Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam Luận văn ThS. Kinh tế - Pdf 28

HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________________________ ĐẶNG THỊ HOÀI
GIẢM NGHÈO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO THEO
HƢỚNG BỀN VỮNG 7

3.2.2. Những định hướng giảm nghèo đến năm 2020 69
3.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảm nghèo và
thực hiện giảm nghèo bền vững 71
3.3.1. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực
xóa đói giảm nghèo 72
3.3.2. Nhóm giải pháp trực tiếp hỗ trợ người nghèo 75
3.3.3. Nhóm giải pháp đối với các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ
giảm nghèo đặc thù 79
3.3.4. Giải pháp đối với khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUÂ
̣
N VĂN ĐBKK: Đặc biệt khó khăn
NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
LĐTB và XH: Lao động - Thương binh và Xã hội
WB: Ngân hàng Thế giới
XĐGN: Xóa đói giảm nghèo

1
MỞ ĐẦU

nhiều khó khăn, thách thức, trong đó đặc biệt kể đến tính không bền vững của
công tác giảm nghèo. Nguy cơ tái nghèo rất cao, hơn nữa có nhiều hộ gia đình
không thuộc nhóm hộ nghèo nhưng thu nhập bình quân của họ nằm sát ngay
trên chuẩn nghèo, chỉ cần một rủi ro như ốm đau, dịch bệnh, thiên tai, lạm
phát… Thì ngay lập tức có hàng vạn hộ “rơi” vào nhóm hộ nghèo. Điều này
đặt ra vấn đề phải làm thế nào để tăng tính bền vững trong công tác giảm
nghèo và đảm bảo sự bền vững của kết quả nghèo trong thời gian tới, tính
theo giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2015 - 2020 khi nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp.
Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp tục nghiên
cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường tính bền vững
trong xây dựng, thực hiện các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo,
cũng như công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Cần có những phân tích, đánh
giá để tìm nguyên nhân của những thành công, thất bại trong quá trình thực
hiện công tác giảm nghèo để từ đó nâng cao tính bền vững của công cuộc xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Hơn thế nữa, mặc dù ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về các vấn đề lien quan đến xóa đói giảm nghèo nhưng các công trình chưa
hoặc không nhấn mạnh vào giảm nghèo theo hướng bền vững.
Vì vậy, “Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam” được tác giả
chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn cao học.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xóa đói
giảm nghèo nói chung, đề ra các cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực
hiện các chương trình giảm nghèo. Một số công trình như sau:
Những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ nông dân nghèo
vùng bằng Sông Hồng, luận án TS của nghiên cứu sinh Lê Thị Nghệ, Bộ NN
và PTNT bảo vệ năm 1995 tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội.

3

4
cách tổng thể về công cuộc giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất những giải
pháp mang tính bền vững cao và định hướng chúng phục vụ những định
hướng xuyên suốt, lâu dài phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất
nước từ nay đến năm 2020. Đặc biệt, quan niệm, nội dung của thuật ngữ
“giảm nghèo bền vững” cho đến nay vẫn là một khoảng trống trong nghiên
cứu khoa học, mặc dù nó đã được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại chúng và tại nhiều cuộc hội thảo, hội nghị và các
nghiên cứu khoa học bàn về vấn đề nghèo đói.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công cuộc giảm nghèo và giảm
nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam trong thời gian qua. Tổng kết, đánh
giá, phân tích tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là
giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam thời gian qua. Từ đó đề xuất
một số giải pháp tác động đến công tác giảm nghèo ở Việt Nam nhằm đạt
hiệu quả giảm nghèo cao và bền vững trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo
bền vững.
- Làm rõ sự cần thiết và tính tất yếu phải giảm nghèo và giảm nghèo
theo hướng bền vững; những nhân tố ảnh hưởng đến giảm việc thực hiện công
tác giảm nghèo và mục tiêu giảm nghèo bền vững.
- Tìm hiểu kinh nghiệm giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới, từ
đó rút ra bài học cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện công tác giảm nghèo và giảm
nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó tổng
kết những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp để công tác giảm nghèo đạt hiệu quả cao và
đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.

