Giáo dục đạo đức mới với sự hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VŨ THỊ HUÊ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI VỚI SỰ HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH THẾ HỆ TRẺ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN THẾ KIỆT
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. ĐẠO ĐỨC MỚI, TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
MỚI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH THẾ
HỆ TRẺ 8
1.1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển
nhân cách thế hệ trẻ 8
1.1.1. Nhân cách và tính quy luật của sự hình thành nhân cách 8
1.1.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển nhân
cách thế hệ trẻ 22

1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Một năm khởi đầu từ mùa
xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Nếu
không có tuổi trẻ, sẽ không có sự phát triển nối tiếp lịch sử của mỗi quốc gia,
dân tộc cũng như không có sự phát triển của nhân loại. Kế thừa và vận dụng
sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khảng định: “Thanh niên là rường
cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự
thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập
quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ
cả về trình độ học vấn, chuyên môn đến lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính
trị, đạo đức v.v để tuổi trẻ trở thành người chủ tương lai của dân tộc vừa
“hồng” vừa “chuyên”, là lớp người xứng đáng kế tục sự nghiệp cách mạng
của Đảng, của dân tộc vì mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Do
đó, Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và
rất cần thiết”.
Hiện nay, nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO). Nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế
thế giới. Cơ cấu xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi. Phân hóa giàu
nghèo,phân tầng xã hội diễn ra phức tạp. Tình hình trên đã và đang tác động
đến thế hệ trẻ về ý thức chính trị, tâm trạng, đạo đức lối sống v.v Quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng chủ nghĩa xã hội, mở cửa hội nhập quốc tế đang làm cho những tác
động đó ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng hơn.

2
Trải qua hơn 25 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong mọi lĩnh
vực đã tác động tích cực đến thanh niên, tạo điều kiện cho họ tiến bộ về chính
trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ học vấn, khoa học công nghệ. Thanh

“Tình trạng suy thoái xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã
hội và tội phạm đáng lo ngại nhất là trong lớp trẻ” [16, tr.172-173]. Vậy tại
sao trong bộ phận thế hệ trẻ hiện nay lại có sự sa sút về phẩm chất đạo đức,
lối sống, ý thức pháp luật như vậy. Làm thế nào để khắc phục tình trạng trên.
Làm sao xã hội phải giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ vươn lên để trở thành
những con người phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về
tinh thần, trong sáng về đạo đức có một nhân cách phát triển toàn diện, là
động lực cho sự phát triển xã hội Việt Nam? Đây là tình huống có vấn đề mà
trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội chúng ta phải chú ý giáo dục, xây
dựng. Trong các nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách
của thế hệ trẻ thì giáo dục đạo đức mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi
chính thông qua giáo dục đạo đức mới sẽ góp phần quan trọng vào việc hình
thành trong mỗi con người những phẩm chất đạo đức trong sáng, một nhân
sinh quan sống tích cực, giúp thế hệ trẻ đứng vững trên mặt trận văn hóa, tư
tưởng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế hiện nay.
Tất cả những điều trình bày trên đây là những lý do tôi chọn đề tài:
“Giáo dục đạo đức mới với sự hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ ở
Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian gần đây có nhiều công trình bài viết, nhiều công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài. Tiêu biểu là một số công trình sau đây:
Một số đề tài nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đạo đức và giáo
dục đạo đức:
Đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), “Đạo đức thế hệ trẻ trong
quá trình chuyển hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam - thực trạng vấn đề và giải pháp”; Thái Duy Tuyên chủ biên (Hà
Nội, 1994), “Tìm hiểu định hướng giá trị của Thanh niên Việt Nam trong điều

4
kiện kinh tế thị trường”; Mạc Văn Trang chủ nhiệm (1995), “Đặc điểm lối

nhân cách sinh viên.
Luận án Tiến sĩ: “Giáo dục đạo đức với sự hình thành và phát triển
nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Sỹ
Phán (2000).
Luận án Tiến sĩ: “Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách
của con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay” của Lê Thị Thủy
(2000).
Luận văn Thạc sĩ “Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống với việc bồi
dưỡng nhân cách cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Hà Thị Thùy Dương
(2001).
Luận án Tiến sĩ Triết học “Giáo dục lý luận Mác-Lênin với việc hình
thành và phát triển nhân cách ở sinh viên Việt Nam hiện nay” của Hoàng Anh
(2006).
Qua những tài liệu tìm được, vấn đề giáo dục đạo đức mới với việc
hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ hiện nay vẫn là khoảng đất
trống. Và thực tế chúng tôi thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống và khảo sát trực tiếp giáo dục đạo đức mới với sự hình thành và
phát triển nhân cách thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam.
Đề tài luận văn này hy vọng có được những đóng góp vào việc nghiên
cứu làm rõ vấn đề này. Tác giả luôn ý thức đây là một vấn đề quan trọng và
một hướng nghiên cứu mới cần đi sâu. Những thành tựu nghiên cứu cũng như
những giá trị khoa học nhiều mặt của các công trình được công bố trong và
ngoài nước là tài liệu quý cho tôi tham khảo kế thừa trong quá trình nghiên
cứu đề tài luận văn này.

