1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN PHƯỚC THU PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
BẢO HIỂM TÀI SẢN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS . TRẦN NGỌC LIÊM
HÀ NỘI - 2014
2
MỤC LỤC
sản 51
2.2.5. Về hợp đồng bảo hiểm trùng 54
2.2.6. Về giải quyết tranh chấp từ hợp đồng bảo hiểm tài sản 57
Chương 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN 58
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản ở
Việt Nam 58
3
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng bảo hiểm
tài sản 59
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
5
thế giới do thiếu vắng của sự phát triển thương mại suốt thời kỳ phong kiến.
Sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, và nhất là sự ra đời của Luật Kinh doanh
bảo hiểm 2000 là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình tồn phát triển của
bảo hiểm ở Việt Nam.
7
Kinh doanh bảo hiểm làm phát sinh các quan hệ đặc biệt giữa doanh
nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Quan hệ này chính là quan hệ
hợp đồng. Hợp đồng bảo hiểm, ngoài những đặc tính của hợp đồng nói chung,
còn có một số đặc trưng riêng do mang những đặc tính của dịch vụ tài chính,
có nghĩa là liên quan tới quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quĩ bảo
hiểm thương mại. Hợp đồng bảo hiểm thường được nhìn dưới nhiều giác độ
khác nhau, do đó ở Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật
khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Bộ luật Hàng hải
và Luật Hàng không dân dụng Các đạo luật này đôi khi mâu thuẫn với nhau
gây khó khăn cho thực tiễn áp dụng.
Vấn đề hoàn thiện pháp luật hợp đồng bảo hiểm sao cho phù hợp với sự
phát triển của xã hội, của kinh tế, bảo vệ được quyền lợi của các bên tham gia
đang là một vấn đề cấp thiết. Trong đó hợp đồng bảo hiểm tài sản là một vấn
đề pháp lý chủ chốt. Việc nghiên cứu đề tài này không còn là mới trong
khoa học pháp lý, nhưng nghiên cứu sâu về nó trong hoàn cảnh của Việt
Nam hiện nay, sau khi pháp luật đã có những qui định tương đối cụ thể
song lại khó đi vào đời sống và còn là vấn đề pháp lý xa lạ với người dân
nói chung và thương nhân nói riêng, vẫn còn tính cấp thiết.
Vì vậy các lẽ nêu trên, tôi xin chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng
bảo hiểm tài sản ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của Luận văn bao gồm:
+ Hệ thống các vấn đề lý luận về hợp đồng bảo hiểm tài sản làm cơ sở
9
Chương 1
KHÁI LUẬN PHÁP LUẬT VỀ
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN
1.1.Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.1.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm tài sản
Nói tới hợp đồng là nói tới hành vi pháp lý đa phương hay nói tới sự
thỏa thuận giữa hai hay nhiều người làm tạo lập ra một hậu quả pháp lý [2, tr.
12 – 13]. Khoản 1, Điều 12, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 định nghĩa:
“Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp
bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp
bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Điều 567, Bộ luật Dân sự
năm 2005 có định nghĩa tương tự nhưng với một số thuật ngữ khác biệt như
sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo
hiểm phải đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo
hiểm cho bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Bảo hiểm gắn liền với các rủi ro mà khi xảy ra có thể gây thiệt hại về
vật chất và tinh thần cho con người. Khi nghiên cứu về rủi ro, người ta phân
loại chúng thành rủi ro tài chính và rủi ro phi tài chính [1, tr. 14 – 18]. Bởi chỉ
có thể bù đắp các thiệt hại về vật chất, nên chỉ có thể bảo hiểm các rủi ro tài
chính, có nghĩa là các rủi ro mang tới thiệt hại về tài chính cho người phải
gánh chịu. Qua các định nghĩa trên có thể thấy bảo hiểm là một cơ chế mà
theo đó người nhận bảo hiểm (hay doanh nghiệp bảo hiểm) thay vì nhận một
khoản tiền (được gọi là phí bảo hiểm) từ người mua bảo hiểm, phải bồi thường
bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xãy ra (có nghĩa là có rủi ro xảy ra gây thiệt
11
Thứ nhất, thỏa thuận của các bên trong hợp đồng gắn với các sự kiện
ngẫu nhiên mang tính may rủi;
Thứ hai, việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm chính là giải quyết hậu quả
của rủi ro;
Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm không xác định được trước hậu quả khi
giao kết;
Thứ tư, việc xác định trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm phụ
thuộc vào việc có xuất hiện hay không các sự kiện ngẫu nhiên mang tính may
rủi [5, tr. 19].
