Nghiên cứu xác định một số dạng mangan trong chè - Pdf 28


1 MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 9
1.1. Giới thiệu chung về cây chè 9
1.1.1. Thành phần hoá học của lá chè tươi [1] 9
1.1.2. Công dụng của cây chè [1] 11
1.2. Nguyên tố Mangan [7,15] 12
1.2.1. Vai trò sinh học của mangan 12
1.2.2. Khả năng tạo phức của Mn với một số thuốc thử hữu cơ [11,3] 13
1.3. Các phƣơng pháp xác định Mn 14
1.3.1. Các phương pháp phân tích tổng Mn 14
1.3.2. Các phương pháp phân tích định dạng Mn 20
CHƢƠNG 2: THỰC NGHIỆM 31
2.1. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 31
2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu 31
2.1.2. Nguyên tắc của phương pháp xác định Mn bằng phương pháp FAAS 31
2.1.3. Nội dung nghiên cứu: 34
2.2. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 35
2.2.1. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 35
2.2.2. Hóa chất và nguyên liệu 36
2.2.3. Chuẩn bị hóa chất và dung dịch chuẩn 36
2.3. Lấy mẫu và bảo quản mẫu 37
2.3.1. Mẫu chè khô 37



3 3.6.4. Xác định mangan dạng tự do và phức yếu trong nước chè 56
3.7. Phân tích mẫu thực tế 56
3.7.1. Địa điểm thời gian lấy mẫu và kí hiệu mẫu 56
3.7.2. Kết quả phân tích hàm lượng mangan tổng số trong chè khô 58
3.7.3. Kết quả Mn tổng chiết trong nước chè bằng chiết điểm mù 59
3.7.4. Kết quả xác định mangan ở dạng liên kết flavonoit bằng chiết điểm mù
60
3.7.5. Xác định mangan dạng tự do và phức yếu trong nước chè bằng phương
pháp chiết điểm mù 61
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 64 4 DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Giá trị điểm mù của một số chất hoạt động bề mặt 24

Bảng 3.1. Khảo sát cường độ dòng đèn đối với Mn 40
Bảng 3.2. Khảo sát chiều cao đèn nguyên tử hóa khi xác định Mn 41
Bảng 3.3. Khảo sát tốc độ dẫn khí axetylen khi xác định Mn 42
Bảng 3.4. Các điều kiện đo phổ hấp thụ của nguyên tử mangan 42
Bảng 3.5: Kết quả ảnh hưởng của pH vào hiệu suất chiết điểm mù 43
Bảng 3.6. Kết quả ảnh hưởng của nồng độ 8-hydroxyquinoline đến hiệu suất chiết
45

Hình 1.8: Tần suất sử dụng các loại chất hoạt động bề mặt trong phương pháp chiết
điểm mù 12 năm qua (từ năm 2000-2012). 24
Hình 1.9: Tần suất sử dụng các loại phối tử hữu cơ trong phương pháp chiết điểm
mù 12 năm qua (từ năm 2000-2012). 26

Hình 2.1. Sơ đồ chiết điểm mù 32
Hình 2.2: Quy trình phân tích hàm lượng Mn tổng số trong chè xanh 37
Hình 2.3: Quy trình phân tích hàm lượng Mn tổng chiết trong nước chè 38
Hình 2.4: Quy trình phân tích hàm lượng Mn ở dạng liên kết flavonoit trong nước
chè 38

Hình 3.1: Đồ thị ảnh hưởng của pH vào hiệu suất chiết điểm mù 43
Hình 3.2: Đồ thị ảnh hưởng của nồng độ 8-hydroxyquinoline vào hiệu suất chiết 45
Hình 3.3: Đồ thị ảnh hưởng của nồng độ Triton X-100 vào hiệu quả chiết 46
Hình 3.4: Đồ thị khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ vào hiệu suất chiết 47
Hình 3.5: Đồ thị ảnh hưởng của thời gian ủ vào hiệu suất chiết 48
Hình 3.6: Đồ thị khảo sát ảnh hưởng của lực ion 49
Hình 3.7: Đồ thị khảo sát ảnh hưởng của thời gian ly tâm 51
Hình 3.8: Đường chuẩn xác định mangan 53
Hình 3. 9. Biểu đồ sự phân bố của mangan tổng trong chè 59
Hình 3. 10. Biểu đồ sự phân bố các dạng của mangan trong chè 62

