MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quan tâm đến việc trợ giúp nhân dân thoát khỏi đói nghèo là một
nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta luôn đặt lên hàng đầu trong
suốt gần 70 năm qua (từ tháng 9 năm 1945).
Trải qua hai cuộc chiến tranh, sau một thời gian mắc một số sai lầm
chủ quan, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986) với nhiều khó
khăn, thách thức. Trong đó phải kể đến tình trạng một bộ phận nhân dân
liên tục bị thiếu lương thực, bị đói trong thời gian dài. Trước thực tế đó,
nhiều địa phương đã chủ động tìm cách cải thiện đời sống người dân mà đi
đầu là Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1991), sau đó được triển khai trên
diện rộng, lan tỏa ra nhiều địa phương khác và trở thành phong trào xóa
đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước.
Từ thực tiễn phong trào xóa đói giảm nghèo ở các địa phương, đến năm
1998, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính phủ
phê duyệt. Đây là lần đầu tiên xóa đói giảm nghèo trở thành một chính sách
được đưa vào lập kế hoạch thường kỳ và được thực hiện như một phần quan
trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước cũng như của các địa
phương.
Từ đó đến nay, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã trải
qua ba giai đoạn: 1998 - 2000, 2001 - 2005 và 2006 - 2010 với những
thành công nhất định, tỷ lệ hộ đói nghèo của cả nước giảm xuống còn 13%
năm 2000, 7% năm 2005 với chuẩn nghèo tương ứng. Từ 2006 đến nay với
việc thực hiện nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo như Chương trình
mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình 135, Nghị quyết
30a của Chính phủ… chúng ta đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ
trong công tác xóa đói giảm nghèo, được cộng đồng quốc ghi nhận và đánh
giá cao; đã nâng cao đáng kế đời sống nhân dân nói chung và người nghèo
nói riêng.
Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam vẫn đang đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức, trong đó đặc biệt kể đến tính không bền vững
Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm
nghèo ở nông thôn Việt Nam, luận án TS của nghiên cứu sinh Vũ Thị
Biểu, Bộ LĐTB và XH, bảo vệ năm 1996 tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội.
Đóng góp: Đã đưa ra những đề xuất giảm nghèo thông qua việc nâng
cao hiệu quả sử dụng lao động.
2
Tín dụng cho người nghèo các quỹ xóa đói giảm nghèo ở nướ ta
hiện nay, luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Trung Tăng, bảo vệ tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2002.
Đóng góp: Đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn tín dụng cho nông dân nghèo.
Shanks, Edwin, và Carrie Turk, 2002, "Policy Recommendations
from the Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị
cho Nhóm hành động chống nghèo đói, đưa ra các khuyến nghị chính sách
ban đầu cho việc xây dựng Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá
đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở vùng Tây bắc
giai đoạn 2006 - 2010, luận văn Thạc sĩ của học viên cao học Ngô Xuân
Quyết, bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2006.
Đóng góp: Đã đưa ra những giải pháp xóa đói giảm nghèo mang tính
khu vực.
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí, đề tài
nghiên cứu khác bàn về nhiều khía cạnh khác nhau của XĐGN.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề
xóa đói, giảm nghèo, tuy nhiên các công trình đó đều nghiên cứu hoặc một
phạm vi rất rộng hoặc đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói
nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh
tế hoặc tại một địa phương. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách tổng thể về công cuộc giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất
đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giảm nghèo và giảm nghèo theo
hướng bền vững ở Việt Nam.
Nghiên cứu tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam nói chung.
Nghiên cứu tính bền vững trong công tác giảm nghèo của Việt Nam.
Nghiên cứu nguyên nhân tác động đến tính bền vững trong công tác
giảm nghèo ở Việt Nam và những giải pháp để có thể thực hiện mục tiêu
giảm nghèo bền vững.
* Phạm vi nghiên cứu: Công tác giảm nghèo (qua việc thực hiện các
chính sách, chương trình, dự án) cấp Trung ương. Trong đó tập trung vào
việc giảm nghèo hướng đến đảm bảo tính bền vững, phù hợp với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
4
* Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1998 đến năm 2010 và xu hướng
của công tác giảm nghèo đến năm 2015, 2020.
5
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic;
phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, phương pháp so
sánh, hệ thống hóa cũng được sử dụng để thực hiện mục đích của luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giảm nghèo, giảm
nghèo theo hướng bền vững.