6
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Góp phần làm sáng tỏ vai trò và thực trạng của giáo dục đạo đức mới
trong sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam, từ

tra xã hội học nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ nội tại giữa đạo đức mới -
nhân cách, là cơ sở khoa học để luận giải vai trò và thực trạng của giáo dục
đạo đức mới trong sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ hiện nay.
Luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục đạo đức mới với việc hình thành, phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
hiện nay.
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo trong giảng dạy và nghiên cứu triết học về vấn đề đạo đức, nhân cách,
con người ở các trường Đại học, Cao đẳng, trường Chính trị Tỉnh, Thành phố
cũng như ở các cơ quan làm công tác tư tưởng văn hoá, các đối tượng quan
tâm đến đề tài.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Đạo đức mới, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức mới
trong việc hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ.
Chương 2: Giáo dục đạo đức mới trong việc hình thành, phát triển
nhân cách thế hệ trẻ hiện nay - thực trạng và giải pháp.

8
Chương 1
ĐẠO ĐỨC MỚI, TẦM QUAN TRỌNG
CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MỚI TRONG VIỆC HÌNH THÀNH,
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH THẾ HỆ TRẺ

1.1. Nhân cách và những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát
triển nhân cách thế hệ trẻ

Theo mô hình phân biểu học của Jung (1876-1961), nhà tâm lý học Thụy
Điển, đặc trưng của nhân cách trước hết là xúc cảm và tình cảm. Ông cho rằng,
đặc điểm thể tạng và đặc điểm sinh lý là nhân tố quy định nhân cách.
Trong nghiên cứu của nhà tâm lý học hành vi K.Lewin, nhân cách được
xem như là” trường tâm lý bên trong” của con người [9, tr.73].
Có thể liệt kê rất nhiều quan niệm về nhân cách theo nhiều khuynh
hướng khác nhau của các nhà tâm lý học phương Tây. Những điểm chung
trong các quan niệm của họ là: nhân cách dường như là những biểu hiện,
những trạng thái, quá trình thuộc về yếu tố sinh học. Họ gần như phủ nhận
vai trò của yếu tố xã hội hoặc không đánh giá đúng tác động của những yếu
tố đó.
Chúng tôi cho rằng, nhân cách hiểu theo nghĩa chung nhất là sự biểu
hiện Người của con người. Bản chất con người mang tính xã hội (với nghĩa,
tính xã hội là chỗ phân biệt con người với sinh vật khác, giữa nhân tính và thú
tính), thì nhân cách là trình độ xã hội hóa, là chất lượng xã hội mà mỗi cá thể
người thẩm thấu, chuyển hóa trong quá trình tham gia vào đời sống xã hội. Vì
vậy, không thể quan niệm nhân cách chỉ thuộc về cái sinh học. Không ai có
thể hình dung được “nhân cách của một con vật” hay “nhân cách của một đứa
trẻ sơ sinh”. Mặc dù, đứa trẻ, ngay từ khi mới sinh ra đã là một con người với
tất cả những đặc điểm, những yếu tố của sự phát triển theo quy luật sinh học.

10
Quan niệm xã hội hóa nhân cách
Đối lập với khuynh hướng sinh vật hóa nhân cách là khuynh hướng xã
hội hóa nhân cách. Theo khuynh hướng này nhân cách, bản chất, bản tính của
con người không liên hệ với tồn tại của nó về mặt sinh học. Những đại biểu
của trường phái này coi nhân cách của con người là sản phẩm thuần túy của
kinh tế, văn hóa, xã hội. Trên thực tế, họ gần như phủ nhận vai trò của yếu tố
sinh học trong sự phát triển của con người và nhân cách. Một số tác giả thuộc
trường phái xã hội học Pháp (E.Đuyêcơhem), giải thích những hành vi của

