Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh dại của những đối tượng đến tiêm chủng vắc xin phòng bệnh dại tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 - Pdf 25

B GIO DC V O TO
I HC HU
TRNG I HC Y DC TRN TH ANH
Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành
phòng chống bệnh dại của những đối t-ợng
đến tiêm chủng vắc xin phòng bệnh dại tại
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013

LUN VN THC S Y HC

MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số khái niệm về bệnh dại 3
1.2. Dịch tễ học bệnh dại 6
1.3. Một số khái niệm về vắc xin phòng bệnh dại 10
1.4. Một số đặc điểm về trung tâm y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế 14
1.5. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước 15

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 18
2.2. Phương pháp nghiên cứu 18
2.3. Nội dung nghiên cứu 19
2.4. Định nghĩa các biến nghiên cứu 19
2.5. Đánh giá KAP về phòng chống dại 21
2.6. Tổ chức thực hiện nghiên cứu 23
2.7.Thu thập thông tin 23
2.8. Xử lý số liệu 24
2.9. Kỹ thuật hạn chế các sai số 24
2.10. Đạo đức nghiên cứu 24

xảy ra ở nông thôn khu vực châu Phi và châu Á đặc biệt ở số người trẻ tuổi. Riêng ở
Ấn Độ có tới 20.000 người chết (khoảng 2/100.000 dân số có nguy cơ) xảy ra hàng
năm, ở châu Phi con số tương ứng là 24.000 (khoảng 4/100.000 dân số có nguy cơ).
Ở các nước công nghiệp và hầu hết các khu vực đô thị ở Châu Mỹ La tinh, bệnh dại
ở người gần như được loại bỏ nhờ sự tiêm chủng cho chó nhà và thực hiện các biện
pháp kiểm soát khác. Tại các nước châu Á như Thái Lan, việc tiêm phòng đại trà
cho chó và phổ biến rộng rãi tiêm chủng cho người sau khi tiếp xúc phơi nhiễm đã
làm giảm đáng kể số lượng người chết vì bệnh dại.[3]
Theo các nhà sản xuất vắc xin phòng bệnh dại, trên toàn thế giới có trên 15
triệu người được dự phòng bệnh dại hàng năm, phần lớn trong số đó sống tại Trung
Quốc và Ấn Độ. Người ta ước tính rằng trong trường hợp không có dự phòng sau
phơi nhiễm thì khoảng 327 000 người sẽ chết vì bệnh dại ở châu Phi và châu Á mỗi
năm.[4]
Hơn bốn thập kỷ trước, việc ra đời và sử dụng vắc xin dự phòng dại đã được
chứng minh là an toàn và hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh dại cho hàng triệu
người trên toàn thế giới. Tại một số nước, chủ yếu là ở châu Á và Châu Mỹ La
Tinh, số dân có nguy cơ cao mắc bệnh dại vẫn còn phụ thuộc vào loại vắc xin
phòng dại có nguồn gốc từ mô thần kinh động vật cho dự phòng sau phơi nhiễm.
Vắc xin mô thần kinh gây ra phản ứng bất lợi nghiêm trọng và ít miễn dịch, do đó
quá trình sản xuất và sử dụng không được khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới. Và
sự ra đời của vắc xin phòng bệnh dại dựa trên tế bào phôi gà và tế bào Vero đã
mang lại kết quả an toàn và hiệu quả so với vắc xin tế bào lưỡng bội của con người
và ít tốn kém hơn các loại vắc xin trước. Tuy nhiên vì vấn đề đạo đức nên vắc xin
dại chưa bao giờ được thử nghiệm trên người. Và Tổ chức Y tế thế giới cũng
2

khuyến cáo chỉ nên sử dụng vắc xin phòng dại khi thật sự cần thiết vì các phản ứng
bất lợi của vắc xin cũng như giá thành của vắc xin còn cao đối với liệu trình 5 mũi
đặc biệt là đối với các nước nghèo. Ở Việt Nam, hàng năm có tới 650.000 người bị
súc vật (chủ yếu là chó nghi dại) cắn phải đi tiêm vắc xin. Số người tử vong vì bệnh

