Báo cáo Tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng 05 tại trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 28

1

TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG CHO ĐỐI TƯỢNG 05 TẠI TRUNG
TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, các hoạt động hỗ trợ đã
phần nào giúp các đối tượng 05 (gái mại dâm) ổn định cuộc sống, phục hồi nhân
cách; tuy nhiên, công tác tái hòa nhập cộng đồng sau khi các đối tượng này trở về
địa phương chưa đạt hiệu quả bởi các nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Do tính cấp bách của vấn đề này, các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn
thể ở các địa phương cũng cần tích cực tham gia một cách đồng đều vào quá trình
tái hòa nhập cộng đồng đối với đối tượng 05 để góp phần giúp các đối tượng này
hoàn lương, nhằm thực hiện chương trình phòng chống, đẩy lùi tệ nạn mại dâm.
Giải quyết tốt công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với đối tượng 05 ở
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế, một mặt tạo điều kiện giúp các đối
tượng này nhanh chóng hoàn lương, ổn định cuộc sống lâu dài; mặt khác góp phần
hạn chế sự tái phạm trở lại, vì vậy nó cũng góp phần kìm hãm sự gia tăng của tệ
nạn mại dâm trong thời gian tới. Bản thân các đối tượng 05 khi trở về với tư cách
là thành viên của cộng đồng, họ được khôi phục các quyền và nghĩa vụ công dân,
họ rất cần sự giúp đỡ của gia đình, người thân và xã hội cho họ có cơ hội làm lại
cuộc đời.
1. Công tác tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng 05 tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế
Cuộc sống của đối tượng 05 ở Trung tâm Bảo trợ xã hội (TTBTXH) tỉnh
Thừa Thiên Huế được đáp ứng tương đối đầy đủ những nhu cầu cơ bản về vật
chất. Họ được sống những ngày tháng bình yên không phải mang nỗi lo cơm áo
gạo tiền, không phải sống trong sự thấp thỏm lo âu bị bắt giữ, không phải trốn
tránh người khác. Họ được chữa bệnh, được học nghề, được chia sẻ hoàn cảnh của
mình với các đối tượng cùng chung cảnh ngộ tất cả những điều đó là nền tảng
quan trọng để đối tượng 05 chuẩn bị cho một cuộc sống tốt đẹp và hữu ích hơn sau
này. Tuy nhiên, do nguồn tài chính hạn hẹp, cũng như năng lực thực tế của trung
tâm còn nhiều hạn chế, nên việc định hướng nghề nghiệp và đào tạo nghề cho đối

Chị vào trung tâm lần này là lần thứ ba, ba lần vào đây cách nhau tương đối lâu
3

(khoảng 6-7 năm). Hiện nay chồng chị có biết chị làm nghề này và đang phải giáo
dưỡng ở đây, thỉnh thoảng anh ấy cũng có lên thăm. Lúc đầu khi biết tin chị làm
nghề này, chồng chị phản ứng rất gay gắt, đòi bỏ nhau; nhưng chị giải thích là do
chị thấy anh ốm đau, bệnh tật không làm gì được nên mới tiếp tục dấn thân vào
con đường này để kiếm tiền nuôi con và chữa trị cho chồng, rồi chồng chị cũng
thông cảm. Biết là cái nghề bị mọi người lên án nhưng chị không thể làm gì để có
tiền lo cho gia đình.
PV sâu Trần Thị H, 40 tuổi.
Đối với những đối tượng bị đưa vào trung tâm lần thứ hai, tâm lý và tư
tưởng của họ dường như không còn muốn cố gắng để tái hòa nhập nữa, bởi vì lý
do này hay lý do khác, họ đã không thể trở về với cuộc sống bình thường như
những người khác. Có người thì do thói quen ăn chơi, lười lao động, có người bị
gia đình, cộng đồng cô lập, phê phán Tâm lý chung của họ là xác định vào trung
tâm giáo dưỡng theo thời gian quy định rồi lại tiếp tục con đường cũ vì thực sự họ
không còn con đường nào để lựa chọn.
Bây giờ chúng tôi muốn ra ngoài để kiếm sống như những người khác,
nhưng nợ nần cũ không biết lấy đâu mà trả. Cuộc sống bản thân không lo nổi, thì
làm sao mà trả nợ được. Nếu ai trả nợ giúp chúng tôi, hoặc cho chúng tôi vay vốn
để trả nợ may ra chúng tôi mới yên tâm làm ăn, chứ không chỉ biết quay về làm
nghề cũ mới hy vọng trả nợ được thôi. Khổ một nỗi chúng tôi không có giấy tờ tùy
thân, nên chẳng ai cho vay vốn cả.
Chị Tr - Thảo luận nhóm.
Đối tượng 05 tại TTBTXH tỉnh Thừa Thiên Huế vốn có xuất thân từ nhiều
địa phương khác nhau, từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế; tuy nhiên đa
phần vẫn là người địa phương. Vì vậy, những vấn đề cần giải quyết cho việc tái
hòa nhập cộng đồng của các đối tượng này xuất phát không chỉ từ bản thân họ, mà
còn từ gia đình, địa phương nơi họ cư trú. Hầu hết họ không có giấy tờ tùy thân,

