Phân tích vai trò của các yếu tố đối với sự hình thành, phát triển nhân cách. Liên hệ thực tiễn. - Pdf 33

A. LỜI MỞ ĐẦU
Loài người từ khi ra đời đã trải qua biết bao biến động, thăng trầm. Cùng với
sự phát triển của xã hội, lịch sử thì những giá trị được coi là chuẩn mực về nhân cách
cũng dần dần được định hình, phát triển, biến đổi phù hợp với đời sống. Xã hội càng
phát triển lên cao thì những yêu cầu về nhân cách càng được coi trọng. Nhân cách là
đỉnh cao nhất của sự phát triển tâm lý của con người, của tự ý thức và tự điều chỉnh
bản thân con người. Việc nghiên cứu vai trò của các yếu tố liên quan đến sự hình
thành và phát triển nhân cách là rất cần thiết. Bởi có sự hiểu biết đó thì mỗi cá nhân
có thể dễ dàng hơn trong việc định hướng nhân cách cho mình.
Chính vì vậy, em xin lựa chọn đề tài “Phân tích vai trò của các yếu tố đối với
sự hình thành, phát triển nhân cách. Liên hệ thực tiễn”.

B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM NHÂN CÁCH
Khi xem xét con người với tư cách là một thành viên của một xã hội nhất định,
là chủ thể của các mối quan hệ con người, của hoạt động có ý thức và giao tiếp thì
chúng ta nói đến nhân cách của họ.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhân cách được hiểu là tổ hợp
những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của
người ấy.
Nói thuộc tính tâm lý là nói hiện tượng tâm lý tương đối ổn định – kể cả phần
sống động và phần tiềm tàng có tính quy luật chứ không phải xuất hiện một cách
ngẫu nhiên. Phần tiềm tàng được hiểu là nét, thói hay tính tình….
Chữ “tổ hợp” có nghĩa là những thuộc tính tâm lý hợp thành nhân cách có
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau làm thành một hệ thống, một cấu trúc
nhất định. Cùng một thuộc tính đó, nằm trong cấu trúc khác cũng trở nên khác đi.
1


Nói “bản sắc” là muốn nói trong số những thuộc tính đó, trong hệ thống đó có
cái chung từ xã hội, từ giai cấp, tập thể gia đình vào con người những cái chung này

năng của cơ thể từ các thế hệ trước theo con đường di truyền, trong đó có những đặc điểm
về cấu tạo và các chức năng của các giác quan và não. Tuy nhiên, không thể kết luận về
vai trò quyết định của di truyền trong sự hình thành và phát triển tâm lý nhân cách.
Bẩm sinh – di truyền ảnh hưởng đến tốc độ phát triển nhân cách, như một đứa
trẻ bị dị tật bẩm sinh như mù lòa thì việc phát triển nhân cách sẽ chậm chạp và kéo
dài hơn những đứa trẻ bình thường.
Bẩm sinh – di truyền còn tạo ra sự khác biệt về xu hướng phát triển nhân cách,
như khi sinh ra mỗi đứa trẻ đã có một tư chất riêng nên khi lớn lên thì người trở thành
họa sỹ, người khác làm ca sỹ,...
Hay bầm sinh – di truyền còn có ảnh hưởng đến mức độ thành đạt trong cuộc
sống, nếu như việc phát triển tư chất một cách phù hợp thì sẽ đạt được sự thành công
hơn, ví dụ như một đứa trẻ có tư chất về hội họa thì cần phải được tạo điều kiện cho
tham gia câu lạc bộ về hội họa chứ không thể bắt đứa trẻ đó tham gia câu lạc bộ âm
nhạc được.
Ngoài ra, yếu tố bẩm sinh – di truyền còn ảnh hưởng đến việc rèn luyện ý chí
của con người, đối với những trẻ em sinh ra đã bị khuyết tật thì cần phải cố gắng
nhiều hơn những người khác, phải rèn luyện ý chí vươn lên, nỗ lực gấp hai, gấp ba
lần người bình thường để bù đắp những thiếu hụt trong cuộc sống.
Bất cứ một chức năng tâm lý nào mang bản chất con người của nhân cách có
thể được phát triển trong hoạt động của bản thân cá nhân đó và trong điều kiện của xã
hội loài người. Một người chỉ có thể phát triển khả năng tiềm tàng khi có môi trường
thuận lợi, nhu cầu và sự rèn luyện.