6
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của giảm nghèo theo hướng bền
vững.
Chƣơng 2: Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền
vững ở Việt Nam.
Chƣơng 3: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp giảm nghèo
theo hướng bền vững ở Việt Nam. 7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO
THEO HƢỚNG BỀN VỮNG

1.1. Lý luận chung về đói nghèo
1.1.1. Quan niệm về vấn đề đói nghèo, ngưỡng nghèo và các chỉ tiêu
về mức độ nghèo
1.1.1.1. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế và Việt Nam về vấn đề
nghèo đói
Mặc dù trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan niệm về nghèo đói
được các thiết chế kinh tế quốc tế, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đưa
ra. Mỗi một quan niệm đưa ra đều dựa trên những nguyên tắc và cách tiếp cận

0.5 (90)
0.0 (2000)
Philipines
19.1 (90)
13.2 (2000)
Thái Lan
12.5 (90)
5.2 (2000)
Việt Nam
50.8 (90)
9.6 (2000)
Ấn Độ
52.5 (92)
44.2 (97)
Nguồn: Báo cáo năm 2002 của Liên hiệp quốc.

8
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển
hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) - ông AbapiSen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998
cho rằng: "Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát
triển của cộng đồng".
Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm
đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các
chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực
như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có
quyền phát ngôn và không có quyền lực.
Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, "Nghèo là tình trạng
một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của

dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà
những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
1.1.1.2. Quan niệm về ngưỡng nghèo
Khi nghiên cứu về vấn đề nghèo, cần có một thước đo cụ thể và phải
bao hàm 3 yếu tố: Lựa chọn tiêu chí nghiên cứu và chỉ số phúc lợi; Cần lựa
chọn một ngưỡng nghèo: là mức giới hạn mà cá nhân hay hộ gia đình nằm
dưới mức đó sẽ bị coi là nghèo; Chọn ra một thước đo đói nghèo được sử
dụng để phản ánh cho tổng thể hoặc một nhóm dân cư.
Về tiêu chí nghiên cứu, khía cạnh tiền tệ của nghèo đói được phản ánh
qua mức chi tiêu bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người.
Tuy vậy, hiện tại số liệu về chi tiêu được xem là ưu việt hơn vì thu nhập chỉ
làm tăng phúc lợi khi nó được sử dụng cho tiêu dùng chứ không phải tiết

10
kiệm hay trả nợ. Mặt khác, số liệu về thu nhập thường không chính xác, đặc
biệt đối với Việt Nam.
Về ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo): Là ranh giới để phân
biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Hiện tại ở nước ta, ngưỡng
nghèo được tính bằng tiền. Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo:
- Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo) tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức
sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại.
Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này là sử dụng một rổ các loại
lương thực được coi là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu cho
con người. Do vậy ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực
phẩm và thường là thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi
lương thực khác.
- Ngưỡng nghèo tương đối (chuẩn nghèo chung): Được xác định theo
phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình
trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ

Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát tăng cao từ năm 2007 và năm 2008
ước tính trên 25% cho cả hai năm, để đảm bảo nhận diện chính xác hơn về
mức độ nghèo của người dân và có chính sách phù hợp, Chính phủ đã điều
chỉnh chuẩn nghèo lên hai mức là: 300.000 đồng/người/tháng đối với khu vực
nông thôn và 390.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị áp dụng
vào đầu năm 2009. Quy đổi chuẩn nghèo nói trên theo sức mua tương đương
của đồng tiền Việt Nam theo cách tính của thế giới thì chuẩn nghèo này đã
sấp xỉ là 2USD/người/ngày.
Đến đầu năm 2011, chúng ta đã đưa ra chuẩn nghèo áp dụng trong giai
đoạn 2011 - 2015 sẽ là 400.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn
và 500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.

