Truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1965 - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


PHẠM THANH HÙNG TRUYỆN NGẮN
TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC
ĐÔ THỊ MIỀN NAM
GIAI ĐOẠN 1954 – 1965

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

“TRUYỆN NGẮN TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC ĐÔ THỊ MIỀN NAM
GIAI ĐOẠN 1954 – 1965”
- Chuyên ngành : Lý thuyết và lịch sử văn học
- Mã số : 5.04.01
- Họ và tên nghiên cứu sinh : Phạm Thanh Hùng
- Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Trần Hữu Tá
- Cơ sở đào tạo : Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn –
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN

Truyện ngắn là một trong những thể loại có nhiều thành tựu của dòng văn học
yêu nước đô thị miền Nam (1954 – 1975). Nghiên cứu truyện ngắn trong dòng văn
học yêu nước đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1965 là việc làm vừa có ý nghĩa
khoa học lẫn thực tiễn, vừa có tính cấp thiết và thời sự.

Trên cơ sở khảo sát khối tư liệu truyện ngắn của hơn 20 tác giả tiêu biểu
đăng trên 12 tờ báo, tạp chí từ 1954 đến 1965 ở vùng đô thị miền Nam, cùng nhiều
bài viết, công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả luận án đã đưa ra cái nhìn bao


1. Luận án có thể dùng làm tài liệu để nhận diện bổ sung cho việc viết giáo trình
văn học Việt Nam hiện đại và làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Ngữ
văn các trường Đại học và Cao đẳng.

2. Bên cạnh truyện ngắn, nhiều thể loại khác của dòng văn học yêu nước đô thị
miền Nam (1954 – 1975) như thơ, tiểu thuyết, ký, kịch, biên khảo, bút ký chính
luận, lý luận, phê bình văn học vẫn đang chờ đợi những công trình khảo sát,
nghiên cứu từ góc nhìn thể loại. Ngay truyện ngắn giai đoạn 1965 - 1975 vẫn
còn đang để ngỏ và rất cần có công trình tiếp tục nghiên cứu.

Xác nhận của người hướng dẫn khoa học Nghiên cứu sinh PGS.TS. Trần Hữu Tá Phạm Thanh Hùng
The PhD thesis in Linguistics and Literature:
SHORT STORIES IN THE LINE OF PATRIOTIC LITERATURE IN SOUTHERN
VIETNAM URBAN AREAS, PERIOD 1954-1965

- PhD. Student
- Instructor
- University
: PHAM THANH HUNG
: Ass. Prof. Dr. TRAN HUU TA

1954-1965 in general correlation to the three parts of patriotic literature in
Vietnam (the new literature in the North, the liberation literature and urban
patriotic literature in the South). Wherefrom, the characteristics and living
strength of short stories in the picture of patriotic literature in Southern
Vietnam urban areas during the period, are showed.

2. With the analysis of outstanding points in thought contents and artistic form,
the thesis gives an overall view of those values which have created the
unique outlook of short stories in the line of patriotic literature in Southern
Vietnam urban areas (1954-1965).

3. Ascertaining the position and contributions of short stories and the line of
patriotic literature in Southern Vietnam urban areas (1954-1965), the thesis
has contributed its particular part to the comprehensive recognition of the
history of Vietnamese literature in the period of 1954-1965.

APPLICATION/POSSIBILITY OF APPLICATION IN REALITIES OR THOSE OPEN
MATTERS NEEDING CONTINUED RESEARCH

1. The thesis may be used as materials for supplementary recognition in
preparing textbooks of modern Vietnamese literature, and as references for
university and college students of Linguistics and Literature department.

2. In addition to short stories, many other categories in the line of patriotic
literature in Southern Vietnam urban areas (1954-1975) such as poetry,
novels, memoirs, plays, studies, political notes, literature theories and
critiques, are still waiting for research from the angle of each catergory. Even
the short stories in the period of 1965-1975 are still left open needing
continued research.