6 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


Diethyl dithio carbamate
DDTP
:
O-diethyldithiophosphate
E(%)
:
Hiệu suất chiết (%)
F-AAS
:
Phương pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử sử dụng kĩ thuật
ngọn lửa
ICP-AES
:
Phổ phát xạ nguyên tử Plasma cao tần cảm ứng
ICP-MS
:
Phương pháp phân tích phổ khối nguyên tử
NAA
:
Phân tích kích hoạt nơtron
PAN
:
1-(2-pyridylazo)-2-naphthol
PONE-7.5
:
Poly (oxyethylene)nonylphenyl(ether)
SPE
:
Phương pháp chiết pha rắn


tượng sinh học. Nhưng chi phí cho quá trình phân tích khá lớn do đòi hỏi trang

8 thiết bị, hóa chất đắt tiền nên không phải phòng thí nghiệm nào cũng có thể trang
bị được. Thêm vào đó, việc sử dụng các hóa chất độc hại có thể gây ảnh hưởng
đến môi trường. Vấn đề đặt ra trong thực tế thí nghiệm Việt Nam hiện nay là cần
nghiên cứu một phương pháp có thể sử dụng các thiết bị phổ biến hơn, giá thành
hợp lý, hiệu quả chiết cao, thân thiện với môi trường mà vẫn đảm bảo độ chọn
lọc, độ chính xác và tin cậy cao để định dạng mangan. Nhiều năm trước, các ứng
dụng của hệ thống Mixen đã được công nhận và khai thác trong các lĩnh vực khác
nhau của hóa phân tích; chủ yếu là tập trung cải thiện, đổi mới các phương pháp
phân tích đã có; đồng thời, phát triển các phương pháp mới và trong đó có phương
pháp chiết điểm mù (CPE). Với nhiều ưu điểm như: đơn giản, giá rẻ, chất lượng
cao, hiệu quả và ít độc hại so với việc sử dụng dung môi hữu cơ. Cho đến nay, CPE
đã được sử dụng để tách chiết, làm giàu các ion kim loại sau khi hình thành tạo
phức, sau đó phức được xác định bằng các phương pháp phổ. Vì vậy, CPE đang trở
thành một ứng dụng quan trọng và thiết thực trong hóa phân tích.
Do đó, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu xác định
một số dạng mangan trong chè” với các mục tiêu cụ thể như sau:
- Áp dụng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử định lượng
mangan tổng trong mẫu chè khô.
- Nghiên cứu, khảo sát và thiết lập các điều kiện tối ưu để xây dựng
phương pháp định lượng mangan tổng chiết, mangan ở dạng liên kết flavonoit,
mangan dạng tự do và phức yếu trong nước chè bằng phương pháp chiết điểm
mù kết hợp với phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.

9


10 epigallocatechin gallate (EGCG), (-)-epigallocatechin (EGC), (-)-epicatechingallate
(ECG), (-)-epicatechin (EC), (-)-gallocatechin gallate (GCG)…

Các flavonoit còn có tác dụng chống oxi hóa (antioxidant). Đây là một trong
những cơ sở sinh hóa quan trọng nhất để flavonoit thể hiện được hoạt tính sinh học
của chúng. Flavonoit có khả năng kìm hãm các quá trình oxi hóa dây chuyền sinh ra
bởi các gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên, hoạt tính này thể hiện mạnh hay yếu phụ
thuộc vào đặc điểm cấu tạo hóa học của từng chất flavonoit cụ thể.