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ BỆNH DẠI
1.1.1. Khái niệm về Bệnh dại
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm chung giữa động
vật và người, gây nên những cái chết với triệu chứng rất thảm khốc. Đặc điểm
của bệnh là virút tác động vào hệ thần kinh gây rối loạn thần kinh trung ương là
não bộ làm cho con vật trở nên hoãng loạn (điên dại) và chết. Nguồn mang bệnh
dại chủ yếu là chó (90%), mèo nuôi (5%) và động vật hoang dã.[5],[7],[12].
1.1.2. Tình hình bệnh dại trên thế giới và tại Việt Nam
1.1.2.1.Tình hình bệnh dại trên thế giới
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới hàng năm có khoảng 60.000 –
70.000 người chết vì bệnh dại, trong đó có hơn 90% số ca tử vong được thông
báo từ các nước đang phát triển ở Châu Phi, Châu Á và vùng Nam Mỹ. Trung
Tâm “Pan American Zoonoses Center” – Argentina đánh giá rằng hàng năm ở
khu vực Châu Mỹ La Tinh, bệnh dại gây thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi
gia súc tới 28 triệu USD/năm.
Tại Châu Âu, bệnh dại chủ yếu xảy ra ở CHLB Đức, Áo, Thụy Sĩ, Pháp,
Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung ga ry. Các quốc gia này mặc dù thường
xuyên thực hiện chương trình giám sát ổ dịch bệnh dại tự nhiên và có biện pháp
dự phòng bằng vắc xin cho động vật hoang dã, cho súc vật nuôi, nhưng hằng
năm vẫn có tới hàng chục nghìn người tới khám và sử dụng 1,2 triệu liều vắc xin
tại trung tâm phòng dại.
Ở Châu Phi và Châu Á, bệnh dại là vấn đề y tế cộng đồng đặc biệt
nghiêm trọng. Chó là nguồn gây bệnh chủ yếu, hàng năm con số người chết vì
bệnh dại là rất cao. Theo các báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về Giám sát
bệnh dại ở Châu Á tổ chức tại Hà Nội tháng 3 năm 2001, cho thấy: tại Ấn Độ
4

Trước thực trạng nghiêm trọng đó, ngày 7 tháng 2 năm 1996 Thủ tướng chính
phủ đã ban hành chỉ thị 92/TTg về việc tăng cường phòng chống bệnh dại. Công
tác phòng chống bệnh dại được quan tâm hơn như:
1. Có sự chỉ đạo của Chính quyền, việc phối kết hợp giữa các ngành có liên quan
đặc biệt ngành Y tế với ngành Thú y được thường xuyên và chặt chẽ hơn cả về
tổ chức và chuyên môn.
2. Tăng cường công tác giám sát và quản lý bệnh, tiêm vắc xin phòng dại cho
đàn chó, nâng cao chất lượng điều trị dự phòng cho người bị súc vật dại và nghi
dại cắn.
3. Đặc biệt công tác tuyên truyền được coi là một trọng tâm, được nâng cao cả về
chất lượng và số lượng nhằm phổ biến cho cộng đồng biết về tác hại của bệnh
dại, các biện pháp phòng ngừa.
Kết quả, số người chết do bệnh dại trong năm 2005 là 86 ca giảm 243 ca
(79,1%) so với năm 1995(410 ca). Tuy nhiên bệnh dại ở nước ta vẫn đang còn là
một vấn đề gây ảnh hưởng lớn đến tính mạng và tiền của của người dân. Để đạt
được mục tiêu khống chế và tiến tới loại trừ các trường hợp bị dại, đến năm 2020
thanh toán cơ bản bệnh dại ở Việt Nam, cần phải nâng cao chất lượng phòng
chống bệnh dại, phải có sự quan tâm đầu tư đúng mức của nhà nước, đồng thời
phải xã hội hoá công tác phòng chống bệnh dại.
1.1.2.3. Một số đặc điểm về bệnh dại
Bệnh dại là bệnh do virus dại (rabies virus) gây nên. Đây là một bệnh
truyền nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương dẫn đến tử vong chắc
chắn. Bệnh dại là một trong những bệnh truyền nhiễm được ghi nhận từ thời cổ
xưa, mô tả từ cách đây hơn 3000 năm và là một bệnh truyền nhiễm đáng sợ.
Bệnh dại có thể gặp ở tất cả động vật có vú. Bệnh lây truyền chủ yếu do các chất
tiết bị nhiễm, thường do vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại.
6