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN CIA Central Intelligence Agency (Cơ quan Tình báo Trung ương
Mỹ)
GS Giáo sư
IVS International Voluntary Service (Thanh niên Chí nguyện
Quốc tế)
JUSPAO Joint United States Public Affairs Office (Cơ quan Liên vụ
Thông tin Hoa Kỳ)
MAAG Military Assistance Advisory Group (Nhóm Cố vấn Quân sự)
MACV Military Assisyance Command, Vietnam (Bộ Chỉ huy Viện
trợ quân sự ở Viet Nam)
MSUG Michigan State University Group (Nhóm Đại học bang
Michigan)
OU Ohio University (Đại học Ohio)
PGS Phó Giáo sư
SIU Southern Illinois University (Đại học Nam Illinois)
tr. trang
TS Tiến só
USAID United States Agency for International Development (Cơ
quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ)

văn học giải phóng, văn học yêu nước đô thò miền Nam 23
1.1.2. Chính sách xâm lược văn hóa tư tưởng của Mỹ
và tình hình văn học đô thò 26
1.1.3. Phong trào đấu tranh của nhân dân và sức sống của dòng
văn học yêu nước ở các đô thò 42

1.2.
Truyện ngắn trong bức tranh văn học yêu nước đô thò miền Nam
1954 – 1965
52
1.2.1. Truyện ngắn, hình thức tự sự cỡ nhỏ có ưu thế được ưa chuộng 52
1.2.2. Một thể loại văn xuôi nghệ thuật giàu sức sống của dòng
văn học yêu nước đô thò miền Nam 1954 – 1965………………………57

CHƯƠNG 2
NỘI DUNG YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN NHÂN VĂN
CỦA TRUYỆN NGẮN TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC
ĐÔ THỊ MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1965

2.1.
Nội dung yêu nước thấm thía
66
2.1.1. Tiếng nói yêu nước thương nòi 66
2.1.2. Tiếng nói chống chính thể phi nhân 78
2.1.3. Tiếng nói chống xâm lăng 89
2.2.
Tinh thần nhân văn sâu sắc
104
3.5.
Ngôn từ gợi tả, giàu chất sống hiện đại
185
3.5.1. Nguyên tắc đa thanh, phức điệu 186
3.5.2. Các phương tiện tu từ 190

KẾT LUẬN 198

CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC
1. Sơ lược tiểu sử tác giả truyện ngắn tiêu biểu giai đoạn 1954 -1965
2. Ảnh và bút tích tác giả truyện ngắn tiêu biểu giai đoạn 1954 - 1965
3. Ảnh một số báo chí, truyện ngắn giai đoạn 1954 – 1965 1 MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.1.
Lý do chọn đề tài

Hơn ba mươi năm từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất, mọi mặt đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân ta đã có nhiều đổi thay

những nhận xét, đánh giá toàn diện về dòng văn học có nhiều đóng góp này.
Trên cơ sở những nhận thức vừa nêu, chúng tôi quyết đònh chọn đề tài luận
án: “
Truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thò miền Nam giai đoạn 1954
– 1965