(triết học, tâm lý học, xã hội học) nên ngay giữa các nhà khoa học cùng đứng
trên lập trường Macxit cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong quan niệm về
nhân cách.
Có thể khái quát một số quan niệm về nhân cách tương đối phổ biến
trong học thuật như sau:
Nhân cách được hiểu như là cá nhân con người với tư cách là chủ thể
của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức.
Nhân cách được hiểu như là các phẩm chất mang tính ổn định, những
thuộc tính sinh vật hoặc thuộc tính xã hội tạo nên bản chất của nhân cách.
Nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ xã hội của cá nhân.
Nhân cách được hiểu như là một cấu trúc tâm lý, những trạng thái,
thuộc tính tâm lý, hệ thống tâm lý của cá nhân.
Ở Việt Nam, lâu nay việc nghiên cứu và giảng dạy về nhân cách chủ
yếu theo hướng tâm lý học. Gần đây, trong một số bài viết trên các tạp chí,
sách, báo khoa học đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề nhân cách. Một
số tác giả khi định nghĩa nhân cách đã đưa ra những ý kiến mới từ những cách
nhìn rộng - hẹp khác nhau.
Trong từ điển tiếng Việt (Văn Tân chủ biên), nhân cách được quan
niệm là “Phẩm chất của con người” [73, tr.38-40]. Trong “Đại từ điển tiếng
Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên), nhân cách được hiểu như là “tư cách và

12
phẩm chất, đạo đức của con người”. Trong từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc
Viện- chủ biên), nhân cách là “tổng hòa tất cả những gì hợp thành một con
người, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét: Đặc điểm thể chất, tài năng,
phong cách, ý chí đạo đức, vai trò xã hội. Và là một cá nhân có ý thức về bản
thân, đã tự khảng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi
hành vi” [83, tr.190].
Trong công trình: “Mô hình nhân cách thanh niên năm 2000”, tác giả
Phạm Hoàng Gia cho rằng: Mô hình nhân cách là “mẫu người lý tính” của xã

đức, thẩm mỹ và của các chuẩn mực xã hội khác.
Từ việc khảo sát các quan niệm về nhân cách, theo chúng tôi, nhân
cách là hệ thống giá trị làm Người mà cá nhân đạt được với sự trưởng thành
về phẩm chất và năng lực trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của
mình, được xã hội đánh giá và thừa nhận
Nhân cách là những phẩm chất, những trạng thái, những tính chất xu
hướng bên trong của từng cá nhân. Đó là thế giới của cái “tôi” do tác động
tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân
đó có thể tồn tại và hình thành tính riêng của mình đối với bản thân và xã hội
[27, tr.24].
Để có thể hiểu sâu sắc hơn về khái niệm nhân cách chúng ta tìm hiểu
một số khái niệm liên quan với khái niệm “Nhân cách”
Khái niệm “nhân cách” có mối liên hệ mật thiết với các khái niệm “con
người”, “cá nhân”, nhưng không phải là những khái niệm đồng nhất. Để làm
rõ khái niệm nhân cách cần phải phân biệt nội dung cơ bản của những khái
niệm đó.
Trước hết, khái niệm “con người” (persons) dùng để chỉ một chỉnh thể
sinh vật - xã hội. Cơ thể con người là một thực thể sinh vật, ở bậc thang cao
nhất của sự tiến hóa vật chất. Là một loại sinh vật (Homo Sapiens), con người
có những đặc thù cấu trúc cơ thể là tiền đề vật chất cho mọi sự phát triển của

14
nó. Yếu tố sinh vật trong con người là “những yếu tố hữu sinh, hữu cơ, những
cái về mặt phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật con người” [13, tr.13]. Đặc
biệt, bộ não phát triển là tổ chức vật chất cao nhất trong điều kiện tồn tại xã
hội của con người, có khả năng phản ánh thế giới, có khả năng tiếp thu và
truyền đạt cho người khác những kinh nghiệm lịch sử xã hội.
Sự xuất hiện con người đầu tiên là do sự đột biến sinh vật hay chỉ bằng
con đường biến đổi dần dần cho đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau
giữa các nhà khoa học [47], [76]. Những lập luận của Ăngghen “Lao động