hiện viêm não: thường biểu hiện kích động, mất ngủ, có tăng cảm giác kính thích
(sợ ánh sáng, tiếng động và gió nhẹ). Ngoài ra còn có các rối loạn của hệ thần
kinh thực vật như: giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi và hạ huyết áp.
Khi uống nước các cơ thanh quản, vòm họng co thắt làm bệnh nhân không uống
được. Đôi khi bệnh nhân nam còn có biểu hiện xuất tinh tự nhiên do virus dại
gây tổn thương các nhân dưới vỏ não. Bệnh tiến triển hoặc ở thể liệt, kiểu liệt
hướng thượng (hội chứng Landry) bắt đầu liệt hai chi dưới (liệt mềm), liệt chi
trên, liệt hô hấp và chết. Hoặc là thể điên cuồng, bệnh nhân có những cơn điên
cuồng và co giật. Bệnh thường kéo dài từ 2 đến 6 ngày. Bệnh nhân chết do liệt
cơ hô hấp [1].
Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh dại, đến nay chưa có thuốc đặc hiệu
chữa bệnh dại lên cơn. Do đó tiêm kháng huyết thanh và vắc xin dại là cách duy
nhất cấp cứu có hiệu quả cho người bị súc vật nghi dại cắn.
Bệnh dại phổ biến trên toàn cầu, từ Châu Âu, Châu Á đến Châu Phi, Mỹ
La Tinh trừ một số vùng không có bệnh dại như Vương Quốc Anh, Nhật Bản,
vùng đất Bắc Cực, Úc hay châu Đại Dương là những vùng điạ lý “biệt lập”. Phần
lớn con số tử vong vì bệnh dại hàng năm được báo cáo lên Tổ chức Y tế thế giới
là từ những nước ở vùng nhiệt đới nơi có tới 3/4 dân số toàn thế giới sinh sống.
Ở một số vùng địa lý, bệnh dại tồn tại lưu truyền từ động vật sang động vật
(động vật loài ăn thịt nhỏ, loài gặm nhấm). Theo báo cáo của WHO, trong 86
quốc gia và khu vực có giám sát bệnh dại thì có tới 68 quốc gia có ổ dịch dại tự
nhiên chủ yếu ở loài động vật hoang dã: Chồn (59%), dơi(15%), cầy (15%), cáo
(3%). Bệnh dại có hai hình thái : Bệnh dại ở động vật hoang dã và bệnh dại ở
thành phố lây lan cho người [3].
Năm 2012 Việt Nam ghi nhận 87 trường hợp tử vong xảy ra tại 22 tỉnh,
thành phố. Các trường hợp tử vong do bệnh dại vẫn tập trung chủ yếu tại các tỉnh
miền Bắc chiếm 86,2% số trường hợp tử vong trên cả nước. Các tỉnh có số tử
vong cao như Sơn La (21 trường hợp), Phú Thọ (14 trường hợp), Yên Bái (10
trường hợp), Hà Giang (8 trường hợp), Tuyên Quang (7 trường hợp), Điện Biên


Tình hình tiêm phòng bệnh dại
Trong tháng 6/2013, cả nước đã ghi nhận thêm 29.920 người đến tiêm
phòng tại các điểm tiêm phòng vắc xin phòng bệnh dại trên cả nước, giảm 3% so
với cùng kỳ 2012 (30.743 người). Cộng dồn 6 tháng, có 173.753 người đi tiêm
phòng, giảm 7% so với cùng kỳ 2012 (186.378 người).
Miền Nam là khu vực duy trì số người đi tiêm phòng vắc xin dại cao nhất.
Có sự giảm nhẹ số người đi tiêm phòng dại ở khu vực miền Bắc, miền Trung và
Tây Nguyên. Miền Nam tăng 43,4% so với tháng trước đó. Mọi thông tin về
giám sát, báo cáo ca bệnh, tư vấn phòng, chống bệnh dại trên người và ở động
10