.
1.2.
Mục đích nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thò
miền Nam đã hình thành và phát triển từ 1954 đến 1965, luận án sẽ tập trung giải
quyết các yêu cầu cơ bản sau:
Về mặt lý luận: Thông qua tìm hiểu khái quát ba bộ phận văn học yêu nước
Việt Nam 1954 –1965, luận án làm rõ vò trí của truyện ngắn trong bức tranh văn
học yêu nước đô thò miền Nam giai đoạn này. Trên cơ sở khảo sát những thành
tựu tiêu biểu, luận án đi sâu trình bày, phân tích những điểm nổi bật về nội dung
tư tưởng và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn. Từ đó, khẳng đònh những đóng
góp mang sắc thái riêng của truyện ngắn và dòng văn học yêu nước đô thò miền
Nam 1954 - 1965 trong tiến trình văn học sử dân tộc và trong cuộc đấu tranh giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Về mặt thực tiễn: Hai mươi mốt năm chia cắt đất nước đưa đến vô vàn khó
khăn khi tiếp cận quá trình diễn biến của những dòng văn học khác nhau vùng đô
thò miền Nam trước năm 1975. Thế nhưng, vượt qua những trở ngại khách quan,
3
Ở đây, khái niệm “yêu nước” thể hiện nội dung, tính chất, nét độc đáo của
dòng văn học cần được xác đònh để làm rõ đối tượng nghiên cứu của luận án. Là
sản phẩm nghệ thuật thể hiện sức mạnh tình cảm và trí tuệ nhân dân, văn học
yêu nước đô thò miền Nam ra đời từ ngòi bút của những con người ở nhiều vò trí
và hoàn cảnh sống khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp chòu ảnh hưởng của cách
mạng và kháng chiến. Họ có thể là cán bộ kháng chiến “nằm vùng” hay người
công dân yêu nước bình thường, đồng tình với cộng sản hay không, đứng trên lập
trường cách mạng hay lập trường dân tộc…; những gì họ viết ra phải làm sao
vượt qua được chế độ kiểm duyệt của chính quyền nhằm cổ vũ hòa bình, chống
chiến tranh xâm lược, khơi dậy truyền thống quật cường, khích lệ tinh thần dân
tộc, tình đoàn kết yêu thương giống nòi. Tùy thực tế diễn biến chính sách xâm
lược của Mỹ, sự khủng bố đàn áp của nhà cầm quyền, sự chỉ đạo của Đảng (đối
với những nhà văn cách mạng hoạt động công khai), phong trào đấu tranh của
nhân dân đô thò, mà mỗi người tự xác đònh nội dung yêu nước và hình thức thể
hiện các sáng tác của mình sao cho phù hợp. Như vậy, dù mức độ có khác nhau,
tác phẩm của họ vẫn mang hơi thở nhân dân, sức sống dân tộc, thấm đượm tình
yêu quê hương đất nước và tinh thần nhân văn.
2.2.
Phạm vi nghiên cứu
Xác đònh phạm vi nghiên cứu 11 năm đầu (1954 – 1965) hình thành và phát
triển của truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thò, người viết căn cứ vào
những biến đổi của tình hình văn học đồng hành với những đổi thay của bối cảnh
xã hội - chính trò, văn hóa - tư tưởng diễn ra ở miền Nam trong thời gian này.
Mốc 1965 là thời điểm bộ mặt xâm lược của Mỹ hoàn toàn lộ diện khi quyết
đònh can thiệp sâu bằng quân sự. o tưởng về một nền dân chủ, tự do kiểu
phương Tây nhanh chóng tan biến trong nhận thức của nhiều người dân thành thò.
Đây cũng là thời điểm của những cao trào chống Mỹ công khai, trực diện trên
5
thấy sáng tác của họ đăng trên báo chí tiến bộ hoặc không hẳn tiến bộ đương
thời. Dù nhà văn luôn tìm mọi cách vừa viết vừa “lách” để tránh sự kiểm duyệt
gắt gao, vẫn có nhiều truyện ngắn không thể vượt qua được “chế độ Hốt - Cắt -
Đục” (từ của Nguyễn Ngọc Lan) [400, tr. 490] của chính quyền Sài Gòn. Hệ quả
đưa đến là truyện bò đục bỏ, báo chí đăng tải bò tòch thu tiêu hủy, tòa soạn bò
đóng cửa, thậm chí cảnh bắt bớ, tù đày ập đến cho người viết. Điều này khiến
việc sưu tầm tư liệu gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, trong trận tuyến đấu tranh
lâu dài và phức tạp, sáng tác văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng xuất hiện
rất đa dạng. Vì thế, việc tập hợp cũng không được dễ dàng. Nhiều báo chí trước
đây hay đăng những sáng tác truyện ngắn còn lại đến nay thường không liên tục
các số trong năm, hay giữa các năm với nhau. Lý do có thể do điều kiện bảo
quản của thư viện chưa thật tốt, và một phần bò hủy sau ngày 30 - 4 - 1975. Mặc
dù vậy, người viết vẫn hết sức cố gắng tập hợp càng nhiều càng tốt khối lượng
truyện ngắn của trên 40 tác giả đăng ở 12 tờ báo chí tiêu biểu xuất hiện hợp pháp
từ 1954 đến 1965, gồm Nhân Loại, Duy Tân, Điện Báo, Công Lý, Tiểu Thuyết
Thứ Bảy, Bách Khoa, Vui Sống, Mã Thượng, Tiếng Chuông, Mai, Văn, Văn Học
hiện lưu giữ (tuy không đầy đủ) trong các thư viện lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh;
sưu tầm một số tập truyện ngắn xuất bản trước 1975 (để đối chiếu); bổ sung số
truyện ngắn đăng trên Bách Khoa được đưa lên mạng internet… Đó là lý do luận
án có nhiều đơn vò tài liệu tham khảo. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, luận
án đề cập đến hơn 20 tác giả tiêu biểu. Những tác giả khác, người viết xem là
phần đóng góp tài liệu nghiên cứu về dòng văn học này.
Có phần thuận lợi khi gần đây các tuyển tập (cùng lời giới thiệu) Lê Vónh
Hòa, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Nguyễn Văn Xuân; sách viết về
thân thế, sự nghiệp Dương Tử Giang, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà đã ra mắt độc
7 giả. Nhiều tập truyện ngắn Vũ Bằng, Vũ Hạnh, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Viễn
Phương, Võ Hồng… được in hoặc tái bản. Bài viết về những nhà văn dòng văn

