TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG TỪ THUẦN VIỆT VÀ HÁN VIỆT TRONG TỤC NGỮ VIỆT NAM - Pdf 26

MỤC LỤC
1.2.2.1 Những khái niệm liên quan đến từ gốc Hán 4
64
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN
1.1 Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam
1.1.1 Hiểu về tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân
về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về
1
trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian". Trí khôn đó rất phong
phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc
tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu.
Với các đặc thù như ngắn gọn, dễ nhớ, giàu hình tượng, giàu nhịp điệu,
gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian có mối
quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhân dân.
Đa số các câu tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các
kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở
đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp
nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý.
Thường thường tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể
gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.
1.1.2 Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay
Tất cả các công trình sưu tập trên đã đóng góp vào việc bảo tồn và giới
thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc Việt Nam.
Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của các công trình này, hầu hết
các tác phẩm giới thiệu trên đây đều không giới thiệu riêng biệt giữa tục ngữ
và ca dao, thành ngữ, đặc biệt là không phân biệt với thành ngữ. Tục ngữ và
thành ngữ ít khi được người ta xem xét một cách rạch ròi như là hai loại hình
sáng tạo dân gian khác nhau, thể hiện rõ nét nhất là phần đông đều quan niệm
rằng Tục ngữ và Thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ. Nguyễn Văn

gũi với người Việt, được người Việt coi như từ gốc, từ thuần Việt.
3
1.2.2 Từ Hán Việt
1.2.2.1 Những khái niệm liên quan đến từ gốc Hán
Theo Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán Việt “là một cách đọc bắt nguồn
từ tiếng Hán đời Đường và cụ thể là Đường âm dạy học ở Giao Châu vào giai
đoạn thế kỉ VIII, IX nhưng … đã bị biến dạng đi dưới tác động của quy luật
ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để
trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu
vực văn hóa Việt” [1,19]khảo sát chắc chắn.
Như vậy, cách đọc Hán Việt là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng
Việt và tiếng Hán, là một sáng tạo của người Việt trong cách thức tác động
làm biến đổi hàng loạt các từ mượn Hán về mặt ngữ âm.
1.2.2.2. Từ Hán Việt.
Khi nghiên cứu về từ ngoại lai của tiếng Việt, GS. TS Nguyễn Văn
Khang nói như sau: “ Từ ngoại lai trong tiếng Việt, cụ thể là từ mượn Hán
(gồm từ Hán Việt, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt phỏng
âm phương ngữ Hán) ”. Như vậy, theo ông trong những từ gốc Hán trong
tiếng Việt có một bộ phận là từ Hán Việt. Đây là những từ gồm những yếu tố
cấu tạo từ có cách đọc Hán Việt (tức ngữ âm Hán Việt). Lớp từ này được chia
ra thành:
a. Những từ Hán Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp
theo cho đến ngày nay.
b. Những từ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam.
1.2.2.3. Từ Hán Việt cổ.
Từ Hán Việt cổ hay cũng được gọi là cổ Hán Việt. Trong tiếng Việt có
một số từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam trước đời Đường và người Việt đã
4
đọc những từ này theo âm tiếng Hán thuộc giai đoạn ấy. Vì thế có thể hiểu
rằng từ Hán Việt cổ là những từ gốc Hán được người Việt đọc theo cách đọc

âm tiết.
Đôi khi câu tục ngữ cấu trúc một vế mang ý nghĩa so sánh mà không
cần xuất hiện từ so sánh ngang bậc.
2.1.1.2. Kết cấu tục ngữ hai mệnh đề
Phần lớn tục ngữ tiếng Việt thường có kết cấu hai vế. Hai mệnh đề
trong kiểu tục ngữ này thường rất cân đối nhau về số lượng các âm tiết. Kiểu
cấu trúc tục ngữ có hai vế như vậy thường có số âm tiết bằng nhau tạo nên
tính đối xứng cả về hình thức lẫn nội dung ngữ nghĩa. Loại này có cấu trúc
chủ yếu dựa vào hai vế so sánh ( còn gọi là cấu trúc so sánh).Tuy nhiên, sự
khác biệt cơ bản với thành ngữ so sánh là tục ngữ có cấu trúc so sánh thường
có nghĩa tường minh chứ không có kiểu so sánh dưới dạng ẩn dụ hay hoán dụ
như trong thành ngữ tiếng Việt.
2.1.1.3. Kết cấu tục ngữ ba mệnh đề
Kết cấu tục ngữ gồm 3 mệnh đề có số lượng đứng thứ hai sau kiểu tục
ngữ hai mệnh đề. Tuy nhiên số lượng của kiểu cấu trúc này cũng không
nhiều. Nhìn chung, loại kết cấu này thường có độ dài khá lớn. Độ dài ngắn
nhất cuả loại này là 8 âm tiết và lớn nhất có thể kéo dài đến 18 âm tiết.
2.1.1.4. Kết cấu tục ngữ bốn mệnh đề
6
Kết cấu tục ngữ gồm 4 mệnh đề không nhiều. Tuy nhiên, kiểu cấu trúc
4 mệnh đề có độ dài lớn nhất so với tất cả các kiểu cấu trúc tục ngữ còn lại,
nó có thể lên đến 22 âm tiết. Một đặc điểm khác dễ nhận thấy là, kiểu tục ngữ
này có số lượng các âm tiết ở mỗi vế thường không đồng đều nhau.
2.1.2. Ngữ nghĩa của tục ngữ
Lẽ thường, khi nói về ngữ nghĩa của một câu tục ngữ là người ta nói
đến nội dung của chúng. Xét về ngữ nghĩa, phần lớn tục ngữ Việt đều có
nghĩa đen và nghĩa bóng.
Nghĩa đen là nghĩa bề mặt, nghĩa cụ thể ban đầu khi người ta gọi tên sự
vật và hiện tượng. Nội dung của câu tục ngữ được toát ra từ chính bản thân nó
mà không có một ngụ ý nào khác, là sự tổng hợp ý nghĩa của từng từ trong

