CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN_TẬP 2 - Pdf 28



13. HỒN TRƯƠNG BA , DA HÀNG THỊT (Lưu Quang Vũ)
14. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ (Nguyễn Tuân)
15. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98

I/ Tìm hiểu chung
1/ Tác giả (1921- 1988)
- Sinh ra ở Hà Tây, sống chủ yếu và mất ở Hà Nội.
- Rất mực tài hoa: làm thơ vẽ tranh, viết văn, làm thơ, soạn nhạc… nhưng thành công nhất vẫn là thơ
ca.
- Tham gia kháng chiến, từng làm đại đội trưởng đoàn quân Tây Tiến .
- Tác phẩm tiêu biểu :
+ Truyện: “Mùa hoa gạo, rừng biển quê hương ”
+ Thơ: “Mây đầu ô …”, “Tuyển tập thơ văn Quang Dũng”.
Nhưng tên tuổi của Quang Dũng có lẽ đã gắn liền với bài thơ Tây Tiến. Bài thơ ra đời vào năm 1948
in trong tập “Mây đầu ô” là bài thơ tiêu biểu nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
2/ Hoàn cảnh sáng tác
- Tây Tiến là một phân hiệu bộ đội được thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng làm đại đội trưởng .
Thành phần chủ yếu của đơn vị là thanh niên trí thức Hà Nội. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ
đội Lào bảo vệ biên giới phía Tây. Cuối 1947, Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52. Quang
Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác ở Phù Lưu Chanh, nhớ đơn vị cũ sáng tác bài thơ, ban đầu có
tên “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi là “Tây Tiến”.
3/ Chủ đề :

Nỗi nhớ ấy được bật lên thành tiếng gọi tha thiết “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi” gợi lên bao nỗi niềm
lâng lâng khó tả. Đối tượng thứ ba của nỗi nhớ đó là “nhớ về rừng núi” . Rừng núi là địa bàn hoạt
động của Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn. Nhưng nay, tất cả
đã “xa rồi”. “Xa rồi” nên mới nhớ da diết như thế. Điệp từ nhớ được nhắc lại hai lần như khắc sâu
thêm nỗi lòng của nhà thơ. Đặc biệt tình cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “Nhớ chơi
vơi”, cùng với cách hiệp vần “ơi” ở câu thơ trên làm nổi bật một nét nghĩa mới: “Chơi vơi” là trạng
thái trơ trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu cả. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là
một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời
gian, không gian. Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi, bâng khuâng, sâu lắng làm cho con người
có cảm giác đứng ngồi không yên.
Câu cảm thán , cách gọi thân thương “ Tây Tiến ơi ”; điệp từ “ nhớ ”: nhấn mạnh nỗi nhớ
- Cụm từ “ nhớ chơi vơi” : nỗi nhớ cồn cào, ám ảnh khôn nguôi…
2/ Sáu dòng thơ tiếp theo là nỗi nhớ về rừng núi Tây Bắc hiểm trở, hoang sơ, hùng vĩ, con
đường hành quân giữa núi rừng miền Tây vừa hùng vĩ, hiểm trở lại vừa thơ mộng trữ tình được
cảm nhận bằng cảm hứng lãng mạn và tâm hồn lãng mạn hào hoa:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
a. Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội, hiểm nguy nhưng không ngăn nổi bước chân người lính:
- Thiên nhiên khắc nghiệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Trên đỉnh Sài Khao, sương dày đến
độ “lấp” cả đoàn quân. Đoàn binh hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp. Chữ “mỏi”
làm hiện lên trước mắt ta hình ảnh của một đoàn quân rã rời.
- Dưới ngòi bút của Quang Dũng, con đường hành quân mở ra với biết bao nhiêu khó khăn gian khổ.
Đường đi toàn dốc cao, vực thẳm được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình: “khúc khuỷu” (quanh co
khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống con người). Câu thơ sử
dụng nhiều thanh trắc đi liền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” (bảy chữ mà đã có tới năm
chữ là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với