và nhược điểm trong phong cách nhà văn, trước khi rút ra kết luận. Chẳng hạn
viết về Phan Du và tập truyện Cô gái xóm nghèo, Cô Phương Thảo ghi nhận:
“Những đề tài lớn nhất phải làm băn khoăn mọi người cầm bút chân chính ở
trong thời đại chúng ta đã được Phan Du đề cập, từ sự chống đối những quan
niệm chính trò phi nhân đến sự phát huy những cái hay cái đẹp thời xưa, từ một
yêu cầu xây dựng xã hội đến sự thống nhất đất nước” [429, tr. 101-102]. Ngoài
ra, còn phải kể thêm những bài tổng kết tình hình văn học Sài Gòn hằng năm trên
tạp chí Bách Khoa được đông đảo người đọc chờ đợi, rải rác tác giả có đề cập
đến những sáng tác truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước ở các đô thò.
3.1.2. Những tập truyện ngắn của các tác giả yêu nước có tên tuổi tiếp tục
được các cây bút phê bình quan tâm. Trên tạp chí Mai, lần lượt các số 3, 4, 6 năm
1960, Nguyễn Văn Xuân có loạt bài phê bình về các tập: Hoài cố nhân (Ban Mai,
1959) của Võ Hồng [500], Cô gái xóm nghèo (Văn Hữu Á Châu, 1959) của Phan
Du [501], Ký thác (Bến Nghé, 1960) của Bình Nguyên Lộc [502]. Trên cơ sở đó,
ông viết một bài tìm hiểu thực trạng truyện ngắn đô thò lúc bấy giờ [503]. So sánh
giữa truyện ngắn Bình Nguyên Lộc và Phan Du, tác giả nhận xét: “Nội dung
truyện ngắn của ông, cũng như của Phan Du hướng về Chân – Thiện – Mỹ cổ
điển. Ông khác Phan Du ở chỗ ít lý luận, phát triển dài dòng (tôi nói ít hơn thôi).
Nhưng ông lại thích đá thêm những lý luận vẩn vơ theo lối nghệ só rẻ tiền, triết lý
rẻ tiền…” [502, tr. 19]. Đưa ra nhận đònh về hiện trạng truyện ngắn, ông cho
rằng: “Trong bốn tập truyện ngắn tôi mới phê bình (…) ấn hành không cách biệt
lắm về thời gian, đã chứng tỏ phong trào truyện ngắn có lên phần nào trong cái
trầm lặng từ lâu của nó” [503, tr. 13]. Ngoài ra, Nguyễn Văn Xuân còn đề cập
đến những vấn đề có liên quan đến lónh vực sáng tạo của các nhà văn đương thời
như: “Mối băn khoăn lớn của các nhà văn hiện nay là luôn luôn tìm thấy mâu
9 thuẫn trong hình thức và nội dung; giữa vấn đề trong truyện, và cách kết cấu. Bởi
nhà văn thường tìm vấn đề xây dựng nhân vật, quan sát sự việc, tìm chất liệu