11 Do bản chất cấu tạo polyphenol nên flavonoit ở trong tế bào thực vật chịu tác
động của các biến đổi oxy hóa – khử, bị oxi hóa từng bước và tồn tại ở các dạng
hidroquinon, semiquinon, quinon. Những flavonoit có các nhóm hydroxy sắp xếp ở
vị trí ortho, para, meta dễ dàng bị oxy hóa dưới tác dụng của enzim
polyphenoloxydaza và peroxydaza theo các phản ứng sau:
O
2
+ flavonoit (khử) flavonoit (dạng bị oxy hóa)
(Hidroquinon) (Semiquinon hoặc Quinon)
H
2
O
2
+ flavonoit (khử) flavonoit (dạng bị oxy hóa)
(Hidroquinon) (Semiquinon hoặc Quinon)

quan đến các bệnh thoái hóa. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra flavonoit có thể giúp
ngăn ngừa sâu răng và giảm bớt sự xuất hiện của bệnh thông thường như cảm cúm.
Lá chè xanh còn có tác dụng chữa bệnh ngoài da như: bị bỏng, bị ong đốt,
bệnh đậu mùa, thuỷ đậu, viêm da.
Ngoài ra, thành phần cafein và một số hợp chất ankaloit khác có trong chè là
những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho tinh thần minh
mẫn, nâng cao khả năng làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng
thẳng.
1.2. Nguyên tố Mangan [7,15]
1.2.1. Vai trò sinh học của mangan
Mn là nguyên tố đóng vai trò thiết yếu trong tất cả các dạng sống. Mn là chất
có tác dụng kích thích của nhiều loại enzym trong cơ thể, có tác dụng đến sự sản
sinh tế bào sinh dục, đến trao đổi chất Ca và P trong cấu tạo xương.
Mn có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể như: tác động đến hô hấp tế bào,
phát triển xương, chuyển hóa gluxit, hoạt động của não, cảm giác cân bằng. Mn có
hàm lượng cao trong ty lạp thể làm chất đồng xúc tác cùng các enzym. Mn tác động
đến sự chuyển hóa tuyến giáp nhờ được hình thành từ một enzym cơ bản. Mn liên
kết với vitamin K tham gia tổng hợp prothrombin ảnh hưởng đến quá trình đông

13 máu. Mn tham gia tổng hợp protein và tương tác với axit nucleic, tham gia tổng hợp
cholesterol. Mn làm giảm glucose huyết nhưng lại tham gia phản ứng tạo ra glucose
từ các phân tử khác. Nếu lượng Mn hấp thu vào cơ thể cao có thể gây độc tới phổi,
hệ thần kinh, thận và tim mạch. Cơ thể người trưởng thành chứa 12-20mg Mn,
nhiều nhất ở gan (chiếm 20%) và tụy. Trong máu hàm lượng Mn là 10mcg/1, tập
trung chủ yếu ở hồng cầu; huyết thanh chỉ chứa 0,6-4mcg/1. Nhu cầu hằng ngày của
cơ thể từ 2-3mg Mn.
Thức ăn cho trẻ em nếu thiếu Mn thì hàm lượng enzym phophotaza trong máu

hợp chát nội phức Mn(PAN)
2
khó tan trong nước. Lắc huyền phù với dung môi hữu
cơ tạo thành dung dịch phức màu đỏ tím

14 Axit benzoinhiđroxamit tạo với Mn(II) trong dung dịch NH
3
một phức màu đỏ
nâu tại 
max
= 500nm (=78000).
Thuốc thử 8-hydroxyquynoline tạo phức với Mn tại pH >8. Khi đó phức tạo
thành có màu vàng rơm
Trong bài này, chúng tôi sử dụng thuốc thử 8-hydroxyquynoline tạo phức với
Mn(II) để xác định Mn tổng chiết trong mẫu chè.
1.3. Các phƣơng pháp xác định Mn
1.3.1. Các phƣơng pháp phân tích tổng Mn
1.3.1.3. Phương pháp cực phổ
Phương pháp cực phổ được Heyvosky phát minh ra năm 1922, được giải
thưởng Nobel năm 1959. Ưu điểm của phương pháp này với thiết bị tương đối đơn
giản mà có thể phân tích nhanh, nhạy, chính xác hàng loạt hợp chất vô cơ và hữu cơ
mà không cần tách chúng ra khỏi hỗn hợp, trong vùng nồng độ 10
-3
đến 10
-6
mol/lít.
[6].