- Phân tích, đánh giá tổng thể tình hình thực hiện công tác giảm nghèo
theo hướng bền vững của Việt Nam từ năm 1998 đến nay và rút ra những
thành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất một số giải pháp để công tác giảm nghèo trong thời gian tới
đạt hiệu quả cao và đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững.
phát triển của cộng đồng".
Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm
đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm
các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến
năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương,
không có quyền phát ngôn và không có quyền lực.
Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, "Nghèo là tình
trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ
bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy
theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa
phương". Đây có thể coi là một định nghĩa chung nhất về nghèo, có tính
7
chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét chính phổ
biến về nghèo.
Từ những quan niệm nói trên, có thể thấy rõ đói nghèo gồm những
khía cạnh cơ bản như sau:
- Đầu tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo
một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.
- Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về
giáo dục và y tế.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ
gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hay sức khoẻ.
- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, không được tham gia và
không có quyền lực của người nghèo.
Đối với Việt Nam, theo quan niệm thông thường thì nghèo đói dùng để
chỉ cả tình trạng nghèo và tình trạng đói. Nhưng thực ra vấn đề nghèo và đói là
hai vấn đề khác nhau: đói được hiểu là tình trạng không đủ nhu cầu về ăn; còn
nghèo là nói đến tình trạng khó khăn chung về việc không có khả năng đáp
ứng các nhu cầu cơ bản, song chủ yếu lại là các nhu cầu về phi lương thực
thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.
1.1.1.3. Các chỉ tiêu đo lường mức độ nghèo
Với việc xác định được chuẩn nghèo như trên, chỉ tiêu phổ biến và
tổng quát nhất để đánh giá đói nghèo hiện nay là việc đếm số người sống
dưới chuẩn nghèo hay còn gọi là tỷ lệ hộ nghèo hoặc chỉ số đếm đầu
người. Tỷ lệ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo) được tính bằng tỉ lệ phần trăm của số
hộ (dân số) có thu nhập dưới chuẩn nghèo trên tổng số hộ (tổng số dân).
Tuy nhiên, để phản ánh được tính chất gay gắt của nghèo đói và có chính
sách cần thiết, hữu hiệu, người ta còn sử dụng chỉ số “khoảng cách nghèo”
hay còn gọi là chỉ số thiếu hụt (so với chuẩn nghèo).
Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người
nghèo so với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo.
Khi so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết
tính chất và mức độ nghiêm trọng của nghèo khổ giữa các nhóm khác
nhau.
Cùng với đó, người ta còn dùng chỉ số bình phương khoảng nghèo, tức
là tăng thêm trọng số cho những nhóm nghèo nhất trong dân số để thể hiện
mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của đói nghèo cho những nhóm
người có khoảng các nghèo lớn hơn trong số những người nghèo.
Cả ba thước đo đói nghèo đều đang được dùng phổ biến ở nước ta và
đều có một tính chất hữu ích chung là nó cho phép phân tách các thước đo
tổng hợp theo vùng hoặc nhóm dân cư. Tuy nhiên, các thước đo trên mới
chỉ tập trung đo lường khía cạnh thiếu thốn về vật chất của người nghèo.
9
Bên cạnh đó còn có rất nhiều thước đo định tính khác để phản ánh sự thiếu
thốn về y tế, giáo dục, nguy cơ dễ bị tổn thương và tình trạng không có
tiếng nói, không có quyền lực của người nghèo.
1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo
1.1.2.1. Nhóm các nguyên nhân khách quan
Đầu tiên, phải kể đến là do xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta. Là
Đầu tiên, phải kể đến nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân người
nghèo. Đó là nhận thức của người nghèo về vấn đề nghèo đói còn hạn chế,
bản thân nhiều người nghèo ở nước ta không thể tự mình lý giải được
nguyên nhân nghèo khó của mình, hoặc họ không thừa nhận những nguyên
nhân do bản thân họ gây ra như: đông con, lười biếng… mà họ “đổ vạ” cho
số phận, cơ chế…
Thứ hai, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, không có nghề,
ít có cơ hội tìm được việc làm tốt, ổn định. Do vậy, mức thu nhập của họ
thấp và hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không
có điều kiện để nâng cao trình độ cũng như có tiền để đi học nghề hay
trang bị hoặc nâng cao kiến thức của mình trong tương lai để thoát khỏi
cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp và không có nghề sẽ
ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi
dưỡng con cái đến không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong
tương lai - nghèo dai dẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Thứ ba, tập quán, thói quen canh tác, sản xuất của người nghèo ở
nhiều vùng còn rất lạc hậu, được truyền từ đời này sang đời khác nên rất
khó thay đổi. Tập quán canh tác lạc hậu, cùng với tư tưởng bảo thủ, cổ hủ,
không chịu tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới cũng là một trong
những nguyên nhân tự thân, khiến người nghèo, đồng bào dân tộc không
thể vươn lên trong phát triển sản xuất, kinh doanh.