sống yên ổn như thế, họ thường là những con người thụ động, mồm luôn luôn
trách móc AK lẫn M.16 như chính những người đã đưa họ vào tác phẩm” [360, tr.
23]. Từ đó, tác giả đặt vấn đề cần phải “chọn lựa” trong tình hình có phần không
đơn giản là “theo xâm lược, đồng lõa với xâm lược, hay chống lại xâm lược”, mà
nếu “Không làm rõ được thực chất vấn đề ấy, người cầm bút khi mô tả về hiện
thực cuộc chiến này dễ lẫn lộn mọi thứ phải trái, trắng đen” [360, tr. 23].
3.1.4. Ngoài những trang viết của Lữ Phương từ vùng giải phóng miền Nam
gởi ra Bắc, bạn đọc miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam còn có điều kiện
hiểu biết ít nhiều về dòng văn học yêu nước đô thò miền Nam nói chung, truyện
ngắn giai đoạn 1954 – 1965 nói riêng, qua một số bài viết của những nhà nghiên
cứu văn học sống và viết ở miền Bắc như Nguyễn Đức Đàn, Thạch Phương, Bùi
Công Hùng, Nguyễn Đức Nam, Chu Nga, Phan Đắc Lập… Xuất phát từ ý thức
của người cầm bút trước yêu cầu của cuộc đấu tranh cam go đương thời, người
đọc dễ dàng tìm thấy nhiều bài viết tập trung phê phán những đặc điểm của văn
học thực dân mới trước năm 1975, hơn là viết về một thể loại văn học cụ thể như
truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thò miền Nam chẳng hạn. Mặc dù
vậy, đây đó người đọc vẫn có thể tìm thấy những nội dung liên quan đến dòng
văn học này. Bùi Công Hùng trong bài viết về “Một thứ văn chương vì mục đích
đồng tiền”, sau khi nêu lên nguyên nhân bế tắc, phá sản của dòng văn học chống
cộng là do “sự nghèo nàn về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, vì xuyên
tạc sự thật, chân lý” [178, tr. 45] đã liên hệ đến dòng văn học “có ít nhiều yếu tố
tích cực, tiến bộ thì bò đàn áp, bò bao vây, bò gây nhiều khó khăn” [178, tr. 45].
Thực tế đó, theo tác giả, đã khiến cho “Những nhà văn còn có suy nghó, có lương
11 tâm thì gặp phải bế tắc trên đường đi tìm ý nghóa cho cuộc sống và trên đường đi
tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật” [178, tr. 45].
3.1.5. Ở một phương diện khác, khi đề cập đến phương thức phản ánh hiện
thực của các nhà văn yêu nước trước và sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ,

nên sâu xa thấm thía. Bởi nó không chỉ khơi dậy trong ta lòng căm thù phẫn uất,
mà nó còn gợi lên trong ta biết bao tình cảm yêu thương” [317, tr. 72].
Bên cạnh Tạp chí Văn học - tạp chí chuyên ngành nghiên cứu, lý luận, phê
bình văn học - bạn đọc miền Bắc trước năm 1975 còn có thể tìm thấy một số bài
viết về dòng văn học yêu nước đô thò miền Nam nói chung, truyện ngắn nói riêng
trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tuần báo Văn nghệ (của Hội Nhà văn Việt
Nam), Tuần báo Thống nhất (của Ủy ban Thống nhất Trung ương). Rất tiếc,
người viết chưa có điều kiện tiếp xúc với nguồn tài liệu hiếm hoi và bổ ích này.
3.2.
Sau 1975