12
1.1.1.3. Các chỉ tiêu đo lường mức độ nghèo
Với việc xác định được chuẩn nghèo như trên, chỉ tiêu phổ biến và tổng
quát nhất để đánh giá đói nghèo hiện nay là việc đếm số người sống dưới
chuẩn nghèo hay còn gọi là tỷ lệ hộ nghèo hoặc chỉ số đếm đầu người. Tỷ lệ
nghèo (tỷ lệ hộ nghèo) được tính bằng tỉ lệ phần trăm của số hộ (dân số) có
thu nhập dưới chuẩn nghèo trên tổng số hộ (tổng số dân). Tuy nhiên, để phản
ánh được tính chất gay gắt của nghèo đói và có chính sách cần thiết, hữu hiệu,
người ta còn sử dụng chỉ số “khoảng cách nghèo” hay còn gọi là chỉ số thiếu
hụt (so với chuẩn nghèo).
Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người
nghèo so với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo. Khi
so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính
chất và mức độ nghiêm trọng của nghèo khổ giữa các nhóm khác nhau.
Cùng với đó, người ta còn dùng chỉ số bình phương khoảng nghèo, tức
là tăng thêm trọng số cho những nhóm nghèo nhất trong dân số để thể hiện
mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của đói nghèo cho những nhóm người
có khoảng các nghèo lớn hơn trong số những người nghèo.

của X% dân số giàu và Y% thu nhập của dân số nghèo nhất, nếu tỉ số này
nhận giá trị càng cao thì thể hiện mức độ bất công bằng xã hội cao.
Để đánh giá mức độ nghèo đói và bất bình đẳng kinh tế, bên cạnh các
chỉ tiêu nêu trên, người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân
tích đường cong Lozenz (của nhà thống kê học người Mỹ năm 1905), hệ số
GINI (của nhà thống kê học người Ý năm 1912), hệ số bất bình đẳng Theil L
v.v…
1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo
1.1.2.1. Nhóm các nguyên nhân khách quan
Đầu tiên, phải kể đến là do xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta. Là
một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua hơn 30 năm chiến tranh, bị tàn
phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nước chưa

14
đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương
cũng như việc đảm bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗ trợ người nghèo. Điều này
dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện, xã nghèo không tự tạo ra được những điều
kiện cũng như phát huy tiềm năng của mình để phát triển, do đó làm cho
người dân ở địa bàn cũng phải gánh chịu những khó khăn đó và không thể tự
thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói.
Thứ hai, người nghèo ở nước ta bị hạn chế về nguồn lực và các yếu tố
của sản xuất. Nguồn vốn nhân lực bị hạn chế cản trở họ thoát khỏi nghèo đói;
Khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng là một trong những nguyên nhân trì
hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới ;
Thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp và bảo đảm an ninh
lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, hướng
tới sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi với giá trị cao hơn. Do vậy, đa số
người nghèo bắt buộc phải lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp; thiếu
cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Vì vẫn theo
phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại

cơ chế… Do vậy, họ không có ý thức vươn lên, tự cứu lấy bản thân và gia
đình, một bộ phận người nghèo, đặc biệt là người dân tộc thiểu số còn có thói
quen chây lười, ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước hoặc cộng đồng khi gặp
những rủi ro.
Thứ hai, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, không có nghề,
ít có cơ hội tìm được việc làm tốt, ổn định. Do vậy, mức thu nhập của họ thấp
và hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có
điều kiện để nâng cao trình độ cũng như có tiền để đi học nghề hay trang bị
hoặc nâng cao kiến thức của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo
khó. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp và không có nghề sẽ ảnh hưởng đến
các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái đến
không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai - nghèo dai dẳng
từ thế hệ này sang thế hệ khác.

16
Thứ ba, tập quán, thói quen canh tác, sản xuất của người nghèo ở nhiều
vùng còn rất lạc hậu, được truyền từ đời này sang đời khác nên rất khó thay
đổi. Tập quán canh tác lạc hậu, cùng với tư tưởng bảo thủ, cổ hủ, không chịu
tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới cũng là một trong những
nguyên nhân tự thân, khiến người nghèo, đồng bào dân tộc không thể vươn
lên trong phát triển sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, do quy mô hộ gia đình ở nông thôn, đây là "mẫu số" quan trọng
có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ nghèo.
Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh trong các
hộ gia đình nghèo còn rất cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về
vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức
khoẻ sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Tỷ lệ người ăn theo cao trong
các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, đây cũng chính là
một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ.
Thứ năm, do tình trạng bất bình đẳng giới còn tồn tại dai dẳng, làm sâu

giảm được trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm),
cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này
sẽ chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di
chuyển dân cư, tái nghèo ; Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực
chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo
được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm
dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không
bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo
suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo.
Thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ lệ hộ nghèo liên tục giảm (thể hiện về
mặt lượng), tuy nhiên nếu xét về mặt chất lượng thì nhìn chung đại bộ phận
nhân dân ở nông thôn, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng núi cao đều có
thu nhập thấp, chỉ đạt trên chuẩn nghèo khoảng 5-10%; trong điều kiện giá cả

