Chính sách kinh tế mới và công cuộc đổi mới ở Việt Nam - Pdf 28

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Di sản lý luận mà V.I Lê nin để lại cho nhân loại là vô cùng phong phú và đa
dạng. Một trong những di sản quý báu đó là "chính sách kinh tế mới" (Novaja
ekonomicheskaja politika, gọi tắt là NEP). NEP chứa đựng trong đó sự tổng hợp
các giải pháp kinh tế - xã hội - chính trị mang tính quy luật của thời kỳ quá độ lên
CNXH. NEP không chỉ là con đờng xây dựng CNXH ở nớc Nga mà tầm vóc lịch
sử của nó đã vợt ra khỏi phạm vi nớc Nga và mang tính phổ biến trên thế giới.
Những năm gần đây, trên thế giới có nhiều biến động dữ dội, nhất là từ sự đổ
vỡ chế độ CNXH ở Liên Xô và các nớc Đông Âu. Việt Nam sau hơn một thập kỷ
khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam (năm 1986), đã quyết định đổi mới toàn diện đất nớc. Tinh
thần đổi mới của Đại hội VI đã đồng nghĩa với sự giải phóng tiềm năng của con
ngời Việt Nam. Quá trình đổi mới ở Việt Nam là quá trình định hớng đi lên
XHCN. Thực chất của quá trình định hớng XHCN là giữ vững độc lập dân tộc,
thực hiện dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, con ngời hạnh phúc.
Quá trình đổi mới càng diễn ra trên quy mô rộng và càng đi vào chiều sâu,
thì chúng ta càng nhận ra rằng , trên nhiều vấn đề cơ bản chúng ta dờng nh đang
trở lại với NEP (tất nhiên không phải trở lại nguyên xi nh cũ, áp dụng một cách
máy móc những điều mà nớc Nga đã làm trớc đây vào Việt Nam ngày hôm nay).
Vấn đề đặt ra là phải nhận thức lại một cách đầy đủ hơn về NEP, từ đó tìm ra
những tiềm ẩn, những sức mạnh, những bài học cho công cuộc đổi mới ở Việt
Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu NEP trong tình hình hiện nay là đề tài vừa có
ý nghĩa lý luận, vừa đáp ứng đợc những đòi hỏi đang đặt ra từ thực tiễn cuộc sống.
Xuất phát từ vị trí quan trọng của NEP, có ý nghĩa quan trọng đối với các n-
ớc đang phát triển và chậm phát triển trên con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, từ khi
ra đời đến nay, NEP đã đợc giới khoa học ở các nớc, nhất là các nhà khoa học ở
Liên Xô cũ quan tâm nghiên cứu.
ở nớc ta trớc đây cũng có một số nhà khoa học nghiên cứu về NEP, đặc biệt
trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) việc nghiên cứu NEP đợc quan tâm
nhiều hơn. Nét nổi bật của các công trình nghiên cứu là đã đề cập tới nhiều nội

khăn gian khổ với sự thiệt hại cha từng có về kinh tế do chiến tranh gây ra. Hậu
quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã làm cho tình hình kinh
tế xã hội của nớc Nga Xô viết trở nên nóng bỏng biểu hiện rõ nét ở nhiều mặt sau:
* Về công nghiệp: ớc tính một phần t tài sản quốc dân của nớc Nga Xô viết bị
mất đi, trong đó nền công nghiệp bị tổn thất lớn nhất, tổng sản lợng công nghiệp
(tính triệu rúp) năm 1920 bị giảm đi hơn 4 lần so với năm 1917. Lực lợng sản xuất
giảm sút, một biểu hiện đáng lo ngại là có quá nửa số công nhân trong các ngành
công nghiệp thiếu việc làm, không phấn khởi sản xuất và đã bỏ nhà máy, hầm mỏ,
xí nghiệp của mình đi về nông thôn.
* Về nông nghiệp: Sự biến động của nền kinh tế nớc Nga đã ảnh hởng trực
tiếp đến nền sản xuất công nghiệp: diện tích gieo trồng, sản lợng ngũ cốc, sản
phẩm chăn nuôi đều bị giảm mạnh dẫn đến hậu quả tổng sản lợng nông nghiệp
năm 1921 chỉ còn lại 60% so với năm 1913. Bình quân lơng thực trên đầu ngời tr-
ớc chiến tranh thế giới là 405 kg/ngời thì đến năm 1920 giảm xuống chỉ còn lại
246 kg/ngời.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Về giao thông vận tải: Do chiến tranh, hệ thống giao thông của nớc Nga bị
tàn phá hết sức nghiêm trọng: 61% số đầu máy và 28% số toa xe của tàu hoả bị
tàn phá h hỏng, 4000 chiếc cầu, nhà ga, kho tàng bị phá huỷ. Năm 1920, khối lợng
vận chuyển chỉ còn 20%.
* Về tài chính - tín dụng: Nớc Nga - Xô viết bị lâm vào tình trạng rối loạn,
ngân sách bội chi quá lớn (năm 1918 bội chi 31 tỷ rúp, nhng đến năm 1920 con số
bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp).
b- Về chính trị - xã hội:
Sự sút kém về mặt kinh tế đã dẫn đến tình trạng đời sống của nhân dân lao
động nớc Nga ngày càng trở nên khó khăn hơn.
* Trong thời kỳ nội chiến nớc Nga phải thực hiện CSCSTC, tất nhiên đã gây
ra những thiệt hại về lợi ích của giai cấp công nhân và nông dân. Mặc dù nh vậy,
nhng những sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất cũng cha gây nên sự mỏi mệt về