Từ thực tế hoạt động của trung tâm trong thời gian qua cho thấy, công tác
tái hòa nhập cho đối tượng 05 chưa được quan tâm, chú trọng thực sự. Mặc dù
5

khâu tiếp nhận cho đến việc phân loại và quản lý đối tượng được tiến hành một
cách khoa học, hợp lý, giúp cho quá trình giáo dục, đào tạo và phục hồi nhân phẩm
cho đối tượng diễn ra dễ dàng và thuận lợi; các vấn đề về cải thiện và nâng cao đời
sống cho đối tượng được lưu tâm, đảm bảo các điều kiện vệ sinh, sinh hoạt và an
toàn thực phẩm phòng chống cháy nổ, tai nạn bất ngờ, tai nạn lao động Tuy
nhiên, việc tổ chức các lớp dạy nghề cho đối tượng và trang bị kiến thức văn hóa
để chuẩn bị cho công tác tái hòa nhập cộng đồng còn nhiều hạn chế.
Công tác khám chữa bệnh cho đối tượng đã được trung tâm triển khai song
quá trình thực hiện còn nhiều bất cập, công tác tư vấn và trị liệu tâm lý cho đối
tượng chưa được chú trọng, do đó hiệu quả chữa trị chưa cao. Nhiều đối tượng trải
qua quá trình điều trị đến thời điểm được trở về gia đình vẫn chưa khỏi bệnh. Tâm
lý mặc cảm tự ti lại được nhân lên nhiều lần khi đối tượng phải sống chung với các
bệnh tật đó. Điều này rất dễ dẫn đến thái độ buông xuôi và lối sống bất cần. Đây là
một nguy cơ tiềm ẩn việc lây lan nhanh bệnh tật ra ngoài cộng đồng.
Công tác dạy nghề có tổ chức nhưng hiệu quả chưa cao, đối tượng học xong
sau khi tái hòa nhập cộng đồng cơ bản không có điều kiện nâng cao tay nghề,
những nghề được sử dụng nhiều chỉ là những nghề cần lao động phổ thông, đơn
giản. Về cơ bản, các nghề được đào tạo ở trung tâm còn đơn điệu, thu nhập quá ít
ỏi nên thường không có tương lai. Những nghề họ ưa thích và mong muốn được
học thì vượt khỏi khả năng của trung tâm. Nghề nghiệp họ được đào tạo không
đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, vì vậy, rất khó khăn để họ có thể tự
kiếm sống bằng nghề được đào tạo tại trung tâm. Đó là chưa kể chất lượng đào tạo
và chất lượng tay nghề của các đối tượng này dường như quá thấp. Học một nghề
trong quảng thời gian ngắn ngủi, với điều kiện phương tiện và cơ sở vật chất hỗ
trợ còn thiếu thốn thì khó có thể đảm bảo tay nghề của họ có thể đáp ứng được nhu
cầu của các nhà tuyển dụng, các cơ sở kinh doanh, sản xuất.