18
vật tư cho sản xuất, hàng hoá cho tiêu dùng thiết yếu đều tăng nhanh; dịch
bệnh, thiên tai, lũ lụt xảy ra với quy mô, tần suất lớn, tập trung ở những vùng
nghèo, thiệt hại về sản xuất, tài sản và nhà ở rất lớn, đời sống nhân dân, nhất
là hộ nghèo hết sức khó khăn (tỉnh Hà Tĩnh sau thiên tai, dịch bệnh kết quả
giảm nghèo chỉ còn khoảng 0,7%); khả năng tự phục hồi sau hậu quả dịch
bệnh, thiên tai, lũ lụt của hộ nghèo rất hạn chế, trong khi đó chúng ta lại chưa
có cơ chế, phương thức hỗ trợ tại chỗ của cộng đồng (như quỹ hỗ trợ cộng
đồng ). Mặt khác, tốc độ giảm nghèo còn chưa đồng đều giữa các khu vực,
vùng khó khăn, vùng nghèo chưa có đủ điều kiện để đột phá về giảm nghèo,
tỷ lệ hộ nghèo chênh lệch rất lớn giữa các vùng trên cả nước.
Nhìn chung, để giảm nghèo bền vững các nhà nghiên cứu, các chuyên
gia về kinh tế - xã hội, lao động - việc làm đều cho rằng, cần hỗ trợ phát triển
hạ tầng, hỗ trợ nghề cũng như các điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế
dựa vào cộng đồng để người nghèo có thể tự vươn lên thoát nghèo và làm
giàu bằng chính khả năng của mình dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội

Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh
giá dựa trên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm
xuống mà phải căn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau.
- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua
được chuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập. nếu gặp
rủi ro hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.
- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản
xuất được xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo và được quyền tham
gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển
kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương.
- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được
tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt,
dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.

20
- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc
sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có
được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định
trong cuộc sống.
Căn cứ, so sánh với những chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được công
tác giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững ở mức độ nào, trên cơ sở đó có
những biện pháp để tăng tính bền vững của giảm nghèo.
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới giảm nghèo bền vững
Hiệu quả và tính bền vững trong thực hiện giảm nghèo phụ thuộc vào
rất nhiều nhân tố. Trong đó có những nhân tố thuộc về phía người nghèo,
nhân tố từ chính sách, chương trình giảm nghèo, điều kiện kinhh tế - xã hội và
tác động của một số nhân tố khác.
Thứ nhất, về nhận thức
Đầu tiên, phải kể đến quan điểm, nhận thức của các cơ quan, cũng như
của các địa phương trong việc đề xuất, xây dựng và thực hiện chính sách,

Nhà nước chưa cân đối giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miền, giữa các
ngành kinh tế (giữa nông nghiệp với công nghiệp, giữa khu vực nông thôn với
khu vực thành thị) thì tính bền vững của giảm nghèo sẽ bị hạn chế.
Việc đầu tư và dành tỷ lệ đầu tư lớn cho nông nghiệp và khu vực nông
thôn có tác động tích cực đến giảm nghèo. Ngoài việc tập trung đầu tư cho
thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chính sách đầu tư nếu chú trọng vào các
ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động gắn với khuyến khích kịp thời phát
triển doanh nhiệp nhỏ và vừa sẽ tạo động lực tốt cho giảm nghèo. Đối với các
chính sách như tín dụng, trợ giá, trợ cước nếu chưa đủ mạnh và không đúng
đối tượng sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành thị trường nông thôn, thị
trường ở những vùng sâu, vùng xa. Cùng với đó, việc tập trung đầu tư vào
phát triển giao thông, đường xá đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo sẽ

Trích đoạn Những kết quả tích cực và nguyên nhân Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân Dự báo xu hướng giảm nghèo trong thời gian tới Những định hướng giảm nghèo đến năm 2020 Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status