388 câu tục ngữ được chúng tôi khảo sát.
STT Từ Hán Việt
Từ
Danh
từ
Động
từ
Tính
từ
Số lần
xuấthiện
Ghi chú
1 Chì / 1 màu đen
2 An 4
3 Đầu / 1
4 Động / 1
5 Gia / 1
6 Hậu / 1
7 Hoàng / 1
8 Huyền / 1
9 Huyền đề / 3
10 Kiến giải / 1
8
11 Lạc / 1
12 Lục / 1
13 Mệnh / 1
14 Mộc / 1
15 Môn 1
16 Mùi / 1
17 Nghiệp / 1

47 Tứ / 4
48 Tử / 1 Con người
49 Tuần hà / 1
50 Túc / 2
51 Tửu / 1
52 Vi / 2
53 Vĩ / 1 Đuôi
54 Vị / 1
55 Xuân / 1
56 Xuất / 1
2.2.1.2. Nhận xét
- Thứ nhất là về mặt số lượng. Như vậy, thông qua bảng thống kê
chúng tôi nhận thấy rằng: Số lượng từ Hán Việt được sử dụng trong tục ngữ
Việt là rất ít, chỉ chiếm 10 % (56/560) so với lượng từ thuần Việt. Từ Hán
Việt gồm: danh từ là 35 từ; động từ là 7 từ; tính từ là 14 từ. Hơn nữa, số lần
xuất hiện từ Hán Việt không nhiều. Chỉ có ba từ xuất hiện 4 lần (là từ “an”
với nghĩa “bình an”, từ “nhất” với nghĩa là “một, thứ nhất” và từ “tứ” với
nghĩa là “bốn” ), còn lại chỉ xuất hiện với tần xuất là 3 lần (có 2 từ là “nhập”
với nghĩa là “vào” và “huyền đề” và 2 lần hay 1 lần.
- Thứ hai là về nội dung.
+ Từ Hán Việt trong tục ngữ diễn đạt cho sắc thái trang trọng, nhưng
lượng câu diễn đạt ý nghĩa này khá ít ỏi.
+ Từ Hán Việt xuất hiện ở một số lĩnh vực đời sống như kinh nghiệm
nông nghiệp (về trồng trọt, chăn nuôi); kinh nghiệm liên quan đến trang phục
(việc ăn mặc, y phục, trang điểm); mối quan hệ (giữa con người với con
người, con người với xã hội); kinh nghiệm về các hiện tượng tự nhiên, (thời
10
tiết, mưa gió); kinh nghiệm về văn hóa ẩm thực… Như vậy, các từ Hán Việt
xuất hiện ở nhiều chủ đề cuộc sống khác nhau và các từ Hán Việt xuất hiện
trong câu tục ngữ về những lĩnh vực này chủ yếu là danh từ.

quan đến hiện tượng thời tiết. (Chi tiết xem ở bảng 2 phần phụ lục )
1 Gió bấc / 2
2 Gió nam / 1
3 Gió nồm / 1
4 Gió tây / 1
5 Hè / 1
6 Khoe / 1
7 Mau / 1
8 Chĩnh / 4
9 Mồ hôi / 1
1
0
Mồng
/ 3
11 Mưa / 12
12 Nắng / 11
13 Nhay nháy
/ 1
14 Nực / 1
15 Nước / 5
16 Quầng / 1
17 Rằm / 1
1
8
Ráo
/ 1
19 Rét đài / 1
2
0
Ròng