thực sự phải đương đầu với rất nhiều khó khăn.
Những khó khăn xuất phát từ chính bản thân các đối tượng 05 không hề
nhỏ. Một mặt, các đối tượng này có nhận thức về đặc điểm nhân thân, đặc điểm
tâm lý của người vừa cải tạo về là thái độ tự ty, mặc cảm, e dè ngại tiếp xúc với
7

cộng đồng. Mặt khác, do trình độ học vấn thấp, trình độ nhận thức hạn chế nên
bản thân các đối tượng này chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về việc tái hòa
nhập với cộng đồng đang sinh sống, đồng nghĩa với điều đó là họ không chấp nhận
những chuẩn mực chung, những giá trị đạo đức của xã hội, có thái độ bất cần và
xem thường những chuẩn mực đó.
Ra khỏi trung tâm, tưởng chừng họ được trở về với cuộc sống tự do rộng
mở là điều hạnh phúc, nhưng thực sự hạnh phúc ấy nhanh chóng bị lấn át bởi biết
bao nhiêu áp lực, mà áp lực trước tiên là phải làm sao để tồn tại được. Thời gian
sống tại trung tâm, các đối tượng 05 dường như cắt đứt mọi mối liên lạc với thế
giới bên ngoài. Một vài đối tượng có gia đình, thỉnh thoảng người nhà lên thăm,
tuy nhiên, lúc họ trở về đâu dễ để được đón nhận. Quá khứ hành nghề mại dâm
của các đối tượng này khiến cho danh dự gia đình bị hoen ố, vì vậy, rất khó để họ
có được sự cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ. Những người không có gia đình mọi
chuyện còn bế tắc hơn, vì họ không biết đi đâu về đâu. Trong số 15 đối tượng tại
trung tâm, có tới 9 đối tượng sống độc thân, không có nhà và cũng không có người
quen. Họ không biết đi đâu về đâu với hai bàn tay trắng. Ngoài tiền tàu xe, họ
không nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ phía trung tâm cũng như chính quyền địa
phương.
Mặt khác, thời gian sống trong trung tâm, công việc chủ yếu của các đối
tượng này là thêu nón, vì vậy, nghề duy nhất họ có thể làm tốt là thêu nón. Tuy
nhiên, các đối tượng 05 rất khó để tiếp tục công việc này khi trở về cộng đồng,
một mặt vì thu nhập quá thấp, mặt khác số lượng đối tượng quá ít nên không thể
thành lập cơ sở thêu, tìm việc tại những cơ sở tư nhân thì họ không được chấp
nhận. Hầu hết các đối tượng 05 đều cho rằng nghề thêu nón thực sự không phải là

Sự lên án của xã hội với những người đã lựa chọn nghề nghiệp đi ngược lại với giá
trị chung của xã hội là điều rất dễ hiểu. Xã hội truyền thống Việt Nam không thể
chấp nhận những hành vi hoang dâm, trái với luân thường đạo lý và đi ngược với
thuần phong mỹ tục của dân tộc. Những cái tên đầy cay nghiệt như “con đĩ”, “gái
điếm”, “gái bán hoa” chính là sự bày tỏ rõ ràng nhất thái độ khinh thường của xã
hội dành cho họ. Điều này lại càng khắc nghiệt và nặng nề trong bối cảnh con
9