định lượng vết trong khoảng thời gian ngắn, kỹ thuật phân tích đơn giản, tốn ít hóa
chất, máy móc không phức tạp.
Quá trình phân tích theo phương pháp Von –ampe hòa tan gồm 2 bước:
+ Điện phân làm giàu chất phân tích trên bề mặt điện cực làm việc tại một thế
phù hợp.
+ Hòa tan kết tủa làm giàu bằng cách phân cực, ngưỡng cực làm việc, ghi
đường cong hòa tan chiều cao của đường phân cực ghi được trong những điều kiện
thích hợp, tỉ lệ thuận với nồng độ của chất trong dung dịch. Điều kiện đó cho phép
ta định lượng chất phân tích bằng phương pháp đường chuẩn hoặc phương pháp
thêm. Tuy nhiên, phương pháp này còn có nhược điểm là độ nhạy bị hạn chế bởi
dòng dư, nhiều yếu tố ảnh hưởng như : Điện cực chỉ thị, chất nền…
1.3.1.5. Phương pháp trắc quang
Phương pháp trắc
quang
xác định mangan dựa trên việc đo mật độ quang của
dung
dịch chứa ion

MnO
4
-
các axit pyrophotphat manganit hoặc phức chất của
mangan với thuốc thử hữu cơ. Để oxi hóa Mn(II) lên
peiodat và pesunfat. Phản
ứng oxi hóa:
2Mn
2+
+ 5IO
4
-

4
-
tỉ lệ với nồng độ Mn(II). Phổ hấp thụ
của dung dịch MnO
4
-
có hai cực đại ở

= 525nm ( = 2230) và


= 545nm
( = 2420).

Phương pháp phân tích trắc quang tuy kỹ thuật và phương tiện máy
móc đơn
giản, độ lặp lại của phép đo cao nhưng độ nhạy và độ chính xác
không
cao lắm.

16 Có thể xác định Mn ở dạng Mn(II) và dạng Mn(VII). Sự oxi hóa các hợp
chất của Mn thành MnO
4
-
bằng các thuốc thử như bismutat, periodat, persunfat và
đo độ hấp thụ của MnO
4

-
bằng cách kết tủa với AgNO
3

hoặc bay hơi với H
2
SO
4
đặc. Loại trừ ảnh hưởng của Fe
3+
bằng cách tạo phức với
H
3
PO
4
và dung dịch đo quang được tiến hành hai lần để loại trừ ảnh hưởng của
những ion màu khác [5]. Phương pháp này thích hợp phân tích Mn ở hàm lượng
mg/l.
1.3.1.7. Phương pháp phổ hấp thụ

nguyên tử
Cơ sở lý thuyết của phép đo AAS là sự hấp thụ năng lượng (bức xạ đơn sắc)
của nguyên tử tự do ở trạng thái hơi khi chiếu chùm tia bức xạ của nguyên tố
ấy trong môi trường hấp thụ. Tùy thuộc vào kỹ thuật nguyên tử hóa người ta phân
biệt phép đo AAS có độ nhạy 0,1 mg/l và phép đo ETA – AAS có độ nhạy cao hơn
kỹ thuật không ngọn lửa 50 đến 1000 lần (0,1-1 ppb). [9]
Thực tế cho thấy phép đo phổ hấp thụ nguyên tử có nhiều ưu việt: Độ nhạy,
độ chọn lọc cao, độ chính xác cao, tốn ít mẫu, tốc độ phân tích nhanh. Gần 60
nguyên tố hóa học có thể được xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 10
-4

: Cường độ vạch phổ hấp thụ
k: hằng số thực nghiệm
l: chiều dài
C: nồng độ nguyên tố cần xác định
- Thu và ghi lại kết quả đo cường độ vạch phổ hấp thụ.
Hệ thống trang bị của phép đo AAS
Theo nguyên tắc của phép đo phổ AAS, hệ thống trang thiết bị của máy đo
phổ hấp thụ nguyên tử được mô tả như sau:
1. Nguồn phát chùm bức xạ đơn sắc của nguyên tố cần phân tích
- Đèn catot rỗng (Hollow Cathode Lamp – HCL).
- Đèn phóng điện không điện cực (Electrodeless Discharge Lamp – EDL).
- Đèn phát phổ liên tục đã biến điệu (Deuterium Hollow Cathode Lamp –
D2).