Thứ tư, do quy mô hộ gia đình ở nông thôn, đây là "mẫu số" quan trọng
có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ
nghèo. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh
trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ
chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình
trạng nghèo đói, sức khoẻ sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Tỷ lệ
người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động
rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói
của họ.
tham gia và có tiếng nói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát
triển kinh tế, giảm nghèo cho bản thân và địa phương.
- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được
tình trạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ
lụt, dịch bệnh… hoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo.
- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục dạy nghề và chăm sóc
sức khoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ
có được kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn
định trong cuộc sống.
12
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới giảm nghèo bền vững
Hiệu quả và tính bền vững trong thực hiện giảm nghèo phụ thuộc vào
rất nhiều nhân tố. Trong đó có những nhân tố thuộc về phía người nghèo,
nhân tố từ chính sách, chương trình giảm nghèo, điều kiện kinhh tế - xã hội
và tác động của một số nhân tố khác.
Thứ nhất, về nhận thức
Thứ hai, về nguồn lực đảm bảo thực hiện chính sách, chương trình,
dự án giảm nghèo
Thứ ba, về công tác tổ chức triển khai thực hiện và kiểm tra, đánh
giá việc thực hiện các chương trình giảm nghèo.
1.2.4. Sự cần thiết phải giàm nghèo bền vững trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội
- Giảm nghèo bền vững góp phần ổn định chính trị và phát triển xã
hội
- Mối quan hệ giữa giảm nghèo bền vững với phát triển kinh tế
1.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước và khả năng áp dụng
đối với Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trong khu vực và trên
thế giới
Băng-la-đét:
vực thành thị, đồng bằng, khoảng cách thu nhập giữa ngày càng dãn xa.
Có thể khẳng định trong giai đoạn 1998 - 2000 chúng ta đạt được
những kết quả đáng ghi nhận trong công tác XĐGN như trên là do sự nỗ
lực của Chính phủ, các địa phương trong việc thiết lập cơ chế, chính sách
hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo ; sự giúp đỡ của các tổ chức quốc
tế như: WB, UNDP, ADB, KFW, SIDA (Thụy điển) về nhiều mặt (kinh
nghiệm, kỹ thuật và tài chính). Tuy nhiên, muốn đánh giá tính bền vững
của những kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo cần xem
xét việc phát huy những thành tựu của giai đoạn này trong các giai đoạn
tiếp theo.
2.1.2. Tình hình giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005
Trong giai đoạn này công tác XĐGN tiếp tục được đẩy mạnh, cùng với
mức tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định khiến cho thu nhập bình quân
cả nước cũng như thu nhập của người nghèo đều tăng lên.
14
2.1.3. Tình hình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010
2.1.3.1.Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 -2010
Nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra Chương trình mục tiêu quốc gia
về giảm nghèo giai đoạn này bao gồm ba nhóm chính sách, dự án:
Nhóm 1: là chính sách, dự án để tạo điều kiện cho người nghèo phát
triển sản xuất, tăng thu nhập (Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo; Chính
sách để hỗ trợ đất sản xuất cho hộ nghèo dân tộc thiểu số; Dự án khuyến
nông - lâm - ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề; Dự
án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu các xã đặc biệt khó khăn vùng
bãi ngang ven biển và hải đảo; Dự án dạy nghề cho người nghèo; Dự án
nhân rộng mô hình giảm nghèo).
Nhóm 2: là chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ
xã hội: (Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ về
giáo dục cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở và nước
sinh hoạt; Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo).
dân cư tăng chậm chứng tỏ kết quả của tăng trưởng kinh tế được phân phối
công bằng… các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo cho những
đối tượng đực biệt như Chương trình 135, Nghị quyết 30a… thực sự phát
huy được tác dụng và đã góp phần quan trọng vào kết quả giảm nghèo
chung của cả nước.
2.2.1.2. Nguyên nhân của những thành tựu xóa đói, giảm nghèo
Có thể tóm tắt những nguyên nhân chính của những thành tựu trong
công tác xoá đói giảm nghèo thời gian qua như sau:
Thứ nhất, là sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và
các địa phương, trong thời gian qua đã hình thành được quỹ khám chữa
bệnh cho người nghèo, quỹ "Ngày vì người nghèo" với cách làm sáng tạo,
linh hoạt, đã tạo được bước đột phá về xoá nhà tạm, khám chữa bệnh cho
người nghèo, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân đặc biệt
là người nghèo.