điểm cấu tạo cơ thể đại biểu cho loài; thứ hai là một “nguyên tử” đơn nhất
riêng rẽ của cộng đồng xã hội” [85, tr.25]. Với tư cách là một thành viên của
xã hội, con người được cụ thể hóa trong những cá nhân hiện thực ở cấp độ
này, con người được đặc trưng bằng nhiều thuộc tính như:tính chỉnh thể sinh
học - xã hội, tính ổn định trong sự tương tác với môi trường. Nói một cách
khác, mỗi cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất gồm cả một hệ thống những đặc
điểm cụ thể, riêng biệt, không lặp lại giữa các cá thể về hình dáng, sức khỏe,
năng lượng, trí tuệ, ý chí, tình cảm…
Khái niệm cá nhân được dung trong mối quan hệ với cái đối lập là “xã
hội” mỗi con người ngay cả đứa trẻ mới sinh ra đã tiềm tang trong nó những
điều kiện và khả năng để trở thành cá nhân như: cấu tạo cơ thể, hệ thần kinh,
các giác quan… nhưng con người chỉ được xem là một cá nhân khi nó đã đạt
tới độ trưởng thành về mặt thể lực,trí tuệ, và các phẩm chất xã hội. Chỉ trong
mối quan hệ với xã hội, con người mới là một cá nhân. Thông qua quan hệ xã
hội và những hoạt động xã hội, mỗi cá nhân khảng định cái “tôi” có bản sắc
riêng, có đặc tính riêng và đạt được những trình độ nhận thức nhất định như là
kết quả phát triển nội tại của chính nó. Sự phát triển của cá nhân phụ thuộc
vào sự phong phú của những quan hệ xã hội mà cá nhân đó tham dự. Trong
tác phẩm “Hệ tư tưởng Đúc”, C.Mác đã viết: Chỉ trong cộng đồng cá nhân

16
mới có những phương tiện để phát triển toàn diện những khả năng, khiếu của
mình; chỉ trong cộng đồng mới có thể có tự do cá nhân. Vấn đề đặt ra là ở
chỗ, phải tạo ra môi trường xã hội trong đó những phẩm chất và năng lực
không bị hòa tan mà được phát triển tới trình độ tự ý thức, tự biểu hiện tự
đánh giá, tự điều chỉnh hành vi của mình với tư cách chủ thể của hoạt động,
của lịch sử cùng với việc ra quá trình hình thành cá nhân, giải quyết một cách
khoa học mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, triết học Mác đã chỉ ra rằng: xã
hội sẽ vận động đến một trình độ mà ở đó “sự phát triển tự do và toàn diện
của mọi người là điều kiện cho sự phát triển và toàn diện của mỗi người”.

thích ứng với xã hội của con người, là hiệu suất hiệu quả trong một lĩnh vực
hoạt động nào đó của họ. Các năng lực đó bao gồm: 1) năng lực xã hội hóa
(khả năng thích nghi, năng lực sáng tạo, cơ động, mềm dẻo trong, cuộc sống xã
hội); 2) năng lực chủ thể (khả năng biểu hiện tính độc đáo, đặc sắc, nét riêng có
của cá nhân); 3) năng lực hành động (khả năng hành động có tính mục đích,
chủ động, tích cực, sáng tạo với năng lực và hiệu quả cao); 4) năng lực giao
lưu, giao tiếp xã hội [23, tr.94]. Cách hiểu khái quát nhất về cấu trúc nhân cách
bao gồm “đức và tài”, năng lực thể chất và năng lực tinh thần. Thực chất, nhân
cách là một chỉnh thể thống nhất của nhiều thuộc tính, phẩm chất, xu hướng,
khả năng, phong thái, hành vi, tính chất… bên trong, riêng biệt của mỗi cá
nhân, nó nói lên sự khác nhau giữa cá nhân này với cá nhân khác.
1.1.1.2. Tính quy luật của sự hình thành nhân cách
Sự hình thành và phát triển của nhân cách gắn liền với sự phát triển
của con người qua quá trình giáo dục, tự giáo dục và hoạt động thực tiễn.
Phẩm chất xã hội và lý tưởng trong xã hội của chủ thể sáng tạo phù hợp
với yêu cầu nhân văn hóa con người trong một đời sống cộng đồng đang
hướng tới những giá trị, mục tiêu phát triển bền vững, nhằm thực hiện m ột xã
hội "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", một thế giới
tiến bộ, nhân văn. Như thế, để có được nhân cách sáng tạo, con người không

18
phải chỉ có nỗ lực cá nhân, mà còn phải được giáo dục, tức là có sự chuẩn bị,
trang bị và hướng dẫn nhân cách trở thành nhân cách sáng tạo, con người sáng
tạo. Có thể đưa ra đây những yêu cầu chủ yếu đối với hoạt động giáo dục hiện
nay để "sản xuất" ra những nhân cách sáng tạo nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững trong thời đại toàn cầu hóa. Cung cấp những tri thức nhiều mặt
mang tính hiện đại do các thành tựu khoa học mà nhân loại hiện nay đã đem
lại với tính cách là tài sản chung của mọi xã hội. Những tri thức khoa học này
không chỉ là mảnh đất nuôi dưỡng trí tuệ con người, mà điều chủ yếu hơn,
chúng là bàn đạp để mọi sáng tạo của cá nhân có thể nảy nở, cất cánh.