18 Hình 1.1: Đèn catot rỗng – HCL

Hình 1.2: Đèn D2

Hình 1.3: Đèn EDL
2. Hệ thống nguyên tử hoá mẫu phân tích. Hệ thống này được chế tạo theo
hai kỹ thuật nguyên tử hoá mẫu:
- Kỹ thuật nguyên tử hoá bằng ngọn lửa (F – AAS): Theo kỹ thuật này người
ta dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu
phân tích. Vì thế mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào
các đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí, nhưng chủ yếu là nhiệt độ của ngọn
lửa. Đó là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, và mọi yếu tố
ảnh hưởng đến nhiệt độ của ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phép
Hình 1.5: Hệ thống máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AA - 6300
Gần đây, Đỗ Thị Nga đã xác định kẽm và mangan trong chè xanh bằng cách
sử dụng HNO
3
, thêm HNO
3
, H
2
O
2
để phá mẫu, định mức dung dịch mẫu sau đó
đem đo độ hấp thụ quang bằng phương pháp FAAS và xác định hàm lượng mangan
trong mẫu chè xanh đều nhỏ hơn so với mẫu chè an toàn với hàm lượng là 26,2225
mg/kg, nhưng ở địa điểm Hồng Tiến, Minh Lập có hàm lượng mangan trong chè
lớn hơn mẫu chè an toàn là 1,1 và 1,06 lần. [12]
Paulo R.M. Correia, Elisabeth de Oliveira, Pedro V.Oliveira đã xác định Mn
và Se trong huyết thanh bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử. Phương pháp đạt
được giới hạn xác định là 6.5pg đối với Mn và 50pg đối với Se. [27].+
Để xác định Mn trong các mẫu máu, huyết thanh hay chè, thực phẩm bằng
phương pháp AAS, đều phải xử lý mẫu bằng các phương pháp khác nhau, chiết
bằng dung môi.
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp F-AAS để thể xác
định được hàm lượng mangan trong các mẫu chè khác nhau.
1.3.2. Các phƣơng pháp phân tích định dạng Mn
Các dạng khác nhau của Mn trong nước chè có các tính chất hóa lý khác nhau.
Ví dụ dạng liên kết Mn(II)-flavonoit tan trong dung môi hữu cơ nhưng không tan
trong nước. Chính sự khác nhau về tính chất hóa lý dùng để phân tích các dạng khác
nhau của Mn trong chè.

Khi cho hỗn hợp chất tan có kích thước phân tử khác nhau vào cột tách, các
phân tử có kích thước nhỏ sẽ đi sâu được vào mạng lưới của chất nhồi, còn các phân
tử có kích thước lớn hơn sẽ chỉ thâm nhập ở mức độ nhất định, các phân tử có khối

22 lượng rất lớn sẽ không đi vào các mao quản được. Trong quá trình rửa giải, các chất
càng thâm nhập sâu vào pha tĩnh, càng mất nhiều thời gian để trở lại pha động, sẽ di
chuyển càng chậm. Kết quả các phân tử có kích thước nhỏ nhất sẽ ra sau cùng. [13]
1.3.2.3. Chiết pha rắn
Chiết pha rắn (SPE) là quá trình phân bố chất tan giữa hai pha lỏng-rắn. Pha
rắn có thể là các hạt silicagel xốp, các polime hữu cơ hoặc các loại nhựa trao đổi
ion hay than hoạt tính. Quá trình chiết có thể thực hiện ở điều kiện tĩnh hay điều
kiện động. Các chất bị giữ lại trên pha rắn có thể được tách ra bằng cách rửa giải
với dung môi thích hợp. Thông thường thể tích cần thiết để rửa giải hoàn toàn chất
phân tích luôn nhỏ hơn rất nhiều so với thể tích của dung dịch mẫu ban đầu, vì thế
mà mẫu được làm giàu. [10]
Chiết pha rắn là phương pháp làm giàu hiệu quả cao, chi phí thấp có thể xác
định lượng vết mangan và các kim loại khác. Phương pháp này cho giới hạn phát
hiện thấp cỡ mg/l. Tuy nhiên, phương pháp này có sử dụng những dung môi gây
độc hại với môi trường.
Erdal Kendu¨ zler , A. Rehber Tu¨ rker ,, O¨ zcan Yalc¸ınkaya đã dùng
phương pháp chiết pha rắn kết hợp phương pháp FAAS để xác định mangan trong
nước máy, nước uống, nước đã được xử lý và các mẫu chè thương mại. Tác giả sử
dụng nhựa trao đổi cation Amberlyst 36, rửa giải bằng 3 mol/lít HNO
3
sau đó xác
định bằng phương pháp FAAS. Kết quả thu được độ lệch chuẩn 3%, độ thu hồi
cao >95% và hệ số làm giàu cao bằng 200, giới hạn phát hiện thấp 0,245g/l.[21]