Trong hợp đồng bảo hiểm, các bên tìm kiếm khả năng để phân phối
những tổn thất có thể xảy ra do sự không may mắn, để tìm cách san sẻ rủi ro,
nhằm làm cân bằng tài sản. Mục đích của bảo hiểm là bù đắp tài chính để khắc
phục thiệt hại, nhằm khôi phục lại tình trạng tài chính của bên mua bảo hiểm
như ban đầu khi chưa bị tổn thất. Về nguyên tắc, sự đền bù này chỉ có thể
bằng mà không thể tốt hơn trạng thái ban đầu của đối tượng bảo hiểm khi
chưa bị tổn thất. Bên mua bảo hiểm không thể được hưởng lợi thông qua giao
kết hợp đồng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm thường được phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm.
Các nghiệp vụ này được phân chia thành hai loại chính là bảo hiểm nhân thọ
và bảo hiểm phi nhân thọ. Trong bảo hiểm phi nhân thọ có bảo hiểm tài sản.
Hợp đồng bảo hiểm tài sản, về bản chất cũng được hiểu như hợp đồng
bảo hiểm nói chung, nhưng đối tượng của hợp đồng bảo hiểm là tài sản. Như
vậy đối tượng của hợp đống bảo hiểm tài sản bị thu hẹp hơn so với hợp đồng
bảo hiểm nói chung. Điều 40, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 qui định:
“Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực,
tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản”. Căn cứ vào đối tượng
của hợp đồng ta có thể phân biệt được hợp đồng bảo hiểm tài sản với các hợp
12
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản
Hợp đồng bảo hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo
hiểm là tài sản. Hợp đồng bảo hiểm taì sản được giao kết để đối phó với hậu
quả do rủi ro gây ra đối với tài sản của người được bảo hiểm. Do sự khác biệt
về đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm tài sản có những đặc điểm riêng:
+ Quyền bảo hiểm tài sản của người tham gia bảo hiểm: quyền bảo
hiểm tài sản cho phép một người giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản để đảm
bảo cho tài sản mà họ có lợi ích ở đó. Quyền này của một chủ thể phát sinh
trên cơ sở tồn tại một mối liên hệ về quyền lợi giữa người đó với tài sản.Theo
nguyên tắc quyền bảo hiểm tài sản, bất cứ ai khi có quyền lợi có thể được đảm
hiểm trong tài sản thì đều có quyền mua bảo hiểm để đảm bảo cho quyền lợi
đó của mình.
Khoản 9, Điều 3, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: “quyền lợi
có thể được bảo hiểm trong tài sản thể hiện và phát sinh từ mối quan hệ về
quyền sở hữu, chiếm hữu, sử dụng và quyền tài sản” mà bên mua bảo hiểm
có trong đối tượng tài sản bảo hiểm.
+ Tính bồi thường trong bảo hiểm tài sản: bảo hiểm tài sản tuân thủ
theo nguyên tắc bồi thường, theo đó, những thiệt hại mà rủi ro gây ra đối với
tài sản của người được bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường,
tuy nhiên bên được bảo hiểm trong bất kì trường hợp nào cũng không thể nhận
được một khoản tiền cao hơn thiệt hại thực tế mà người đó phải gánh chịu.