ở một số nớc kinh tế còn lạc hậu nh nớc Nga.
Khi dùng khái niệm NEP, V.I. Lênin còn có ý định để phân biệt NEP với
CSCSTC. ở đây ngời muốn nhấn mạnh yếu tố kinh tế trong quan hệ với các yếu tố
khác.
NEP vừa là giải pháp trớc mắt để chống khủng hoảng đồng thời là một nội
dung mới có tính chiến lợc lâu dài. Từ các biện pháp mang tính mang tính chất
trực tiếp đi lên CNXH ở trong CSCSTC đã đợc thay bằng các biện pháp gián tiếp
thông qua những hình thức kinh tế quá độ, từ việc xoá bỏ thơng nghiệp chuyển
sang khôi phục thơng nghiệp và thực hiện trao đổi hàng hoá thông qua lu thông, sử
dụng lại đồng tiền.
Việc mở ra và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá dới CNXH, tiến hành trao đổi
hàng hoá hai chiều đã có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, công
nghiệp và nhằm cải thiện đời sống của nhân dân. Việc đi lên CNXH thông qua con
đờng chủ nghĩa t bản nhà nớc và hợp tác xã là một bớc phát triển mới sáng tạo về
t duy lý luận của V.I.Lênin.
Vì vậy, khi tiếp cận với các nội dung của NEP, hãy xuất phát từ cách nhìn
nhận theo quan điểm hệ thống, có nghĩa là phải nhìn rõ các mối quan hệ tác động
và ảnh hởng lẫn nhau. Nếu đem tách riêng từng nội dung, từng vấn đề ra thì không
thể nhận thức đợc một cách đầy đủ về NEP, thậm chí có thể hiểu sau nội dung của
nó.
III. nội dung và mục tiêu của chính sách kinh tế mới
1. ổn định kinh tế
Bớc vào thời kỳ hoà bình xây dựng, nhân dân nớc Nga phấn đấu để thực hiện
mục tiêu mà NEP đã nêu ra: Quyết tâm bảo vệ và xây dựng thành công CNXH ở
nớc Nga. Nhằm làm cho nớc Nga trở thành một nớc có nền kinh tế phát triển, nền
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
quốc phòng vững mạnh, đời sống nhân dân đợc ngày càng ấm no hạnh phúc. Đó là
mục tiêu lớn, bao trùm suốt thời kỳ quá độ. Mục tiêu đó lại đợc thể hiện trong các
bớc đi cụ thể mà NEP đã vạch ra:

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Các quan hệ kinh tế biểu hiện tập trung thành quan hệ lợi ích kinh tế đợc
phản ánh thành nội dung chi phối đời sống chính trị, t tởng của xã hội.
3. Lợi ích kinh tế là cơ sở, là nền tảng cho việc hình thành và giải quyết các
lợi ích khác nhau của con ngời. Tuy nhiên, không đợc tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế
(vật chất), biến nó thành cái duy nhất. Mặt khác, nếu không thấy lợi ích kinh tế,
hoặc hạ thấp vai trò của nó, sẽ phủ nhận nguyên tắc khuyến khích vật chất, triệt
tiêu động lực của con ngời, triệt tiêu động lực phát triển xã hội.
Dới chế độ xã hội mới, không chỉ có các lợi ích kinh tế đóng vai trò động lực
mà các nhân tố kích thích tinh thần trong lao động cũng có một ý nghĩa quan trọng.
4. Kích thích vật chất và tinh thần điều quan trọng là quan tâm và chú ý thoả
đáng đến lợi ích cá nhân ngời lao động. Nếu không thực hiện tối loị ích cá nhân
ngời lao động thì sẽ khó mà thực hiện các lợi ích khác. Lợi ích cá nhân ngời lao
động trở thành lợi ích trực tiếp và xuất phát để thực hiện các lợi ích khác trong sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
--- o0o---
Ch ơng II
chính sách kinh tế mới đối với
công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam.
I. Đặc điểm của hai dân tộc khi vận dụng nep
Thắng lợi của công cuộc đối mới trên đất nớc ta mới chỉ là bớc đầu. Trớc mắt
cũng nh lâu dài, để thực hiện công cuộc đổi mới thắng lợi hoàn toàn, Đảng ta,
nhân dân ta còn phải trải qua nhiều gian khổ, gay go và quyết liệt. Nớc Nga - Xô
Viết và Việt Nam vốn là hai dân tộc: cách xa về địa lý, dân số, phong tục tập
quán, truyển thống văn hoá.v.v.. Nhng trong lịch sử đấu tranh cách mạng giải
phóng dân tộc, đặc biệt trong công cuộc kiến thiết xây dựng đất nớc - xây dựng
chủ nghĩa xã hội, dới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cả hai dân tộc, lại có
những điểm tơng đồng và khác biệt.
1. Những điểm t ơng đồng

một đội ngũ chuyên gia giỏi về chuyên môn, giỏi về quản lý mới đủ sức để vận
hành nền sản xuất đa lại năng suất lao động cao. Nhng ở nớc Nga trớc đây, khi b-
ớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH, đội ngũ chuyên gia này thiếu nghiêm trọng. Tr-
ớc tình hình đó, Lênin đã phải dùng biện pháp thuê chuyên gia các nớc t bản với
mức lơng rất cao. Song, làm việc cũng rất khó khăn, vì nằm trong sự bao vây của
các nớc t bản. Điều quan trọng trên đây lại đợc khẳng định trong lời nói của Ngời:
Sẵn sàng đổi một tá những ngời cộng sản tồi để lấy một chuyên gia t sản giỏi.
Còn ở nớc ta bớc vào giai đoạn đổi mới đất nớc, chúng ta đã có thuận lợi hơn
nhiều so với nớc Nga trớc đây. Mặc dù, trong cuộc chiến tranh kéo dài, nhng Đảng
ta cũng đã dự đoán trớc ngày thắng lợi, do đó có sự chuẩn bị trớc đội ngũ cán bộ
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
để sau này xây dựng đất nớc. Vì vậy đến nay, nớc ta đã có một đội ngũ cán bộ kỹ
thuật, cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lành nghề khá đông đảo.
b. Thế giới và thời đại:
Ngoài những nét khác biệt có tính chất bên trong của mỗi nớc, chúng ta còn
thấy có những nét khác biệt về tình hình thế giới cũng nh sự phát triển chung của
mỗi thời đại (bên ngoài). Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hởng không
nhỏ đên việc xây dựng đất nớc của mỗi quốc gia, dân tộc.
Nớc Nga- Xô Viết xây dựng CNXH trong một thời điểm mà cả thế giới cha
ai làm. Chủ nghĩa đế quốc lại có âm mu cấu kết cấu với bọn phản động trong nớc
hòng bóp chết ngay từ đầu CNXH còn non trẻ. Chẳng những chúng muốn tiêu diệt
cách mạng nớc Nga mà còn ngăn chặn sự phát triển của CNXH trên toàn thế giới.
Đối với Việt Nam hiện nay, mặc dù hệ thống XHCN trên thế giới đã bớc vào
một giai đoạn biến đổi sâu sắc (sự sụp đổ của CNXH ở các nớc Đông Âu, đặc biệt
là Liên Xô). Về một phơng diện nào đó, chúng ta không tránh khỏi sự xao xuyến,
nếu nh không muốn nói là dao động trong nhận thức, trong t tởng, trong niềm tin
về CNXH. Không chỉ ở trong một bộ phận của nhân dân, mà ngay cả không it
những ngời cộng sản. Thế nhng, so với nớc Nga - Xô Viết trớc đây, dẫu sao những
thành tựu của CNXH vẫn còn in đậm trong nhân dân, trong những ngời cộng sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status