vật xin liên lạc với Chương trình khống chế và loại trừ bệnh dại-Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương.
1.3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ VẮC XIN PHÒNG BỆNH DẠI
1.3.1. Cơ chế phòng bệnh bệnh dại bằng vắc xin
Virus dại nhân lên trong cơ gần nơi chích cho đến khi có đủ nồng độ
nhiễm vào hệ thần kinh trung ương. Kháng thể thụ động có tác dụng trung hòa
bớt virus, làm giảm nồng độ virus . Vắcxin phòng ngừa có tác dụng bảo vệ sau
2-8 tuần .
1.3.2. Các loại vắc xin phòng bệnh dại
Vắc xin dại đầu tiên được nhà bác học vĩ đại người Pháp Louis Pasteur và
các cộng sự nghiên cứu sản xuất cách đây hơn 100 năm. Đến nay đã có rất nhiều
loại vắc xin các thế hệ ra đời, được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới và chứng
tỏ hiệu quả bảo vệ khác nhau.
1.3.2.1.Các vắc xin sản xuất trên mô thần kinh
Các vắc xin loại này được sản xuất từ mô não của các loài động vật như:
thỏ, cừu non, chuột bạch…
Các vắc xin này đã sử dụng trong thời gian dài cũng cho những hiệu quả
bảo vệ nhất định. Tuy nhiên khi sử dụng các vắc xin loại này thường gây những

+ Đối với bệnh nhân sau khi bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc
Chỉ định tiêm: Tất cả mọi người đều tiêm được.
Kỹ thuật và liều lượng: Tiêm bắp vào cơ delta, đối với trẻ quá nhỏ thì
tiêm vào đùi phía trước và ngoài, không nên tiêm vắc xin vào mông.
- Liều tiêm người lớn và trẻ con như nhau, liều tiêm 0,5ml/mũi tiêm, tiêm
5 mũi vào ngày 0, 3, 7, 14, 28 hoặc ngày 30 kể từ mũi tiêm thứ nhất.
- Nếu trong vòng 1 năm, bệnh nhân đã được tiêm ngừa đầy đủ sau khi có
tiếp xúc hay dự phòng trước khi có tiếp xúc, bằng vắc xin dại Verorab theo phác
đồ ngắn thì chỉ cần tiêm 2 mũi vắc xin verorab mỗi mũi 0,5ml tiêm bắp vào ngày
0 và ngày 3 hoặc tiêm trong da 2 mũi 0,1ml vào ngày 0 và 2 mũi 0,1ml vào ngày 3.
Bảo quản vắc xin: 4
0
C - 8
0
C.

12

1.3.3.2. Phác đồ tiêm trong da ( theo TCYTTG)
Đối với bệnh nhân sau khi bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc
Chỉ định tiêm: Tất cả mọi người đều tiêm được.
Kỹ thuật và liều lượng: tiêm trong da vào vùng cơ delta.
- Liều tiêm người lớn và trẻ con như nhau, liều tiêm 0,1ml/mũi tiêm, tiêm
8 mũi: Tiêm 2 mũi vào ngày 0, 3, 7, và 1 mũi vào ngày 28, ngày 90 kể từ mũi
tiêm thứ nhất.
- Khi bệnh nhân được tiêm đúng phác đồ, đúng kỹ thuật, vắc xin được
bảo quản tốt, hiệu lực bảo vệ sẽ được trên 1 năm. Nếu bệnh nhân có tiêm mũi
nhắc lại 1 năm và 5 năm sau mũi tiêm cuối cùng của đợt điều trị dự phòng trên
thì những lần phải điều trị dự phòng tiếp sau đó sẽ chỉ phải tiêm 2 mũi liều 0,1ml
vào ngày 0 và 2 mũi liều 0,1ml vào ngày 7.