+ Nhớ sự hi sinh của người lính Tây Tiến với cảm hứng bi tráng “bỏ quên đời”: xem cái chết nhẹ tựa
lông hồng.
 Bút pháp tả thực và lãng mạn đan xen mô tả sự khốc liệt, dữ dội nhưng rất đỗi thơ mộng, trữ tình .
b. Thiên nhiên Tây Bắc với những nét vẽ mơ mộng trữ tình
- Có cảnh đoàn quân đi qua bản Mường Lát vào ban đêm và phát hiện ra vẻ đẹp trữ tình “hoa về
trong đêm hơi”. “Hoa về” nghĩa là hoa nở. “Đêm hơi” là đêm sương. Hai hình ảnh ấy đặt cạnh nhau
tạo nên một không gian thơ mộng. Có thể hiểu người lính hành quân trong gian khổ nhưng tâm hồn
lúc nào cũng luôn lạc quan, yêu đời làm bạn với hoa rừng, sương núi.
- Có cảnh đoàn quân đi trong mưa vừa hùng vĩ lại rất nên thơ: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu
thơ được dệt bởi những thanh bằng liên tiếp, gợi tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người
lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Nhịp thơ cũng chậm lại, âm điệu nhẹ nhàng như phút
nghỉ chân hiếm hoi của người lính. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến
vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương. Tất cả nhạt nhòa
trong màn mưa rừng dày đặc. Bức tranh mang cái lãng mạn của núi rừng miền Tây, vừa có cái dữ dội
hiểm nguy nhưng lại có cái trữ tình đáng nhớ.
3. Bốn câu thơ tiếp theo nhà thơ miêu tả sự hi sinh gian khổ của người lính đồng thời tô đậm
thêm sự dữ dội của chốn đại ngàn:
- Sự dữ dội của núi rừng cũng vắt kiệt sức người, Quang Dũng không hề né tránh hiện thực: “Anh
bạn dãi dầu không bước nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Người lính Tây Tiến trong cuộc hành
quân gian khổ ấy đã có người ngã xuống vì kiệt sức. “Dãi dầu” là dầm mưa dãi nắng, vất vả khó
nhọc. “Không bước nữa” là kiệt sức. “Gục lên súng mũ” là ngã xuống. “Bỏ quên đời” là hi sinh, mất
mát. Nghệ thuật nói giảm nói tránh đã làm cho câu thơ giảm đi đau thương mà thay vào đó là sự bi
tráng, hào hùng. Người lính ra đi mà như đi vào giấc ngủ bởi họ đã khoác lên mình đôi cánh của lý
tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.
- Gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ là mưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của
cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
“Chiều chiều” rồi “đêm đêm” (thời gian gợi sự hiểm nguy rình rập). Những âm thanh ấy, “thác gầm
thét”, “cọp trêu người”, luôn khẳng định cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng

2.1. Bốn dòng thơ đầu: Cảnh đêm liên hoan văn nghệ
Nếu ở đoạn 1 là cảnh thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ dữ dội khác thường thì đến đoạn 2 là một
bức tranh thiên nhiên Tây Bắc với vẻ đẹp mĩ lệ và thơ mộng. Những nét vẽ bạo khoẻ gân guốc để
vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện thực vừa huyền ảo, thực mà vẫn đậm chất lãng mạn:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ "
Khi đêm liên hoan văn nghệ bắt đầu thì tất cả bừng lên trong ánh sáng của lửa đuốc liên hoan.
Con người và cảnh vật như ngất ngây trong những điệu múa điệu xoè, trong âm thanh rạo rực của
tiếng khèn. Đêm liên hoan văn nghệ đẹp như hội hoa đăng.
- Bốn câu thơ viết về cảnh đêm liên hoan văn nghệ có hai cách hiểu: Có người cho rằng đây là
đêm liên hoan văn nghệ của bộ đội có đồng bào địa phương đến góp vui. Nhưng lại có người cho
rằng đây là những người lính Tây Tiến đóng giả hoá trang thành những cô gái để cùng múa vui trong
đêm liên hoan văn nghệ nhằm vợi bớt đi những gian khổ hi sinh của cuộc đời người lính. Dù hiểu
theo cách nào thì câu thơ vẫn ngời lên vẻ đẹp tâm hồn lạc quan cách mạng của người lính Tây Tiến.
Hai chữ "Kìa em" thể hiện tâm trạng ngạc nhiên, sung sướng vừa như ngắm nhìn vừa như thốt
lên lời trầm trồ sung sướng khi chợt nhận ra vẻ đẹp của những dáng hồng sơn cước, vẻ đẹp của
những thiếu nữ Tây Bắc vừa lộng lẫy, rực rỡ với xiêm áo, những màu sắc vừa dịu dàng kín đáo với
dáng điệu nàng e ấp. Đằng sau hai chữ "kìa em" ta như thấy cả những nụ cười, những ánh nhìn tinh
nghịch của những chàng lính trẻ hồn nhiên, yêu đời.
Tâm hồn lãng mạn của những chiến binh Tây Tiến thể hiện qua cảm hứng lãng mạn hướng về
những màu sắc có tính chất xứ lạ phương xa và những nhu cầu văn hoá tinh thần. Họ thật sự ngạc
nhiên, ngưỡng mộ trước những điệu múa của người dân tộc (man điệu). Họ thực sự thích thú trước
âm thanh tiếng khèn gửi về những miền đất xa xôi (nhạc về Viêng Chăn). Những người lính vốn
xuất thân từ học sinh, sinh viên đâu chỉ mang theo cuộc đời người lính những vũ khí, những súng
ống, gươm đao mà còn mang cả những nhu cầu văn hoá tinh thần. Họ tổ chức những đêm liên hoan
văn nghệ. Họ ngất ngây trong âm thanh của tiếng khèn, họ biết thưởng thức những vũ điệu của người
dân tộc. Hình ảnh những cô gái Tây Bắc, nghệ thuật múa, nghệ thuật âm nhạc đã xây nên bao hồn
thơ ở những người lính Tây Tiến.
2.2. Bốn dòng thơ sau: Cảnh sông nước Tây Bắc mênh mang thơ mộng, huyền ảo
- Nếu cảnh đêm liên hoan văn nghệ đem đến cho người đọc cảm giác mê say, ngất ngây thì