Thứ hai, sự đổi mới đường lối, chủ trương và chính sách vừa thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, đồng thời triển khai rộng rãi các biện
pháp hỗ trợ người nghèo phát triển kinh tế để thoát đói nghèo.
Thứ ba, xác định đúng các nhóm đối tượng nghèo đói và nguyên nhân
cụ thể dẫn đến đói nghèo của từng nhóm dân cư để triển khai chính sách hỗ
trợ giúp đỡ phù hợp. Chẳng hạn như đối với nhóm hộ nghèo do không biết
cách làm ăn, nghèo do thiếu các tư liệu sản xuất thì triển khai các chính
sách hỗ trợ vốn để mua tư liệu sản xuất, còn nhóm hộ đói nghèo do nguyên
nhân như thiên tai, dịch bệnh, ốm đau thì phải có chính sách hỗ trợ đặc biệt
hơn, như vừa cho vay vốn vừa phải hướng dẫn sản xuất, hướng dẫn chi tiêu
v.v…
16
Thứ tư, phối kết hợp hoạt động của các cấp, các ngành vào công tác
giảm nghèo đói ở từng địa phương.
Thứ năm, triển khai linh hoạt các biện pháp khác nhau để thực hiện
công tác giảm đói nghèo. Nhiều chương trình, dự án đã được lồng ghép
17
mục tiêu giảm nghèo bền vững theo quan điểm về giảm nghèo bền vững đã
nêu ở phần trên".
2.2.2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
2.2.2.1. Những hạn chế, tồn tại trong công tác giảm nghèo
Trên cơ sở tổng hợp đánh giá quá trình thực hiện công tác giảm nghèo
ở Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt từ khi giảm nghèo trở thành một
chính sách trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia (1998), thấy rằng
trong công tác giảm nghèo còn những tồn tại, hạn chế sau đây:
Trước hết, là kết quả giảm nghèo chưa bền vững: Qua xem xét sự phân
bố về thu nhập của các hộ gia đình thấy còn một tỷ lệ khá lớn hộ gia đình
nằm ngay sát trên chuẩn nghèo (70% - 80%), tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm
cao (7% - 10%) khi gặp rủi ro như những thay đổi chính sách, thiên tai,
lạm phát, tác động của quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thị trường;
cơ hội về việc làm của người nghèo ngày càng khó khăn hơn do đổi mới
khoa học, công nghệ, phát triển kinh tế giữa các vùng không đồng đều.
Thứ hai, tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại bởi vì tăng trưởng
kinh tế cao nhưng kết quả của tăng trưởng tác động đến giảm nghèo lại
không tăng thậm chí giảm đi.
Thứ ba, chênh lệch về thu nhập có xu hướng gia tăng mặc dù tăng
chậm qua các năm. Chênh lệch giữa nhóm 10% giàu nhất với nhóm 10%
nghèo nhất năm 2002 là 12,5lần, năm 2004 là 13,5 lần…
Thứ tư, hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt hơn ở một số vùng như
Tây Bắc, Tây Nguyên, vùng bãi ngang ven biển và ở một số nhóm đối
tượng dân tộc thiểu số.
Thứ năm, nghèo đói vẫn thể hiện rất đa dạng: Nghèo biểu hiện ở tình
trạng thiếu ăn 1 - 2 tháng/năm, đặc biệt ở những vùng lũ lụt, hạn hán. Còn
rất nhiều hộ sống trong nhà tạm, không có đồ dùng lâu bền, hầu hết những
hộ nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số tài sản chỉ có ở mức 1-2 triệu đồng.
Nhiều hộ không có điện để sử dụng trong sinh hoạt và phải dùng nước trong
sự hỗ trợ của cộng đồng… vì vậy, cần khắc phục những hạn chế này để
đảm bảo thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
19
Chương 3
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
GIẢM NGHÈO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
3.1. Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo theo hướng bền vững đến
năm 2020
Quan điểm đối với giảm nghèo và giảm nghèo theo hướng bền vững
đến năm 2020
Mục tiêu giảm nghèo đến năm 2020
Theo Nghị quyết 80 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền
vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020.
Mục tiêu tổng quát: Giảm nghèo bền vững là một trong những trọng
tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhằm
cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết
ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch
giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân
cư.
Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất: Thu nhập của hộ nghèo tăng lên 3,5 lần; tỷ lệ hộ nghèo cả
nước giảm 2%/năm, riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm theo
chuẩn nghèo từng giai đoạn;
Thứ hai: Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước
hết là vấn đề y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo
tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản;
Thứ ba: Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo,
thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí
nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước
sau:
- Tiếp tục tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi để người nghèo tự lực
vượt nghèo, đặc biệt tập trung cho các địa phương nghèo.