liều lượng 0,5ml, 2ml và 5ml, mỗi lần cách nhau 15 phút. Nếu thấy không phản
ứng thì tiêm 0,1ml dung dịch nguyên chất, sau 15 phút không thấy phản ứng thì
tiêm nốt chổ còn lại chia 2-3 lần, mỗi lần nghỉ 10-15 phút. Trong trường hợp cần
thiết có thể dùng thêm thuốc Antihistamine.
Liều lượng
- Tổng liều huyết thanh kháng dại dùng cho một bệnh nhân được tính
theo trọng lượng cơ thể, nhân với 40 đơn vị quốc tế (IU) trên 1 kg trọng lượng
cơ thể.
1.3.4.3. Phản ứng phụ thường gặp
Tại chổ: sau khi tiêm có thể bị tấy đỏ, ngứa.
Toàn thân: trong hoặc sau khi tiêm có thể bị đau đầu, chóng mặt, buồn
nôn hoặc sốc phản vệ.
1.3.4.4. Bảo quản huyết thanh kháng dại
- Luôn bảo quản ở nhiệt độ 4
0
C đến 8
0
C.
1.3.5. Xử lý vết thương
1. Rửa thật kỹ vết thương bằng nước sạch hoặc xà phòng đặc 20%
2. Bôi chất sát khuẩn :cồn .iod đậm đặc
3. Không khâu vết thương
14

4. Gây tê tại chỗ cạnh vết thương (chủ yếu bằng procain) để ngăn cản sự tiến
triển của virus .
Có một số phương pháp dân gian liên quan tới bệnh dại đồng thời có
nhiều ý kiến cho rằng vắc xin phòng dại gây ảnh hưởng không tốt cho não bộ
nhưng chưa được kiểm chứng. Triệu chứng: má có những chỗ bị tím, má chảy
xệ, trán nhô cao

2010 có 77/100.000 dân, năm 2011 có 84/100.000 dân, năm 2012 có 86/100.000
dân). Tỷ lệ nam giới tiêm phòng dại cao hơn nữ giới, trong 3 năm chiếm
54,46%, nữ 45,54% [8].
Hoàng Thị Hằng (2011), Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh dại trên
người tại tỉnh Tuyên Quang 2001 – 2010 kết quả trong 10 năm 2001 - 2010
có tổng số 29.113 bệnh nhân đến tiêm vắc xin phòng dại và huyết thanh
kháng dại, trong đó có 10.317 bệnh nhân dưới 15 tuổi (chiếm 35,4%), từ 15
tuổi trở lên là 18.796 bệnh nhân (chiếm 64,6%) [10].
Nguyễn Trần Hiển (2010) Dịch tễ học phân tử bệnh dại ở Việt Nam,
kết quả Phân bố số BN tiêm vắc xin phòng dại trung bình theo tháng tại các
vùng trên cả nước, 1994-2009 (n=507.566); Số trường hợp tiêm VX phòng dại
tại các khu vực đồng đều qua các tháng, cao nhất vẫn là khu vực miền Nam
28.000 - 30.000 BN tiêm/tháng và thấp nhất là khu vực Tây nguyên 800 - 1000
người/tháng. Khu vực miền Bắc và miền Trung tương đối bằng nhau vào dao
động trong khoảng 5.860 – 7.456 người/tháng. Tất cả các khu vực số trường hợp
đi tiêm đều tăng cao vào khoảng tháng 3 đến tháng 8 và thấp hơn trong khoảng
tháng 9 đến tháng 2 năm sau.
Nguyễn Thanh Hương (2011), Đặc điểm dịch tễ học bệnh dại ở người
tại Việt Nam 2001-2010 với kết quả năm 2010, Việt Nam ghi nhận 228.430
người
điều trị dự phòng VX dại, nam giới là 53%, nữ giới là 47% [16].
Nguyễn Ngọc Quỳnh (2013), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh
dại tại Hà Nội giai đoạn 2006 - 2011 và đánh giá một số yếu tố liên quan với
kết quả Tiền sử bị chó cắn là yếu tố phơi nhiễm chính (71,7%). Có 98 nguời
16