lính trẻ giờ đã trở thành kỉ niệm, là hành trang tinh thần không thể thiếu để họ mang theo suốt cuộc
đời người lính. Đoạn thơ giầu chất nhạc, chất hoạ. Nhạc điệu cất lên từ âm thanh của tiếng khèn, từ
tâm trạng rạo rực của người lính. Hình ảnh được tạo dựng bởi những nét vẽ tài hoa có màu sắc của
xiêm áo có đường nét của những điệu múa điệu xoè, có hình ảnh, dáng người trên con thuyền độc
mộc. Tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến đã được xây dựng bằng chất nhạc chất hoạ và chất
thơ.
3. Phân tích đoạn 3: Hình tượng người lính
. Hình tượng người lính là hình tượng nổi bật của thơ ca, văn học hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và Mỹ. Viết về anh bộ đội cụ Hồ, các tác giả đều có chung một cảm xúc yêu mến tự hào. Tuy nhiên,
bên cạnh những vẻ đẹp chung, hình tượng người lính trong thơ ca còn có vẻ đẹp riêng. Nhớ về giai
đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, có hai kiểu hình tượng người lính được phản ánh trong
thơ ca. Có hình tượng người lính mang vẻ đẹp chân thực mộc mạc qua cảm hứng và bút pháp hiện
thực như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, lại có hình tượng người lính mang vẻ
đẹp lãng mạn như hình tượng người lính trong TâyTiến của Quang Dũng.
- Khi dựng lên tượng đài người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã sử dụng bút pháp nghệ thuật lãng
mạn đem đến cho vẻ đẹp này một vẻ đẹp bi tráng.
Vẻ đẹp lãng mạn bi tráng của người lính được thể hiện qua dáng vẻ và tinh thần.
3.1. Những chiến sĩ Tây Tiến mang dáng vẻ oai phong lẫm liệt:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Viết về người lính Quang Dũng không né tránh những gian khổ hy sinh chỉ có điều hiện thực
không được miêu tả một cách trần trụi mà được nhìn qua cảm hứng lãng mạn. Cũng như nhiều tác
giả khác Quang Dũng cũng nói tới bệnh sốt rét hiểm nghèo từng hành hạ người lính từng gây nên tử
vong. Tuy nhiên các tác giả khác thường sử dụng bút pháp hiện thực còn Quang Dũng thì sử dụng
bút pháp lãng mạn. Bệnh sốt rét hiểm nghèo được gọi đúng tên của nó trong bài thơ Đồng chí của
Chính Hữu :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh.
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI


Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Hoa Tiên mà đã một thời họ được học khi ngồi trên ghế nhà trường.
3.3. Vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của người lính Tây Tiến còn được thể hiện qua tư thế lên
đường vì lý tưởng và sự hy sinh cao đẹp.
- Tư thế lên đường: Người lính lên đường chiến đấu hy sinh vì lý tưởng trong Tây Tiến với tư thế
chiến đấu coi cái chết nhẹ tựa lông hồng:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Lại một lần nữa khi viết về người lính, về chiến tranh, Quang Dũng không né tránh những hy
sinh mất mát, cái bi thương được gợi lên qua hình ảnh những nấm mồ hoang nơi rừng sâu biên giới.
Những nấm mồ nơi rừng sâu không người hương khói, ít người qua lại gợi lên sự bùi ngùi thương
cảm xót xa. Tuy nhiên cứ mỗi khi chìm vào trong đau thương thì cảm xúc thơ của Quang Dũng được
nâng lên đôi cánh lý tưởng của cảm hứng lãng mạn.
Cái bi thương dường như được vợi đi bởi câu thơ xuất hiện nhiều từ Hán Việt mang sắc thái
trang trọng cổ kính “Biên cương mồ viễn xứ” đã biến những nấm mồ hoang nơi rừng sâu biên giới
thành những mồ chí tôn nghiêm vĩnh hằng.
Cái bi thương bị át đi bởi vẻ đẹp lý tưởng: Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Hai chữ “chẳng tiếc” đặt giữa câu thơ nói lên thái độ thanh thản dứt khoát, hoàn toàn tự nguyện
của những con người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đời xanh gợi tuổi trẻ với bao hoa mộng, hy
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
vọng nhiều là thế đẹp là thế đáng yêu là thế mà sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc, hỏi có sự hy sinh
nào cao đẹp hơn thế?
- Cái chết của người lính được bao phủ bởi hào quang của cảm hứng lãng mạn và bi tráng:
áo bào thay chiếu khúc độc hành
Nếu bằng cái nhìn hiện thực trần trụi đơn thuần thì cái chết của người lính gợi lên bao niềm
thương cảm xót xa khi các anh về nơi an nghỉ cuối cùng một manh chiếu che thi thể cũng không có,
vẫn có một cách hiểu khác về câu thơ áo bào thay chiếu (là có chiếu mà không có áo bào) nhưng qua
cái nhìn lãng mạn thì chiếc áo người lính bạc vì mưa nắng, rách vì bom đạn đã trở thành chiếc áo bào
sang trọng.