Hòa trong niềm vui chung của nhân dân cả nước về sự thống nhất Tổ Quốc
là niềm vui gặp gỡ của những nhà văn, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học
ở hai miền Nam – Bắc. Nhiều “món nợ” văn chương trước đây vì hoàn cảnh đất
nước chia cắt chưa thể trả, thì giờ đây, theo thời gian đã được trả dần. Riêng thể
loại truyện ngắn trong dòng văn học yêu nước đô thò miền Nam, đây đó một vài
công trình có đề cập đến.
3.2.1. Trước hết, phải kể đến tập truyện ngắn xuất hiện vào loại sớm nhất:
Bút máu của Vũ Hạnh - một nhà văn hoạt động đơn tuyến, công khai trong lòng
đô thò miền Nam trước năm 1975 - do nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, in năm
1986, dày 267 trang, khổ 13x19cm. Sau khi điểm qua những truyện ngắn tiêu
biểu như Bút máu, Chất ngọc, Người nữ tỳ, Những giọt mồ hôi, Tô cháo lòng,
Người chồng thời đại, Mụ Tư Cò, Con thằn lằn, Thay đổi, Núi rừng bất khuất,
13 trong “Lời nói đầu” nhà xuất bản cho rằng: “Những tác phẩm của nhà văn trong
giai đoạn này là đóng góp đáng quý cho phong trào văn hóa tiến bộ và cách
mạng” [116, tr. 5-6].
3.2.2. Cuối năm 1986, đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của độc giả, nhà xuất

1975”, Trần Trọng Đăng Đàn xem đây là “một bộ phận quan trọng và độc đáo có
ý nghóa lớn của dòng văn hóa, văn nghệ cách mạng – yêu nước – tiến bộ tại các
vùng bò đòch tạm chiếm ở Nam Việt Nam”, đồng thời khẳng đònh rằng: “Bộ phận
văn học này rất xứng đáng và rất đầy đủ tư cách để cùng với bộ phận văn học
bán công khai, không công khai; bên cạnh văn học giải phóng miền Nam đi vào
lòch sử văn học như là một điểm son, một niềm tự hào của văn hóa, văn nghệ
Việt Nam thời hiện đại” [348, tr. 11]. Bên cạnh nêu bật những cố gắng của hội
đồng tuyển chọn, tác giả bài viết còn cho độc giả thấy được thực tế khó khăn
trong việc tập hợp sách báo, tài liệu để quyển sách ra đời, mà theo ông “cũng chỉ
mới phản ánh được một phần nhỏ và còn sơ lược so với tất cả những gì đã làm
nên dòng văn học yêu nước - tiến bộ - cách mạng trên văn đàn công khai 1954 –
1975” [348, tr. 12].
3.2.4. Công trình khá dày dặn khác là Đòa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí
Minh, gồm bốn tập, khổ 19x27cm, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1998.
Bộ sách ra mắt bạn đọc nhân “Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí
Minh”, do GS. Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên, soạn cùng với nhiều
tác giả khác. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến Tập II: Văn học – Báo chí – Giáo
dục, dày 868 trang. Trong bài viết “Văn học yêu nước công khai ở Sài Gòn trong
30 năm cách mạng và kháng chiến” do Tầm Vu, Nguyên Thanh, Viễn Phương,
Hồ Só Hiệp và Trần Hữu Tá biên soạn, ở phần II: “Văn học công khai Sài Gòn và
các thành thò miền Nam giai đoạn 1954 – 1975”, các tác giả đã đề cập đến “một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status