như đau
khớp, đau thần kinh toại, đau đầu, mất ngủ…
2. Cân bằng cơ thể:
Theo quan niệm của y học cổ truyền, nếu cơ thể mất cân bằng, khí huyết trì
trệ, không lưu thông, sự vận hành thiếu đồng bộ thì chắc chắn có bệnh, “Thông
thì bất thống, thống thì bất thông”.
a. Có 3 loại mất cân bằng cơ thể:
+ Mất cân bằng hệ thống vận động: Xương, cơ, khớp.
+ Mất cân bằng hệ thống chức năng lục phủ, ngũ tạng.
+ Mất cân bằng hệ thống thần kinh.
b. Nguyên nhân:
+ Tư thế làm việc, học tập.
+ Làm việc quá sức.
+ Vận động quá ít không đồng bộ.
+ Ăn uống không điều độ, thức ăn kém phẩm chất, có độc hại.
+ Căng thẳng thần kinh (stress).
3. Cân bằng âm dương:
Sinh viên: Trần Thị Hồng Nhung MSV: A14001 - Lớp: QA21a9
25
Trường Đại học Thăng Long - Bài Tiểu luận Lý thuyết môn Giáo dục thể chất
Theo triết học phương Đông, học thuyết âm dương là cốt lõi để nhìn nhận
đánh giá và nhận định trong nhân sinh và vũ trụ hai mặt đối lập âm dương luôn
luôn vận động, biến hoá không ngừng, tương thôi, tương tác, tạo ra muôn vạn