* Mở bài: Tây Tiến là bài thơ hay nổi tiếng của Quang Dũng, đồng thời là thành tựu nghệ
thuật xuất sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Tác giả sáng tác bài thơ này sau khi đã xa đơn vị
Tây Tiến một thời gian nhưng những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến vẫn sống trong tâm khảm nhà
thơ. Vốn là người lính của binh đoàn Tây Tiến, sau đó chuyển công tác, một lần ngồi ở Phù Lưu
Chanh - một địa danh của Hà Đông cũ, nhớ lại kỉ niệm Tây Tiến, Quang Dũng xúc động viết bài thơ
này. Bài thơ có hai nét đặc sắc nổi bật là thể hiện qua hình tượng thiên nhiên Tây Bắc và hiện hình
tượng người lính Tây Tiến.
* Thân bài:
- Nhắc lại hoàn cảnh ra đời (Phần dưới) và kết cấu bài thơ:
- Trước hết, cần hiểu cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là gỡ?
1. Lãng mạn Nói đến cảm hứng lãng mạn là nói đến một thế giới giàu cảm xúc, giàu trí tưởng
tượng trên cơ sở hiện thực mà lãng mạn hóa hiện thực. Ở đó, người ta hay hướng tới cái cao cả, phi
thường cái lí tưởng hơn là cái bình thường, bình dị đời thường. Để làm rõ cảm hứng lãng mạn, các
nhà thơ sử dụng rộng rãi thủ pháp nghệ thuật đối lập tương phản.
2. Bi tráng : tinh thần bi tráng là không né tránh cái đau thương dám nhìn thẳng vào hi sinh
mất mát. Bi thương nhưng không bi lụy, trái lại đem đến cho cái bi vẻ đẹp hào hùng tráng lệ . Với
Tây Tiến, cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng là nột đặc sắc chính làm nên vẻ đẹp và giá trị
của bài thơ. Điều đó thể hiện chủ yếu qua hình tượng thiên nhiên miền Tây và hiện hình tượng người
lính Tây Tiến.
3. Hình tượng thiên nhiên:
- Hùng vĩ dữ dội khác thường (phần phân tích đoạn đầu )
- Vẻ đẹp mĩ lệ thơ mộng (phần phân tích chủ yếu ở đoạn 2)
4. Hình tượng người lính : vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng .
- Dáng vẻ oai phong lẫm liệt khác thường: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc .
- Tâm hồn lãng mạn.
+ Những nhu cầu văn hóa tinh thần (đoạn nói về đêm liên hoan văn nghệ).
+ Tâm hồn nhiều mộng và mơ ( Mắt trừng gửi mộng qua biên giới )
- Tư thế lên đường vì lí tưởng :
+ Vẻ đẹp thanh thản trước những khó khăn gian khổ, sự hi sinh ( Anh bạn dãi dầu không bước
nữa