Bảo hiểm tài sản là một loại hình bảo hiểm đối với thiệt hại, nó nhằm đảm bảo
cho người được bảo hiểm có tình hình tài chính ổn định như thể rủi ro không
xaỷ ra. Mục đích của bảo hiểm rài sản chính là khôi phục lại (càng sát càng
tốt) tình trạng như trước khi xảy ra rủi ro chứ không phải tạo cơ hội cho người
được bảo hiểm tham gia hợp đồng bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, do đó số
14
tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm luôn tương ứng với thiệt hại thực
tế của tài sản [6, tr. 38].
thường mà họ đã chi. Như vậy nguyên tắc bồi thường khiến cả bên bảo hiểm
và bên được bảo hiểm đều không thể thu lợi từ việc thực hiện quyền của mình
[9, tr. 80].
Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc thế quyền trên cơ sở đảm bảo
các điều kiện sau:
+Việc xảy ra sự kiện bảo hiểm là do người thứ ba gây nên
+ Sự kiện bảo hiểm đó nằm trong phạm vi bảo hiểm
+Doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường
1.1.3. Phân biệt hợp đồng bảo hiểm tài sản và các loại hợp đồng bảo
hiểm khác
Bảng1.1 . Phân biệt hợp đồng bảo hiểm tài sản và các loại hợp đồng
bảo hiểm khác Tiêu chí
HĐBH tài sản
HĐBH con người
HĐBH trách nhiệm dân sự
Đối
tượng
Tài sản bao gồm vật có
thực, tiền, giấy tờ trị giá
được bằng tiền và các
quyền tài sản.
Tuổi thọ, tính mạng,
năm đối với người bảo
hiểm, việc đảm nhiệm
trách nhiệm bồi thường
dân sự nghĩa là bên mua
bảo hiểm phải chi trả tiền
thiệt hại do mình gây ra
cho người khác.Khi mua
bảo hiểm công ty bảo
hiểm sẽ gánh vác chi trả
việc này.
Thanh
toán
bồi
thường
Là loại bồi thường và có
mức giới hạn bồi thường
cao nhất.Trường hợp tài
sản được bảo hiểm rủi ro
thuộc phạm vi bảo
hiểm,thực tế tổn thất bao
nhiêu sẽ được bồi thường
bấy nhiêu tuy nhiên trong
quá trình xem xét bồi
thường còn căn cứ vào
mức độ đóng phí bảo
hiểm, thời hạn nộp phí
bảo hiểm trùng và mức
miễn trách nhiệm bồi
thường.
Là loại hợp đồng
tài sản được bảo hiểm thì
công ty bảo hiểm vẫn phải
bồi thường, nhưng bên
tham gia bảo hiểm vẫn
phải chuyển quyền yêu
cầu người thứ ba bồi hoàn
khoản tiền mà mình đã
nhận cho công ty bảo
hiểm.Nếu bên tham gia
bảo hiểm từ chối yêu cầu
trên thì công ty bảo hiểm
có quyền khấu trừ số tiền
bồi thường theo mức độ
lỗi của bên tham gia bảo
hiểm.
Trong quá trình thực
hiện hợp đồng,nếu
bên thứ ba gây ra lỗi
thì công ty bảo hiểm
không được yêu cầu
người thứ ba bồi
hoàn.Nếu họ trực tiếp
hoặc gián tiếp gây
nên cái chết, thương
tật cho người được
bảo hiểm thì công ty
bảo hiểm vẫn phải
thực hiện nghĩa vụ
trả tiền bảo hiểm theo
1.2. Lược sử, vai trò và ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.2.1. Lược sử của hợp đồng bảo hiểm tài sản
Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm có nét đặc thù khác hẳn với các lĩnh vực
kinh doanh khác, ở lĩnh vực này việc mua bán sản phẩm bảo hiểm không
mang tính “ngang giá”. Người mua thì phải trả tiền ngay (phí bảo hiểm)
nhưng lại không được nhận vào thời điểm đó sự phục vụ (cam kết) của doanh
nghiệp bảo hiểm và hoàn toàn không biết chất lượng sản phẩm (dịch vụ) mà
mình đã bỏ tiền ra mua. Chất lượng sản phẩm chỉ được thể hiện khi có sự kiện
bảo hiểm xảy ra, tức là khi đến hạn hợp đồng (bảo hiểm nhân thọ), hoặc khi
người được bảo hiểm bị thiệt hại về thân thể hoặc tài sản hoặc phát sinh trách
nhiệm dân sự phải bồi thường theo quy định của luật pháp và trong khuôn khổ
những cam kết của người bảo hiểm. Tính đặc thù còn thể hiện ở chỗ ngay cả
người bảo hiểm và người được bảo hiểm cũng đều không biết khi nào thì sự
kiện bảo hiểm xảy ra (trừ bảo hiểm nhân thọ khi đến hạn hợp đồng) bởi trong
bảo hiểm phi nhân thọ người bảo hiểm chỉ nhận những rủi ro có thể xảy ra chứ
không chắc chắn xảy ra. Chính vì nét đặc thù này mà hầu hết các nước trên thế
giới đều coi trọng tầm quan trọng của hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên do các
yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lí khác của các nước khác nhau, mà có các
qui định khác nhau về hợp đồng bảo hiểm.