người và môi trường ở Huế - mảnh đất cố đô với sự tồn tại hàng trăm năm của chế
độ phong kiến, tư tưởng nho giáo ăn sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây cho
nên để thay đổi cách nhìn của họ đối với đối tượng đã từng hành nghề mại dâm
không phải là việc dễ dàng.
Những đặc điểm trên đã phản ánh khó khăn rõ ràng nhất và cũng rất khó
vượt qua khi đối tượng 05 tái hòa nhập cộng đồng. Những khó khăn về vật chất họ
có thể cố gắng và nỗ lực để vượt qua, nhưng những khó khăn đến từ thái độ của
gia đình, cộng đồng, xã hội là những khó khăn vô hình và cũng vô cùng khó để
vượt qua. Trong khi đó, bản chất con người ai cũng muốn được tôn trọng, chạm
đến lòng tự trọng là chạm đến điều sâu xa và đau nhất của con người, cho dù quá
khứ, cho dù con đường họ đã đi vướng bận nhiều lỗi lầm. Vì vậy, sự xa lánh, ghẻ
lạnh của người thân, cộng đồng, xã hội là một trong những yếu tố cản trở nhiều
nhất đến quá trình tái hòa nhập cộng đồng của đối tượng.
Một số đối tượng 05 tại TTBTXH tỉnh Thừa Thiên Huế có người thân, còn
phần lớn là vô gia cư. Những người có gia đình chưa hẳn đã bớt khó khăn hơn
những người khác khi họ tái hóa nhập cộng đồng. Bởi vì, về cơ bản không gia đình
nào muốn có con em mình làm nghề nghiệp bất chính, vì vậy, rất khó để họ cảm
thông, chia sẻ. Mặt khác, hầu hết các gia đình này đều trong hoàn cảnh nghèo khó,
khổ cực, nếu họ có muốn giúp đỡ các đối tượng này cũng không biết trông cậy vào
đâu.
Có một sự thật là có những gia đình, chính bản thân người chồng ép vợ
mình đi làm nghề bán dâm để lo gánh nặng cơm áo của gia đình, hoặc để thỏa mãn

mưu nhạy bén, kịp thời của cơ quan thường trực chuyên trách.
- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho
đối tượng 05 để họ thay đổi suy nghĩ, hành vi của mình theo hướng tích cực, thoát
khỏi sự hấp dẫn của việc kiếm tiền dễ dàng bằng hành vi đồi trụy để biết trân trọng
và quý giá hơn giá trị của đồng tiền chân chính. Mặt khác, trang bị cho họ những
kỹ năng sống để đối phó với những phản ứng không tích cực từ phía xã hội (phản
ứng không tích cực ấy bao gồm cả sự rủ rê, lối kéo thực hiện hành vi đi ngược giá
11
trị đạo đức xã hội và pháp luật của nhà nước của những người xấu; cả sự kỳ thị, sự
phân biệt đối xử của cộng đồng khi họ trở về từ lầm lỗi).
- Công tác tuyên truyền giáo dục cũng tập trung vào việc thay đổi suy nghĩ,
thái độ của cộng đồng dân cư trong ứng xử với đối tượng 05 khi họ đã hoàn lương.
Tuyên truyền giáo dục để giúp người dân trong cộng đồng có cái nhìn đúng đắn,
cảm thông và chia sẻ với những hoàn cảnh éo le và sẵn sàng bao dung với những
lầm lỗi của họ. Qua đó, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, góp sức của toàn xã hội để
giúp đỡ các đối tượng này tái hòa nhập cộng đồng thành công, từ đó góp phần thực
hiện thành công công tác phòng chống tệ nạn xã hội.
- Nhằm nâng cao và duy trì kết quả của công tác chữa bệnh và rèn luyện
cho đối tượng 05, TTBTXH cần chủ động tổ chức kết nối với các đầu mối liên kết
trách nhiệm giữa gia đình học viên, chính quyền và các tổ chức xã hội địa phương.
Các mối liên kết này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể như: dạy nghề, tạo
việc làm tại chỗ và việc làm sau hòa nhập, cải thiện môi trường của gia đình học
viên, giao lưu thăm hỏi, chia sẻ động viên
- Trung tâm cũng nên tổ chức các đợt vãng gia tại gia đình của các học viên
ở các địa phương khác nhau, qua các đợt vãng gia này, mối quan hệ phối hợp giữa
gia đình và trung tâm đã được thiết lập và củng cố. Qua đó Trung tâm cũng nắm
chắc hơn về các vấn đề của học viên, gia đình học viên cũng được tư vấn kỹ hơn
kỹ năng quản lý, hỗ trợ học viên sau hòa nhập. Cũng nhằm chuẩn bị điều kiện tốt
nhất cho học viên khi hội nhập, hàng quý, trung tâm thường xuyên tổ chức các kỳ
họp mặt kết hợp sinh hoạt chuyên đề đối với thân nhân học viên. Tại đây, cán bộ