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người"
Thời gian ở những thời điểm "chiều chiều, đêm đêm" vùng rừng núi đây là thời điểm chứa đầy
sự huyền bí, sự khủng khiếp đối với đời sống con người. Hai chữ Mường Hịch với dấu nặng đọc lên
nghe nặng trịch vừa gợi lên một địa danh xa xôi vừa như thấy có cả tiếng chân cọp đi trong đêm
khuya. Tuy nhiên động từ trêu lại đem đến sự cảm nhận huyền bí chỉ là thử thách đối với con người.
Tiếng thác gầm thét, tiếng cọp trêu người giữa đêm khuya cũng không hù doạ được người chiến sĩ
Tây Tiến. Những người chiến sĩ Tây Tiến dũng cảm yêu đời này với khí phách hiên ngang đã vượt
lên trên hoàn cảnh, chiến thắng hoàn cảnh.
Đoạn thơ khép lại cũng với nỗi nhớ Tây Tiến nhưng không phải là cảnh núi rừng hoang vu mà
cảnh sống sinh hoạt của con người:
" Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi"
Câu thơ ghi lại một sự thực trên đường hành quân nhưng vẫn tràn đầy cảm hứng lãng mạn. Sau
những chặng đường hành quân vất vả người lính Tây Tiến dừng chân bên bản làng có vườn tược có
tình người, họ được sống trong tình thương yêu đùm bọc của nhân dân. Cơm nếp thơm mà cũng là sự
thơm thảo của tình người. Nhớ ôi không phải là sự lạ hoá về ngôn từ mà là sự tăng cường cho nỗi
nhớ. Câu thơ "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói" giàu tính tạo hình. Nó gợi hình ảnh những làn khói
đang bốc lên quanh những mái đầu dầu dãi như nghe thấy cả tiếng xuýt xoa cảm động của những
người lính.
*. Kết luận:
Đoạn thơ mở đầu là một trong những đoạn thơ hay đặc sắc của bài thơ Tây Tiến, phản ánh
được vẻ đẹp lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. Những câu thơ giàu chất hoạ và chất nhạc. Chất hoạ
gợi lên từ những đường nét hình ảnh, chất nhạc lại đằm thắm trong tâm hồn những người lính trẻ
phơi phới niềm yêu đời. Người xưa khi nói về nhưng câu thơ hay, đoạn thơ hay thường nói " Thi
trung hữu hoạ , "Thi duyên tình"( Trong thơ có duyên với tình cảm, thơ bộc lộ tình cảm), có thể dùng
những lời khen ấy để nói về đoạn thơ bình giảng nói riêng và bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng nói
chung.
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI


Một tác phẩm có thể bao hàm đầy đủ những nội dung trên nhưng đồng thời cũng có thể đi sâu vào
nội dung nào đó. Lòng yêu nước trong văn học Cách mạng ( Đất nước – Nguyễn Đình Thi, Việt Bắc
của Tố Hữu ).
=======================================

MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98

Lời mở: Trong cuốn hồi ký mang tên “Giữ trong nguồn sáng” xuất bản năm 2008 tại Mỹ viết về ông
Morrison và chuyến thăm “để đời” của gia đình đến Việt Nam, bà Ann Welsh Morrison (En wers
mo ri sừn) đã ghi lại những cảm xúc về cuộc gặp với nhà thơ Tố Hữu, trong đó có chi tiết "nhà thơ
Tố Hữu rất xúc động, lấy một trang giấy gấp tư trong túi ngực, trong đó ghi một bài thơ viết tay và
đọc tặng gia đình Morrison:
Tạm biệt
“Xin tạm biệt đời yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ một nắm tro
Thơ gửi bạn đường, tro gửi đất,
Sống là cho và chết cũng là cho”
Phải chăng, đó cũng là tâm nguyện của một người trọn đời đã hiến dâng cho tổ quốc, cho Đảng và
nhân dân? Từ những vần thơ đầu tiên của Tố Hữu các em được đọc thời tiểu học- bài tập đọc lớp 3
tiếng ru: Con ong làm mật yêu hoa… đến hình ảnh đáng yêu của chú bé Lượm (lớp 6); cảm giác ngột
ngạt của người chiến sĩ khi bị giam cầm: Khi con tu hú (lớp 8); rồi đến giây phút cảm động trong Từ


MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
2.3. Nội dung chính
- Tái hiện những kỉ niệm Cách mạng, kháng chiến. Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên,
con người Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
+ Thiên nhiên Việt Bắc vừa nên thơ, trữ tình vừa hùng vĩ, tráng lệ.
+ Con người Việt Bắc hăng say lao động, sâu nặng ân tình với cách mạng, kháng chiến.
- Gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước, ca ngợi công lao của Đảng và Bác Hồ trong kháng chiến
chống Pháp.
- Thể hiện tình cảm của Tố Hữu đối với quê hương Cách mạng Việt Bắc: yêu mến, gắn bó, tự hào
về truyền thống cao đẹp của dân tộc, đất nước.
Việt Bắc là khúc hùng ca, tình ca về Cách mạng, về kháng chiến, về những con người trong kháng
chiến chống Pháp.
2.3. Kết cấu bài thơ: theo khuôn mẫu của lối đối đáp trong ca dao.
II. Đọc hiểu văn bản
Đoạn 1: Cảnh chia tay giữa “mình” và “ta”
“Mình và Ta không phải dùng cho ngôi thứ nhất hay thứ hai, không phải một từ chỉ chủ thể, một từ
chỉ khách thể, mà cả hai đều chỉ chủ thể. Tôi nhắc lại: mình và ta đều chỉ chủ thể. Mình ấy ta ấy là
một phần đời sống mà thi sĩ đã trải qua bao nhiêu năm ở Việt Bắc. Phần đời này trò chuyện quyến
luyến với phần đời kia. Cho nên cuộc chia tay không diễn ra bình thường mà diễn ra trong máu thịt,
trong tâm hồn nhà thơ. Sự chia li bản thân mình là một sự chia li khó khăn nhất và tha thiết nhất,
đắm đuối nhất” (Tác giả nói về tác phẩm- NXB Trẻ- 2000, tr147)
- Bài thơ mở ra cảnh chia tay với tâm trạng bịn rịn, bâng khuâng, lưu luyến của hai người từng gắn
bó sâu nặng, bền lâu. Người ở lại lên tiếng trước…
- Lời hỏi của người ở lại đã khơi dậy cả quá khứ đầy ắp nhớ thương gắn liền với những kỉ
niệm…Người ra đi cũng có tâm trạng như người ở lại nên nỗi nhớ không chỉ hướng về người ở lại
mà còn là nỗi nhớ về chính mình. Bằng việc sáng tạo một tình huống trữ tình đặc biệt để bộc lộ cảm

