Bùi Thị Hương 342140
Đề 3. Phân tích các yêu cầu về ngôn ngữ văn bản pháp luật.
A. LỜI MỞ ĐẦU: Ngôn ngữ văn bản pháp luật là phương tiện dùng để giao
tiếp giữa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí. Ngôn ngữ là phương tiện quan
trọng hàng đầu để thể hiện ý chí của cấp có thẩm quyền. Vậy việc sử dụng
ngôn ngữ trong VBPL phải đảm bảo những yêu cầu gì?
B. NỘI DUNG.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, khoản 1
Điều 5. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật
1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác,
phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.
1. Ngôn ngữ VBPL là ngôn ngữ Viết.
Một trong những đặc điểm của VBPL là được xác lập bằng ngôn ngữ
viết. Sử dụng ngôn ngữ viết, các nhà quản lí có thể lựa chọn từ ngữ có tính
chính xác cao, mang tính khái quát, phổ thông nhất, lập câu có kết cấu chặt
chẽ. Như vậy, chủ thể quản lí có thể biểu đạt rõ ràng, đầy đủ, đúng đắn ý chí
của mình, từ đó đối tượng quản lí cũng dễ dàng nắm bắt được đúng đắn và
đầy đủ nội dung của VBPL. Đồng thời cách thức thể hiện này, cũng giúp các
cơ quan nhà nước thuận lợi trong việc sao gửi, nghiên cứu, lưu trữ thông tin
nhằm phục vụ cho hoạt động quản lí của mình.
2. Ngôn ngữ VBPL là ngôn ngữ tiếng Việt.
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Khoản 1, Điều
5 quy định:” 1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt”.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ khác
nhau, trong đó tiếng Việt chiếm đa số, được đưa vào giảng dạy trong giáo
dục và được xem là quốc ngữ. Vì đặc tính thông dụng và phổ biến nên văn
bản pháp luật được viết bằng tiếng Việt. Như vậy sẽ dễ dàng đến với nhân
1
Bùi Thị Hương 342140
dân và nhờ đó mới đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình truyền tải ý
tín và giá trị cho văn bản.
Tính chính xác của VB còn là chính xác trong cách viết và sử dụng
dấu chấm câu. Trong mỗi câu, ngoài đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ,
đủ ý, còn đòi hỏ câu văn ngắn gọn, xúc tích. Câu văn ngắn gọn thì tính chính
xác và dễ hiểu cao hơn. Việc này đồi hỏi người soạn thảo phải có vấn từ sâu
rộng và có khẳ năng kết hợp từ ngữ một cách chặt chẽ, logic và đúng ngữ
pháp. Dấu chấm câu phải được đặt hợp lí mới đạt được hiệu quả tối đa. Ví
dụ, nội quy phòng học trường Đại học Luật Hà Nội có quy định: “… cấm
không được chuyển dịch bàn ghế”…Người soạn thảo sử dụng cách viết
không chính xác, vì “phủ định + phủ định” thì có nghĩa là ngược lại.
Thứ ba, ngôn ngữ văn bản đỏi hỏi tính thồng nhất. Trong cùng một
văn bản và trong hệ thống văn bản pháp luật cần thống nhất về nghĩa cho tất
cả các từ, ngữ được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm trong các văn bản
pháp luật khác nhau. Chỉ có vậy, văn bản mới được hiểu và thực hiện một
cách thống nhất.
Thứ tư, ngôn ngữ VBPL phải có tính phổ thông. Ngôn ngữ phổ thông
là ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên trong phạm vi toàn quốc, dễ hiểu
đối với tất cả mọi người không phân biệt trình độ học vấn, vùng miền, dân
tộc. Ngôn ngữ thể hiện tính đại chúng, dần gũi với đời sống nhân dân. Trong
quá trình soạn thảo, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt rất được coi trọng
và đó được coi là biểu hiện của tính phổ thông.
Những từ cổ và từ ngữ Hán việt tuy vẫn được sử dụng nhưng rất hạn chế vfa
phải thỏa mãn những điều kiện chặt chẽ. Ngoài ra, đặc trưng trong ngôn ngữ
VBQPPL là có những thuật ngữ pháp lý. Nhờ nó mà nhà soạn thảo có thể
diễn đạt gãy gọn và chính xác hơn. Tuy nhiên, vì nó là ngôn ngữ chuyên
ngành nên tính phổ thông khó mà thỏa mãn. Trong trường hợp, bắt buộc
phải sử dụng thuật ngữ không quen với người đọc thì cần phải có phần giải
3
Bùi Thị Hương 342140
thích. Một biểu hiện của tính phổ thông nữa là phân chia, sắp xếp các đơn vị