3


Ví dụ: MoZart được sự chăm lo dạy dỗ của người cha vốn là một nhạc sỹ nổi
tiếng của thành Viên. Từ nhỏ cậu chỉ thích chơi những trò chơi có liên quan đến âm
nhac. Đến năm 3 tuổi đã nghe hiểu được âm nhạc, 4 tuổi đánh được đàn dương cầm
cổ và organ. Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc 5 tuổi, viết những bản nhạc

cảnh sống tự nhiên. Họ giải thích nguyên nhân một số thói xấu hay đức tính cao quý
của dân tộc này hay dân tộc khác bằng hoàn cảnh địa lý. Đó là một quan điểm sai lầm
và thiếu tính khoa học.
* Hoàn cảnh xã hội
Hoàn cảnh xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển
nhân cách của con người.
Ví dụ: Dân gian đã có câu “Đi với bụt thì mặc áo cà xa, đi với ma thì mặc áo
giấy”, tức là trong quan hệ xã hội khác nhau thì con người sẽ có những ứng xử khác
nhau từ đó hình thành nét tâm lý khác nhau trong nhân cách mỗi con người.
Nhân cách là sản phẩm của xã hội. Một đứa trẻ muốn trở thành nhân cách phải
có sự tiếp xúc với người lớn để nắm vững tri thức, kinh nghiệm lịch sử xã hội để
được chuẩn bị bước vào cuộc sống và lao động trong văn hóa của thời đại.
Quan hệ sản xuất: quy định nội dung của nhiều nét tâm lý cơ bản của nhân cách.
Tâm lý nhân cách phụ thuộc vào quan hệ chính trị và pháp luật. Vị trí giai cấp
của cá nhân sẽ kích thích tính tích cực của nó ở mức độ này hay mức độ khác trong
vai trò xã hội. Nhu cầu, hứng thú, lí tưởng phụ thuộc không ít vào vai trò ấy.
- Tâm trạng chung: bao trùm bầu không khí lạc quan hay bi quan. Sức phấn
đấu chung của nhóm hay cá nhân đều chịu ảnh hưởng của tâm trạng chung đó.



dụ: Sau chiến thắng năm 1975 đất nước ta hoàn toàn thống nhất, hai miền bắc nam

5


sum họp một nhà, đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả nhân dân vui
chung một niềm vui chiến thắng, hòa bình, độc lập, tự do.
- Thi đua: là phương thức tác động qua lại giữa các cá nhân, nhóm và tập thể
làm tăng cho kết quả hoạt động của nhau nhiều phẩm chất nhân cách, tập thể được

dụ:: Nguyễn Thị Hồng - huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc bị liệt toàn thân bẩm
sinh nhưng lại là một họa sĩ, một hồn thơ trọn vẹn. Điều đáng khâm phục là bởi
những bức tranh, bài thơ ấy đều được chị vẽ bằng miệng. Trước những mất mát ấy,
chị vẫn rất lạc quan và hy vọng một ngày nào đó thơ của chị sẽ được xuất bản; sẽ
kiếm được tiền để nuôi mẹ già bằng sức lao động của mình.
- Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu do tác động tự phát của
môi trường xã hội gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã
hội. Ví dụ: Ngành tâm lý học tư pháp có vai trò rất quan trọng trong giáo dục và cải
tạo người phạm tội là vị thành niên tiến bộ trở lại hoà nhập cộng đồng. Từ việc cải
tạo sẽ giúp trẻ em từng phạm tội chủ động cải tạo, hoàn lương, trở thành người tốt,
sống có ích cho gia đình và xã hội.
Tuân Tử nói: "Nhân chi sơ tính bổn ác, lý tính hậu lai tập đắc", nghĩa là con
người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do học tập mà có lý trí, biết cái
đúng cái sai.
- Giáo dục có thể đi trước hiện thực, trong khi tác động tự phát của xã hội chỉ
ảnh hưởng đến cá nhân ở mức độ hiện có mà thôi. Ví dụ: Hiện nay Việt Nam đang
trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưng ngành giáo dục lại đề ra mục tiêu
là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài.
- Những công trình nghiên cứu về tâm lý học và giáo dục học hiện đại đã
chứng minh rằng: sự phát triển tâm lý của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp
trong những điều kiện của sự dạy học và giáo dục.
7