- hotline: 04.32.99.98.98
Tố Hữu thật tài tình, khéo léo khi sử dụng hai từ láy diễn tả tâm trạng trong một câu thơ : bâng
khuâng, bồn chồn. Tình cảm của người Cách mạng và người Việt Bắc trong 15 năm kháng chiến thật
sâu sắc, vì thế khi chia tay càng bịn rịn, luyến lưu. Người cách mạng phải về xuôi vì nhiệm vụ mới
khi cuộc chiến kết thúc, nhưng chia tay Việt Bắc sao mà khó đến thế! Chân bước đi mà lòng không
muốn đi.
- Cảnh chia tay giữa người Việt Bắc và người Cách mạng được tác giả tái hiện lại thật xúc động qua
hai câu:
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
Áo chàm là hình ảnh hoán dụ , chỉ người Việt Bắc. “Áo chàm đưa buổi phân li” là người Việt Bắc đi
đưa tiễn người cách mạng. Trong giờ khắc chia ta đầy lưu luyến, bịn rịn , tấm chân tình của kẻ ở
người đi gửi qua cái bắt tay, bắt tay để chia tay. Họ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ” , họ không
biết nói gì không phải không có gì để nói, phải chăng điều muốn nói quá nhiều, kỉ niệm quá nhiều,
ân tình sâu sắc quá nên không thể nào nói hết, diễn tả hết.Vì thế mà họ chỉ biết gửi tất cả qua cái bắt
tay mà lòng nghẹn ngào.
Cảnh chia tay thật bịn rịn, lưu luyến thể hiện tình cảm sâu nặng giữa người cách mạng và người Việt
Bắc.
- Đoạn thơ còn là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
+ Thể thơ lục bát của dân tộc rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm .
+ Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu tha thiết, tâm tình.
+ Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
+ Điệp từ “ nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
Đoạn thơ mở đầu đã diễn tả thành công cảnh chia tay thật bịn rịn, lưu luyến giữa người Việt Bắc và
người cách mạng. Cái tài của Tố Hữu là chuyện ân tình cách mạng được tác giả khéo léo thể hiện
như chuyện tình cảm lứa đôi. Chính vì thế mà thơ Tố Hữu là thơ chính trị nhưng rất đỗi trữ tình, đi
sâu vào lòng người.
Đoạn thơ chỉ có tám câu ngắn gọn nhưng mở ra một trời thương nhớ, một ân tình sâu nặng giữa
những người Cách mạng và quê hương cách mạng trong kháng chiến chống Pháp.
Thực ra, đối đáp chỉ là một thủ pháp khơi gợi, bộc lộ tâm trạng, tạo ra sự đồng vọng của tình cảm,

dụng gam màu nóng để vẽ bức tranh thiên nhiên Việt Bắc mùa đông thật đẹp và không thể quên.
- Nhớ mùa đông Việt Bắc còn nhớ người đi nương rẫy “dao gài thắt lưng” trong tư thế mạnh mẽ hào
hùng đứng trên đèo cao “nắng ánh “, con dao của người đi nương rẫy phản quang rất gợi cảm.
Màu “xanh” của rừng, màu “đỏ” của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của “nắng ánh” từ con dao, màu
sắc hòa hợp làm bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Con người
Việt Bắc trong tư thế làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến.
- Nhớ ngày xuân Việt Bắc:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
- Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ “nở trắng rừng”, câu thơ miêu tả độc đáo của tác giả gợi
một thế giới hoa mơ bao phủ mọi cánh rừng Việt Bắc, sắc trắng tinh khiết của hoa mơ mở ra một
không gian bao la, thoáng mát và tràn đầy sức sống. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ câu
thơ tả mùa xuân khá độc đáo của đại thi hào Nguyễn Du:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
- Nhớ người thợ thủ công cần mẫn, khéo léo “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” . “ Chuốt “
là làm bóng sợi giang mỏng manh. Có khéo léo, cần mẫn, tỉ mỉ thì mới có thể “chuốt từng sợi giang”
để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến, để anh bộ đội đi chiến dịch có “ ánh
sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa,
sáng tạo của đồng bào Việt Bắc.
- Nhớ mùa hè Việt Bắc : Nhớ mùa hè Việt Bắc với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, nhớ màu
vàng của rừng phách , nhớ cô thiếu nữ đi hái măng một mình,
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
- Một chữ “đổ” tài tình, tiếng ve kêu như trút xuống, “đổ” xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm
cho rừng phách thêm vàng thiên nhiên Việt Bắc ngày hè thật tươi đẹp, sinh động .
VIỆT BẮC – TỐ HỮU (tiết 2)

MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

Thiên nhiên Việt Bắc thật nên thơ, hữu tình và mang màu sắc cổ điển qua nét bút tài hoa của Tố
Hữu. Con người Việt Bắc được tác giả nhắc đến không phải là ngư, tiều, canh, mục mà là người đi
nương rẫy, người đan nón, người đi hái măng ,… mà là những con người toả sáng nét đẹp cao quý
trong lao động và kháng chiến: cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, khéo
léo, tài hoa, trẻ trung, yêu đời,… và hết lòng phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến.
* Đoạn thơ là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
+ Thể thơ lục bát của dân tộc
+ Lời thơ là lời hỏi – gợi nhớ với giọng điệu ngọt ngào, tha thiết, tâm tình.
+ Cách xưng hô ta – mình thân thiết, gần gũi , đậm phong vị ca dao.
+ Điệp từ “ nhớ” nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ thể hiện tình cảm sâu nặng.
+ Bút pháp miêu tả đặc sắc: kết hợp hình ảnh, màu sắc, âm thanh ,…
+ Câu trúc đoạn thơ cân xứng hài hòa: một câu tả cảnh, một câu tả người và cả đoạn thơ là bức tranh
về thiên nhiên và con người Việt Bắc.
Đoạn thơ dạt dào tình thương mến, nỗi thiết tha bổi hồi như thấm sâu vào cảnh và người, kẻ ở người
về thì “ mình nhớ ta”, “ta nhớ mình” . Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng, biết bao ân tình thủy chung.
Năm tháng đi qua nhưng ân tình cách mạng giữa Việt Bắc và người về xuôi vẫn mãi mãi như một
dấu son đỏ thắm in đậm trong hồn người.
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
Đoạn thơ là lời ngợi ca quê hương Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp. Qua đó thể hiện tình cảm
của Tố Hữu với Việt Bắc, với Cách mạng: yêu mến, tự hào, biết ơn. Đoạn thơ gợi lên trong lòng
người đọc tình mến yêu Việt Bắc, tự hào về đất nước và con người Việt Nam.
3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng
và kháng chiến
3.1. Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến
(Đoạn: Nhớ khi giặc đến giặc lùng Nhớ từ Cao – Lạng , nhớ sang Nhị Hà)
* Mở đầu đoạn thơ là nỗi nhớ của người cách mạng. Nhớ những ngày thực dân Pháp đến quê hương
Việt Bắc và Việt Bắc ra trận đánh Tây.

tham gia vào cuối năm 1949 , đánh dấu bước trưởng thành trong khói lửa của quân đội ta để từ đó
tiến lên đánh lớn và thắng lớn trong chiến dịch Biên giới giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn: “Nhớ từ
Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà…”. “Nhớ từ” …nhớ sang” gợi nỗi nhớ dạt dào, mênh mông, da diết,…
Đoạn thơ với hàng loạt các địa danh cụ thể của Việt Bắc như những trang kí sự chiến trường nối tiếp
xuất hiện để lại bao tự hào trong lòng người đọc. Có biết bao máu đổ xương rơi, biết bao anh hùng
ngã xuống mới có thể đưa tên núi, tên sông, tên đèo nơi Việt Bắc vào lịch sử, vào thơ ca và tạc vào
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
lòng dân tộc nỗi nhớ mênh mang ấy.
Đoạn thơ là thành công của tác giả ở nghệ thuật thể hiện:
+ Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.
+ Điệp từ “ nhớ” và liệt kê hàng loạt các trận đánh lớn của Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
Đoạn thơ là nỗi nhớ Việt Bắc trong những trận đánh lớn và thắng lớn. Lời ngợi ca Việt Bắc anh hùng
trong kháng chiến và niềm tự hào của tác giả, của người cách mạng về quê hương cách mạng.
3.2. Hình ảnh Việt Bắc ra trận kháng chiến và chiến thắng.
(Đoạn: Những đường Việt Bắc của ta Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng)
Bao trùm đoạn thơ là những nỗi nhớ với tất cả niềm tự hào, nhớ những con đường chiến dịch, nhớ
đoàn quân, nhớ dân công,…, nhớ chiến dịch, nhớ đèn pha ra trận,…Qua đó tác giả ngợi ca sức sống
mãnh liệt của đất nước, con người Việt Nam trong máu lửa chiến tranh.
* Tám câu thơ tiếp theo tái hiện lại con đường Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp
với những nẻo đừơng hành quân, nẻo đường chiến dịch,…
- Các từ láy “đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “trùng trùng” cùng lối so sánh “như là đất rung” đã
gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000
năm của dân tộc. Khí thế chiến đấu thần kì của quân dân Việt Bắc làm rung đất chuyển trời mà
không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được.
- Cả dân tộc ra trận chống Pháp với sức mạnh không gì ngăn được:
Quân đi điệp điệp trùng trùng Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Những câu thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tái hiện lại khí thế kháng chiến, ra