được điều tra KAP, trong đó tỷ lệ người dân biết bệnh dại lây qua việc trực
tiếp giết mổ và chăm sóc con vật ốm là 20,4%, biết đầy đủ cách phòng bệnh
dại là 8,2%, và biết đầy đủ cách xử trí khi bị súc vật cắn là 8,2%[19].
Nguyễn Như Thái (2013), Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh dại


18

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng
- Toàn bộ người dân tới khám, tư vấn và được chỉ định tiêm vắc xin phòng
dại tại Trung tâm Y tế dự phòng Tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian nghiên cứu.
(Đối với trường hợp trẻ em dưới 15 tuổi thì phỏng vấn người giám hộ đi cùng).
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Những trường hợp có tiêm vắc xin phòng bệnh dại không đồng ý tham gia
nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm và thời gian
- Địa điểm : Tại Trung tâm Y tế dự phòng Tỉnh Thừa Thiên Huế
- Thời gian : 01/7/2013 – 30/9/2014
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu : Nghiên cứu mô tả cắt ngang



Z
= 1,96 ; d = 0,05
Áp dụng vào công thức trên ta có n = 385
Vậy cỡ mẫu cần chọn là: 385 (người)
Cỡ mẫu thực tế là: 400 (người)

19

2.2.3. Chọn mẫu
Tiến hành thu thập thông tin ở toàn bộ các đối tượng có tham gia tiêm chủng
vắc xin phòng dại tại Trung tâm Y tế dự phòng trong thời gian nghiên cứu đến khi
đủ cở mẫu điều tra.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1. Đặc điểm của đối tượng đến tiêm chủng vắc xin phòng dại tại
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học
vấn, kinh tế
- Đặc điểm thông tin về vết cắn: loại vật cắn, vị trí vết cắn, số lượng vết cắn, tình
trạng vết cắn.
- Thông tin theo dõi súc vật cắn: Thời gian theo dõi, tiêm phòng súc vật cắn, tình
trạng súc vật lúc cắn, tình trạng súc vật sau thời gian theo dõi.
- Lý do tiêm phòng vắc xin
- Phân loại vắc xin đã được sử dụng: Veorab Pháp; Lysavac.
- Phân nhóm nguyên nhân dẫn đến cần tiêm phòng vắc xin phòng bệnh dại:
2.3.2. Kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống dại của đối tượng
nghiên cứu
Từ thông tin người được phỏng vấn (người giám hộ)
+ Kiến thức về bệnh dại của đối tượng nghiên cứu:

Chỉ định tiêm vắc xin phòng dại của cán bộ y tế.
Tác dụng phụ của vắc xin phòng dại
Giá thành của vắc xin phòng dại
2.4.1. Các thông tin cơ bản quan đến đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: Thông tin đối tượng tiêm chủng (0-15 và >15 tuổi)
Thông tin đối tượng phỏng vấn ( <40 tuổi, ≥ 40 tuổi)
- Nghề nghiệp: 1: Làm nông
2: Công nhân, thợ thủ công
3: Nội trợ gia đình
4: Buôn bán, kinh doanh, công ty
5: Cán bộ
6. Khác
21

- Trình độ học vấn: 1: Mù chữ
2: Biết đọc, biết viết, tiểu học
3: THCS, THPT
4: Đại học, cao đẳng, chuyên nghiệp
- Tình trạng kinh tế: 1. Nghèo
2. Cận nghèo
3. Không nghèo
- Tình trạng sức khỏe khi tham gia tiêm chủng lần đầu: Bình thường; Bị thương;
Khác (sốt, mệt mỏi, đau đầu )
- Địa điểm bị súc vật cắn
- Loại vật cắn: 1.Chó 2.Mèo 3.Chuột 4.Tiếp xúc
- Súc vật cắn người đã tiêm phòng dại: 1. Có 2. Không 3. Không biết
- Tình trạng con vật lúc cắn: 1.Ốm 2.Chạy rông 3.Mất tích 4.Lên cơn dại
5. Bình thường 6. Chết
- Vị trí vết cắn: 1.Đầu mặt cổ 2. Tay 3.Thân 4.Chân 5. Bộ phận sinh dục
- Số lượng vết cắn: Ít/ nhiều (Từ 2 vết cắn trở lên là nhiều)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status