- Tiếp tục cải thiện việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội thông qua các
chính sách trợ giúp về giáo dục; y tế; kế hoạch hóa gia đình; nhà ở; nước
sạch; phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh… một cách trực tiếp và có
chất lượng cho người nghèo nhất là đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ
nghèo.
- Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giảm nghèo.
- Ưu tiên nguồn lực cho những vùng có tỷ lệ nghèo cao.
21
- Tăng cường phân cấp cho địa phương, cơ sở, trên cơ sở nâng cao
năng lực cán bộ, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, công khai, bình đẳng
trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình.
3.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảm
nghèo và thực hiện giảm nghèo bền vững
3.3.1. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo
nguồn lực xóa đói giảm nghèo
Thứ nhất: Tạo môi trường tăng trưởng bền vững cho xóa đói giảm
nghèo
Thứ hai: Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Thứ ba: Cải cách hành chính
Trên đây là nhóm giải pháp mang tính vĩ mô, nhằm tạo ra những điều kiện
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ đó sẽ cung cấp nguồn lực cho xóa đói giảm
nghèo. Những giải pháp này không tác động trực tiếp đến hộ nghèo, người
nghèo nhưng nó sẽ tạo ra những yếu tố bền vững để công tác giảm nghèo đạt
hiệu quả cao hơn, bền vững hơn, do tác động bao trùm và lan tỏa của các vùng
phát triển, của toàn bộ nền kinh tế đến các vùng nghèo, người nghèo.
3.3.2. Nhóm giải pháp trực tiếp hỗ trợ người nghèo
Có thể đưa ra những giải pháp cụ thể sau đây:
Trong quá trình đó, tuỳ theo bối cảnh, tình hình, mà Chính phủ cũng
liên tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và ban hành mới thêm nhiều chính
sách, chương trình, dự án đặc thù nhằm tác động đến người nghèo, địa
phương nghèo theo nhiều hướng khác nhau. Đến nay, ngoài các chương
trình tác động trực tiếp đến công cuộc giảm nghèo mang tính chất đặc thù
như Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình 135, Nghị
quyết 30a của Chính phủ… còn rất nhiều các chính sách, chế độ khác có
mục tiêu gián tiếp, tác động đến đời sống, điều kiện, cơ sở vật chất và khả
năng phát triển sản xuất, kinh doanh, vươn lên thoát nghèo của người dân.
Do đó, công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua đã
đạt được những thành quả to lớn. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế việc
thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo như: kết quả
giảm nghèo chưa thực sự bền vững; các chính sách thực hiện dàn trải trên
nhiều lĩnh vực, lại được quản lý, điều hành bởi nhiều cơ quan, ngành, cấp
khác nhau cũng dẫn đến sự trùng lắp trong đầu tư, tính thiết thực không
cao, gây thất thoát, lãng phí trong khi sự “hưởng lợi” của người dân còn
hạn chế, không bình đẳng giữa các vùng, miền, khu vực địa lý cũng như
với các nhóm đồng bào dân tộc.
Vì vậy, trong thời gian tới, để tiếp tục nâng cao tính bền vững của
công cuộc giảm nghèo ở nước ta cần xây dựng, hoàn thiện, mở rộng chính
sách hiện hành đối với người nghèo sao cho hướng trực tiếp vào các vấn
đề: nâng cao năng lực người nghèo; tạo cơ hội bình đẳng cho người nghèo
trong tiếp cận với các dịch vụ xã hội xã hội cơ bản; trợ giúp đột xuất khi
gặp thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu, theo đúng các quan điểm đã đề
cập trong phần quan niệm về giảm nghèo bền vững ở chương. Cùng với
đó, cũng nên đổi mới cách tiếp cận, trong hỗ trợ giảm nghèo, trước hết là
về quan niệm cũng như nhận thức về thế nào là giảm nghèo bền vững, sau
đó là việc xem xét lại một số chính sách như hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng
các xã nghèo, đầu tư đường xá, giao thông, hạ tầng và coi đây là trách
24
Với những nghiên cứu, đánh giá về tình hình giảm nghèo của Việt
Nam, việc rút ra những nguyên nhân của những kết quả đạt được cũng như
những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở quan điểm và những dự báo xu
hướng của công cuộc giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian tới, tác giả
luận văn mạnh dạn đưa ra những giải pháp cơ bản mang tính khuyến nghị
25