Ví dụ: 2 đứa trẻ được sinh ra trong 2 gia đình có hoàn cảnh khác nhau. Nhưng
đứa trẻ A, có bố mẹ đều là công chức Nhà nước nên A được giáo dục và quan tâm
đầy đủ. Còn B sinh ra đã mồ côi cha mẹ, nhà nghèo không có điều kiện đi học nên dễ
bị dụ dỗ xa vào con đường tệ nạn. Kết quả là sau 10 năm thì A trở thành một học sinh
ưu tú còn B bị giam giữ để cải tạo do có hành vi trộm cắp tài sản.

chuẩn mực… tác động vào thế giới khách quan, làm ra sản phẩm của hoạt động.
Ví dụ: Khi học môn Tâm lý học đại cương, bạn A đã hiểu được vai trò của trí nhớ,
các quá trình nhớ và biện pháp để nâng cao trí nhớ… từ đó bạn đã biết cách vận dụng vào
công việc học tập nói chung và đã đạt kết quả cao hơn trong các kì thi.
Quá trình chủ thể hóa: là quá trình biến những cái từ bên ngoài hiện thực khách
quan thành những cái của chủ thể. Tất cả những cái từ hiện thực khách quan sẽ được
cá nhân lĩnh hội, tái tạo và biến nó thành cái của chủ thể. Đó chính là quá trình biến
những cái bên ngoài thành tâm lý của chủ thể. Ví dụ: Sau khi nghe thầy cô giáo giảng
dạy, truyền đạt nội dung bài học thì bản thân em đã chú ý lắng nghe, lĩnh hội, tái tạo
và biến nó thành kiến thức của mình. Trong cuộc sống cũng như trong học tập, em có
thể sử dụng kiến thức ấy để đáp ứng nhu cầu cá nhân.
Như vậy, hoạt động được xem là sự vận động tạo thành tâm lý nhân cách – sự
vận động gắn chủ thể hoạt động với thế giới đối tượng xung quanh nó.
5. Yếu tố giao tiếp
Giao tiếp xã hội là mối quan hệ giữa con người với nhau, qua đó có sự nảy
sinh, tiếp xúc tâm lý được biểu hiện ở quá trình thông tin, rung cảm và hiểu biết lẫn
nhau. Giao tiếp có vai trò quan trọng đến hình thành nhân cách.
Đối tượng của giao tiếp là những chỉnh thể tâm lý sống động, những nhân cách
hoàn chỉnh. Ở đây diễn ra mỗi quan hệ giữa chủ thể với chủ thể. Chính con người làm
xuất hiện, duy trì, phát triển giao tiếp và trở thành sản phẩm của giao tiếp. Nhờ giao tiếp
9


mà con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hóa, chuẩn mực xã
hội, thông qua giao tiếp con người phát triển được năng lực của mình.
Ví dụ: 2 bạn sinh viên giao tiếp với nhau về vấn đề “Phương pháp học tập”.
Khi đó, 2 bạn đã trao đổi, bày tỏ những suy nghĩ, ý kiến của mình về nâng cao nhận
thức trong quá trình học tập. Qua đó, cả 2 bạn đều hiểu được những quan điểm nhau,
từ đó sàng lọc ra những phương pháp hữu ích để có thể áp dụng. Thông qua việc giao
tiếp thì 2 bạn sinh viên đã lĩnh hội được những tri thức, kinh nghiệm từ người bạn

NỘI DUNG

TRANG

A. LỜI MỞ ĐẦU

1

B. NỘI DUNG

1

I. Khái niệm nhân cách

1

II. Vai trò của những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát

2

triển nhân cách
1. Di truyền

2

2. Hoàn cảnh sống

4

3. Nhân tố giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status