một chuỗi hydrocacbon thẳng hoặc phân nhánh với số lượng các nguyên tử cacbon
khác nhau và có thể chứa vòng thơm, trong khi đó đầu phân cực là nhóm ion hoặc
nhóm phân cực mạnh. Trong dung dịch, các chất hoạt động bề mặt kết tụ với nhau
tạo đám gọi là mixen. Nồng độ của chất hoạt động bề mặt cần thiết cho hiện tượng
này xảy ra được gọi là nồng độ mixen tới hạn (CMC). Dựa trên sự thay đổi thích
hợp các điều kiện như nhiệt độ, nồng độ chất điện ly… các hạt mixen bị dehydrat
và kết tụ ở một nhiệt độ được gọi là điểm mù (CP) . Sau khi quay ly tâm, sự tách
pha của các mixen đẳng hướng chia thành hai pha: pha thể tích nhỏ “ pha giàu chất
hoạt động bề mặt” được tách ra khỏi nước với số lượng lớn và “pha nước” trong đó
tồn tại các chất hoạt động bề mặt ở nồng độ gần đến CMC.
Dưới đây là bảng giá trị điểm mù của một số chất hoạt động bề mặt

24 Bảng 1.1. Giá trị điểm mù của một số chất hoạt động bề mặt
Chất hoạt động bề mặt
Nồng độ (%)
Nhiệt độ điểm

Poly oxyethylenenonylphenylethe (PONE-7.5)
0,12
1
Poly oxyethylenenonylphenylethe (PONE-7.5)
5
6
Poly oxyethylenenonylphenylethe (PONE-7.5)
20
25
PONE-7.5 trong KSCN-1M

1
57,7
C14E7 ( E = oxyethylene)
5
58,6

Hình 1.8 chỉ ra tần suất sử dụng các loại chất hoạt động bề mặt trong phương
pháp chiết điểm mù trong 12 năm qua ( từ năm 2000-2012) [23]

Hình 1.6: Tần suất sử dụng các loại chất hoạt động bề mặt trong phƣơng
pháp chiết điểm mù 12 năm qua (từ năm 2000-2012).

25 Kỹ thuật chiết điểm mù (CPE) là kỹ thuật đơn giản, nhanh, rẻ tiền, hiệu quả
cao, ít độc hại so với các quy trình chiết khác sử dụng dung môi
Đặc điểm của phƣơng pháp chiết điểm mù [25, 22]
Việc sử dụng hệ mixen trong chiết điểm mù có đặc tính sau:
- Khả năng làm giàu chất phân tích cao. Hiệu suất thu hồi và hệ số làm giàu
cao nhờ thu chất phân tích vào thể tích chất hoạt động bề mặt từ 0,2-0,4ml.
- Khả năng tách pha phụ thuộc vào bản chất của chất phân tích ở điều kiện
nghiên cứu. Yếu tố làm giàu có thể thay đổi bằng cách thay đổi lượng chất hoạt
động bề mặt tức thay đổi thể tích pha làm giàu. Điều này cho phép phác họa sơ đồ
phân tích với các yếu tố tách phù hợp, phù hợp lượng chất phân tích cần xác
định,thể tích mẫu và kỹ thuật sử dụng.
- Chất hoạt động bề mặt sử dụng không độc hại, dễ phân hủy so với dung môi
hữu cơ, sử dụng hệ chiết lỏng-lỏng, ngoài ra lượng chất hoạt động bề mặt sử dụng ít
vài mg, giá thành rẻ.
- Pha làm giàu chất hoạt động bề mặt thích hợp trong kỹ thuật phân tích dòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status