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng
bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người
được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo
hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận
một khoản phí. Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi
ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren. Sau đó cùng với việc phát
19
hiện ra Ấn Độ dương và tìm ra Châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo
Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là
Bảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động. Trong những năm đầu, Bảo Việt
chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập
khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…. Công ty bảo hiểm này hoạt động theo cơ
chế nhà nước độc quyền, thì các qui phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng
bảo hiểm còn nhiều thiếu sót và hiệu lực pháp lý thấp. Trước những năm 90,
nhũng qui định liên quan đến hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo
hiểm tài sản nói riêng chủ yếu được điều chỉnh bởi các Quyết định hay Thông
tư hướng dẫn của Bộ Tài chính cho phép Bảo Việt triển khai một số nghiệp vụ
bảo hiểm và ban hành theo đó một số nguyên tắc, điều khoản bảo hiểm được
phép áp dụng. Hầu hết các quy tắc, điều khoản bảo hiểm đều là sự sao chép
các điều khoản bảo hiểm nước ngoài được áp dụng vào Việt Nam, với tính
chất là hợp đồng bảo hiểm theo mẫu, được quy định sẵn trong quy tắc bảo
hiểm, do một bên bảo hiểm đưa ra. Nên sẽ không tránh khỏi việc áp đặt ý chí
chủ quan của một bên chủ thể kinh doanh bảo hiểm, các quyền nghĩa vụ của
các bên tham gia trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm chưa thực sự được bình
đẳng. Trước những đòi hỏi thực tế của cơ chế đổi mới xã hội, các văn bản
pháp luật điều chỉnh về các lĩnh vực về hợp đồng được ban hành. Có thể nói
Bộ luật Hàng hải 1990 là văn bản đầu tiên có giái trị pháp lý cao điều chỉnh về
hợp đồng bảo hiểm nhưng trong Bộ luật này cũng chỉ điều chỉnh giới hạn các
vấn đề bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải còn các vấn đề khác thì không được
nêu ra. Bộ luật Hàng hải hiện nay đã được sửa đổi và có hiệu lực năm 2005
nhưng nó vẫn cũng chỉ điều chỉnh một phần về hợp đồng bảo hiểm trong lĩnh
vực hàng hải mà thôi [8, tr. 6].