thái tự nhiên. Nhân cách sáng tạo là nhân cánh tự chủ, tự ý thức và tự giác.
Không có sự nỗ lực, chủ động và tích cực của cá nhân thì sẽ không có sự sáng
tạo, sự tìm tòi cái m ới tiến bộ hơn, giá trị hơn. Chính vì thế, giáo dục nhân
cách sáng tạo là tạo ra mọi nhân tố mọi điều kiện để bản thân nhân cách sáng
tạo tự chuyển hóa chúng thành năng lực cá nhân, thành khả năng bên trong,
thành "do mình, của mình". Mọi sự áp đặt, giản đơn, máy móc, khô cứng
trong giáo dục nhân cách sáng tạo là hoàn toàn xa lạ, phản tác dụng. Nói cách
khác, đó là sự định hướng, chỉ đường, hỗ trợ, tạo mọi tiền đề cần thiết để chủ
thể sáng tạo tự khẳng định "cái mới" của mình.
Sự hình thành và phát triển nhân cách là quá trình thống nhất giữa cá
nhân và xã hội, giữa mặt sinh vật và mặt xã hội. Đó lá sự thống nhất giữa
điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau, như triết học, xã hội học, kinh tế - chính trị học, luật học, tâm lý học, y
học, giáo dục học… Trong đó, quan điểm triết học về nhân cách con người,
về cơ bản, có những khác biệt so với quan điểm của các khoa học cụ thể. Triết
học Mác - Lênin xem nhân cách là "những cá nhân con người với tính cách là
sản phẩm của sự phát triển xã hội, chủ thể của lao động, của sự giao tiếp, của
nhận thức, bị quy định bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể của đời sống xã

20
hội". Theo đó, nhân cách trước hết là đặc trưng xã hội của con người, là
"phẩm chất xã hội" của con người. Khi nghiên cứu về nhân cách, một trong
những vấn đề đầu tiên và cũng là then chốt, là vấn đề sự hình thành nhân
cách. Giải quyết vấn đề này theo những cách khác nhau sẽ dẫn tới quan niệm
khác nhau về bản chất của nhân cách. Chính vì thế, sự tranh luận giữa các
trường phái triết học bàn về nhân cách thường xoay quanh chủ đề này. Trong
bài viết này, chúng tôi không có tham vọng trình bày mọi quan điểm của các
trường phái triết học trong lịch sử, mà chỉ tập trung vào quan điểm mácxít về
sự hình thành nhân cách.

nghĩa thực chứng). Theo họ, các hành vi của con người đều là do tư tưởng, ý
thức xã hội tạo nên đồng thời, trường phái này đã phủ nhận mối liên hệ khách
quan giữa hành vi con người với những điều kiện vật chất của sản xuất và tái
sản xuất con người, với tự nhiên.
Đối lập với hai quan điểm cực đoan trên, triết học Mácxít cho rằng,
trong con người, mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội không phải là đối
lập nhau mà thống nhất với nhau. Có thể thấy rằng, con người là một cơ thể
hữu sinh có trình độ tổ chức sinh học cao nhất và do vậy, quan hệ giữa các
yếu tố sinh vật - xã hội là rất phức tạp, sâu sắc Tổ chức cơ thể của con người,
như các giác quan, hệ thần kinh trung ương là những tiền đề sinh vật, được
xem như cơ sở vật chất và có ảnh hưởng tới sự phát triển con người. Thực tế
đã chứng minh rằng, những khiếm khuyết về mặt cơ thể, về gen… đã có ảnh
hưởng không nhỏ tới sự phát triển con người, tới thế giới quan, định hướng
giá trị của họ, hay những năng khiếu bẩm sinh, những tài năng chính là do
các yếu tố sinh vật chi phối. Một ví dụ khác là, ngày nay, người ta thường
nhắc tới nhịp điệu sinh học (đồng hồ sinh học) như một cơ chế có ảnh hưởng
không nhỏ tới hoạt động của con người, hay nhiều kết quả nghiên cứu khoa
học đã chỉ ra rằng, khi có một bên nào đó hoạt động hoặc ngừng hoạt động thì
con người có sự thay đổi nhất định.

Trích đoạn Những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách thế hệ trẻ Đạo đức mới, giáo dục đạo đức mớ Vai trò và nội dung của giáo dục đạo đức mới trong việc hình thành phát triển nhân cách đối với thế hệ trẻ hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status