phương cũng có một phần trách nhiệm trong việc quản lý cư trú đối tượng tại địa
phương.
- Tùy theo điều kiện thực tế của địa phương có thể thành lập và phát triển
mạng lưới “tình nguyện viên giáo dục” để đẩy mạnh công tác tái hòa nhập cho đối
tượng 05. Tình nguyện viên giáo dục là những đối tượng gái mại dâm đã hoàn
lương, có đủ tiêu chuẩn và tình nguyện thực hiện nhiệm vụ được quy định tại văn
bản hướng dẫn của trung tâm, có nhiệm vụ tham gia truyền tải những thông tin,
13
nội dung liên quan đến quá trình cải tạo, làm cầu nối giữa học viên với cán bộ
quản lý, lấy tấm gương bản thân để các đối tượng khác noi theo.
- Gắn công tác tái hòa nhập cộng đồng với công tác phòng chống tệ nạn mại
dâm và phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Một trong những yếu
tố khiến đối tượng 05 khó bỏ được con đường cũ là do trong cộng đồng họ sống, tệ
nạn mại dâm vẫn còn tồn tại. Phải ngăn ngừa được tệ nạn mại dâm tại cộng đồng
mới có thể khiến các đối tượng 05 không còn môi trường thuận tiện để trở về con
đường cũ.
- TTBTXH cần đặc biệt chú trọng tổ chức hoạt động dạy nghề, tư vấn
hướng nghiệp cho học viên. Căn cứ kết quả khảo sát cụ thể, Trung tâm tổ chức
nhiều hoạt động củng cố nghề nghiệp, khuyến khích học viên tích cực tham gia
học nghề: làm vườn, đan lát, thêu len, các nghề thủ công mỹ nghệ… nhằm giáo
dục học viên về ý thức và thói quen lao động, biết quý trọng giá trị lao động.
Trung tâm tổ chức cho học viên đều được tham gia thường xuyên các loại hình lao
động, tạo việc làm tại chỗ để nâng cao tay nghề, thu nhập từ công tham gia lao
động phải được chi trả sòng phẳng cho học viên.
- Từ những tồn tại và hạn chế nêu trên, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải
có một nhân viên Công tác xã hội trong biên chế của trung tâm để hỗ trợ, giúp đỡ
công tác tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng 05 đạt hiệu quả như mong đợi. Vai
trò của nhân viên CTXH với đối tượng 05 ở trung tâm là hết sức quan trọng.
Kết quả điều trị, chữa bệnh, giáo dục, phục hồi tại trung tâm sẽ hoàn toàn
không có ý nghĩa gì nếu không có sự hỗ trợ của tất cả chúng ta sau khi đối tượng

từ năm 2005-2010.
7. Các báo cáo của TTBTXH tỉnh Thừa Thiên Huế từ 2005-2010.
8. Tổng cục cảnh sát nhân dân, Kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới các chính sách
xã hội nhằm khắc phục tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường”, 1992.
9. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, “Cứu trợ xã hội và viện trợ nhân
đạo trong cơ chế thị trường”, Hà Nội, 9-2002.
15
10. Nguyễn Ngọc Lâm, “Sách bỏ túi dành cho nhân viên xã hội”, NXB Đại
học Mở - Bán công TP HCM”, 2001.
11. Đặng Thị Minh, “Công tác xã hội với đối tượng 05 tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân CTXH khóa 30,
Huế, 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status