21
Đứng trước sự phát triển của thị trường bảo hiểm, sự bảo đảm quyền lợi
chính đáng của người tham gia bảo hiểm, ngày 22/12/2000 Luật Kinh doanh
bảo hiểm được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/04/2001, đây là văn bản
có tính chuyên ngành đầu tiên ghi nhận về hợp đồng bảo hiểm, trong đạo luật
rủi ro. Ví dụ: hợp đồng bảo hiểm tài sản với rủi ro cháy cho một ngôi nhà, thì
mặc dù ngôi nhà đó chính là đối tượng tài sản bảo hiểm, là đối tượng trực tiếp
bị đe dọa và bị tổn thất, phá hủy khi xảy ra cháy, nhưng bản chất và vai trò
của hợp đồng bảo hiểm được cấp ra không phải là bảo hiểm hay bảo vệ trực
tiếp cho bản thân ngôi nhà hay các vật liệu tạo nên ngôi nhà đó (đối tượng bảo
hiểm), mà hợp đồng bảo hiểm tài sản cung cấp sự bảo vệ cho quyền lợi của
bên mua bảo hiểm có trong ngôi nhà đó. Bản chất và chức năng của hợp đồng
bảo hiểm trong trường hợp này sẽ cung cấp đảm bảo tài chính cho bên mua
bảo hiểm để có thể giải quyết, khắc phục hậu quả, thiệt hại sau khi cháy, sửa
chữa lại hay xây ngôi nhà mới. Chức năng bảo vệ tài sản thông qua việc giao
kết hợp đồng bảo hiểm chỉ được thể hiện một cách gián tiếp qua việc thực
hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất của doanh nghiệp bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể khuyến nghị bên mua bảo hiểm áp dụng các
biện pháp phòng tránh để đảm bảo an toàn cho tài sản, cũng như trực tiếp
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, trang bị các phương tiện phòng tránh làm giảm
thiểu khả năng xảy ra tổn thất cho đối tượng tài sản.
Tại bất kì thời điểm nào, sự an toàn về tài sản cũng bị đe dọa bởi các
yếu tố rủi ro luôn tiềm ẩn bởi các hiện tượng thiên tai bất khả kháng như bão,
lũ lụt, động đất, núi lửa…cũng có thể do bất cẩn của con người như cháy nổ,
va đập…gây ra những thiệt hại thì việc tham gia bảo hiểm tài sản có vai trò
quan trọng trong nền kinh tế nói riêng và cuộc sống hàng ngày nói chung.
Thông qua việc trả tiền bồi thường, cung cấp sự trợ giúp hữu hiệu về tài chính
23
cho Bên mua bảo hiểm trước những rủi ro tổn thất, nhanh chóng khắc phục
hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh thì bảo hiểm tài sản ngày càng
được quan tâm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Hơn nữa với sự phát
triển, mở rộng đa dạng các loại hình bảo hiểm tài sản hiện nay như: bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường
hàng không; bảo hiểm thân tàu biển; bảo hiểm vật chất xe cơ giới; bảo hiểm
chắn kinh tế cho các cá nhân tổ chức nhằm khắc phục thiệt hại xảy ra, đồng
thời thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua chức năng trung gian tài chính đầu
tư cho nền kinh tế. Các sản phẩm bảo hiểm được xây dựng dựa trên mục tiêu
là sự ổn định của xã hội, sự phát triển của nền kinh tế, tạo môi trường ổn định
sinh hoạt, kinh doanh. Việc nghiên cứu đánh giá các loại hình bảo hiểm không
nằm ngoài mục tiêu đó, việc nghiên cứu đánh giá càng chi tiết các loại hình
bảo hiểm càng giúp cho mọi người nhận thức tốt hơn và đảm bảo quyền lợi
của mình hơn khi tham gia bảo hiểm. Chính vì vậy, đề tài này chỉ tập trung
nghiên cứu cải cách pháp luật về hợp đồng bảo hiểm tài sản.
1.3. Những vấn đề pháp lý chủ yếu của hợp đồng bảo hiểm tài sản
1.3.1. Chủ thể của hợp đồng bảo hiểm tài sản
Hợp đồng bảo hiểm tài sản được thiết lập giữa bên bảo hiểm và bên
mua bảo hiểm, có nghĩa là hợp đồng được giao kết giữa doanh nghiệp bảo
hiểm và người mua bảo hiểm. Họ là những chủ thể của hợp đồng bảo hiểm tài
sản.
Thứ nhất, nói về doanh nghiệp bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và
hoạt động theo qui định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác
của pháp luật có liên quan để hoạt động kinh doanh bảo hiểm, và kinh doanh
25
tái bảo hiểm. Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theo pháp luật Việt
Nam tồn tại dưới các hình thức:
+ Công ty cổ phần bảo hiểm;
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;
+ Hợp tác xã bảo hiểm;
+ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ (Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010).
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 trong các hình thức kinh doanh