13
Người Việt cũng như người Trung Quốc thường quan niệm: "An cư mới lạc
nghiệp", nên trong các tục ngữ của họ có rất nhiều câu nói về việc ăn ở sinh
hoạt.
Ngoài hai mảng hiện thực chủ yếu nói trên, trong các tục ngữ tiếng Việt
còn xuất hiện nhiều câu nói về lối sống ăn mặc, trang phục bề ngoài của con
người. Người Việt quan niệm " Ăn chắc mặc bền" hay " Mộc mạc ưa nhìn, lọ
điểm trang" cho nên họ thường có cách đánh giá nhận xét rất giản dị về lối
sống ăn mặc.
Tóm lại, tục ngữ Việt Nam khá đa dạng về hình thức biểu hiện và mang
nhiều nội dung phong phú.
Chương 3:
NHẬN XÉT VỀ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TỤC NGỮ TIẾNG
VIỆT (SO SÁNH VỚI TỤC NGỮ TIẾNG HÁN)
3.1 Hiểu biết văn hóa qua tục ngữ
3.1.1 Khái niệm văn hóa
Tổ chức UNESCO đưa ra thông điệp về văn hóa như sau: "Văn hóa bao
gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến những tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối
sống và lao động" [44, 21].
Trên cơ sở phân tích các cách hiểu khác nhau về hiện tượng văn hoá,
GS- TSKH Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá như sau:
“Văn hoá là một hệ thống hữa cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội”.[44, tr.27]
Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa, song theo như định nghĩa
trên, chúng tôi cho rằng văn hóa là những tài sản vật chất và tinh thần do con
14
người sáng tạo ra, mang theo những đặc điểm đại diện cho một dân tộc, làm
cho dân tộc này khác với dân tộc khác.

3.2.1 Hình ảnh con người được thể hiện trong tục ngữ
Theo kết quả thống kê của chúng tôi, thì hình ảnh con người xuất hiện
trong tục ngữ tiếng Việt lại là toàn bộ xã hội, cả tầng lớp thống trị lẫn người
bình dân. Trong đó, người bình dân thường được nhắc đến với sắc thái tình
cảm gây thiện cảm, tuy là tầng lớp dưới trong xã hội những vô cùng đa dạng,
kéo theo đó là sắc thái tình cảm cũng phong phú và đa dạng một cách tương
ứng. Trái lại, hình ảnh con người xuất hiện trong tục ngữ tiếng Hán chủ yếu
là con người thuộc tầng lớp thống trị hay tầng lớp trên của xã hội.
Tục ngữ hai nước nói về con người có những nét văn hóa giống nhau.
Đó là thái độ ứng xử của một số bậc anh hùng tiền bối được nhân dân kính
trọng đã trở thành lẽ sống và phương châm xử thế của nhân dân hai nước.
3.2.2. Hình ảnh giới tự nhiên trong tục ngữ
3.2.2.1 Nét văn hóa khác biệt trong tục ngữ qua hiện tượng tự nhiên
Những hiện tượng tự nhiên đi sâu vào tục ngữ của hầu hết các ngôn
ngữ. Vì thế, với những hiện tượng tự nhiên có tính phổ quát, chúng tôi tạm
thời không nhắc đến, ở đây chúng tôi chỉ chú trọng vào những hiện tượng tự
nhiên do đặc thù của vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên tạo nên nét văn hóa đó ở
tục ngữ của mỗi dân tộc.
3.2.2.2 Nét văn hóa trong tục ngữ được thể hiện qua hình ảnh thực vật
và động vật
16
Thế giới động vật và thực vật gắn bó với nhau như hình với bóng và
chúng có vai trò quan trọng trong đời sống con người. Những tên gọi của
chúng đã tồn tại từ lâu và sự xuất hiện của chúng gắn liền với đặc điểm nền
kinh tế nông nghiệp. Trong thực tế, quy luật liên tưởng của mỗi dân tộc đã
dẫn đến mối liên hệ gắn bó các con vật hay hệ thực vật với những đặc điểm,
thuộc tính nào đó không phải giống nhau giữa các ngôn ngữ và giữa các dân
tộc khác nhau. Đặc điểm thực tế của Việt Nam là một nước nông nghiệp lúa
nước, chăn nuôi và trồng trọt phát triển từ rất sớm, do đó các đặc điểm đó có
ảnh hưởng quan trọng đến ngôn ngữ.

Nhìn vào kho tàng của tục ngữ, có thể thấy rõ mối quan hệ không thể
tách rời giữa ngôn ngữ và văn hoá trong lịch sử hình thành, phát triển của mỗi
dân tộc. Ngôn ngữ cần thiết cho sự cấu tạo, vĩnh cửu hoá và phát triển văn
hoá. Ngôn ngữ góp phần làm nên văn hoá cũng như văn hoá là cơ sở làm nên
ngôn ngữ. Người Việt Nam vẫn tự hào với bề dày truyền thống văn hoá hàng
nghìn năm tuổi của mình và luôn luôn có ý thức gìn giữ nó, đặc biệt là trong
thời đại hội nhập về mọi mặt như hiện nay mà văn hoá cũng không nằm ngoài
qui luật đó. Giữ gìn vốn văn hoá truyền thống cũng cần được thực hiện song
song với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cho thế hệ mai sau. Đây là
nhiệm vụ mà muốn hoàn thành được cần có sự đóng góp, xây dựng của cả các
nhà ngôn ngữ học và các nhà văn hoá học.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status