* Đoạn thơ là thành công của Tố Hữu ở nghệ thuật thể hiện:
+ Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.
+ Sử dụng từ ngữ và các phép điệp tạo giọng điệu mạnh mẽ, mang âm điệu anh hùng ca.
+ Đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Nghệ thuật thể hiện đậm tính dân tộc. Đây là đoạn thơ hay và đẹp trong bài thơ “ Việt Bắc”. Đoạn
thơ vang lên như một khúc ca thắng trận của quân dân Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.
Khẳng định, ngợi ca, tự hào về quê hưong Việt Bắc “Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” .
Đoạn thơ tỏa sáng hồn ta ngọn lửa Điện Biên thần kì và chấn động lòng ta nỗi nhớ vè một tình yêu
lớn – yêu Việt Bắc, yêu Cách mạng và yêu quê hương đất nước Việt Nam. Đoạn thơ thể hiện sự gắn
bó ân tình sâu nặng của Tố Hữu với Việt Bắc, với Cách mạng .
3.3. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến (Xem tư liệu tham khảo)
4. Nghệ thuật
- Sử dụng thể thơ truyền thống của dân tộc : thơ lục bát.
- Cách xưng hô ta – mình, mình – mình thân mật, gần gũi, đậm phong vị ca dao.
- Lối đối đáp trữ tình của ca dao Việt Nam.
- Giọng thơ tâm tình , ngọt ngào như âm hưởng lời ru.
- Sử dụng thành công các biện pháp tu từ : so sánh, nhân hóa, cường điệu , điệp,
- Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất giản dị, mộc mạc nhưng sinh động, hấp dẫn.
- Đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Nghệ thuật đậm tính dân tộc MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98


- Tố Hữu đã lấy thước đo giá trị của nỗi nhớ trong tình yêu để cắt nghĩa, lý giải cho tình cảm của
cán bộ đối với nhân dân. Không phải là nỗi nhớ của ý thức, của nghĩa vụ mà nhớ bằng cả trái tim
yêu thương chân thành và da diết.
- Câu thơ “Trăng lên đầu núi…” như được phân ra làm 2 nửa thời gian: vế đầu là hình ảnh gợi
tả đêm trăng hò hẹn của tình yêu; vế sau là hình ảnh gợi không gian của buổi chiều lao động
trên nương rẫy. Thời gian như chảy ngược - nỗi nhớ như đi từ gần tới xa, thăm thẳm trong quá khứ.
Tình yêu gắn liền với lao động; lao động nảy sinh ra tình yêu. Câu thơ cùng lúc thể hiện hai không
gian của tình yêu và lao động, tạo nên sự hài hoà giữa nghĩa vụ và tình cảm.
2. Đến hai câu thơ tiếp, tình yêu như chuyển thành nỗi nhớ trong tình cảm gia đình. Toàn không
gian núi rừng Việt Bắc được gói gọn trong không khí gia đình ấm áp tình thương.
VIỆT BẮC – TỐ HỮU (tiết 3)

MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
“Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”
- Nỗi nhớ không còn mông lung, mơ mộng nữa mà đã cụ thể trong những bản làng, những mái
nhà thấp thoáng trong những làn khói sương hư ảo. Hình ảnh khói sương là đặc điểm của cuộc sống
Việt Bắc, vừa là khói sương của thiên nhiên, đồng thời như làm nổi lên hơi ấm của tình đời, tình
người. Có hình ảnh của ai đó đang chờ đợi bên bếp lửa suốt đêm dài thao thức. Quan hệ giữa cán bộ
và nhân dân như tụ họp ở ngọn lửa thiêng liêng bất diệt. Nhớ đến một người để nhớ mọi người. Tố
Hữu đá làm riêng cả mối tình chung.
3. Kết thúc khổ thơ , tình cảm lại toả ra tràn ngập cả núi rừng Việt Bác. Những kỷ niệm chung và
riêng đan xen nhau, lần lượt hiện ra trong tưởng tượng của người đi :
“Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy suối Lê vơi đầy
Ta đi ta nhớ những ngày,
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”

sao đầu súng; bước chân nát đá…).
2. Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ (phép điệp; so sánh; cường điệu, liệt kê…).
MOON.VN
KHÓA CHUYÊN ĐỀ LTĐH – Cô NGUYỄN THANH MAI

- hotline: 04.32.99.98.98
3. Gịong thơ sôi nổi, hào hùng thể hiện khí thế ra trận của dân tộc trong kháng chiến chống
Pháp.
=> Đoạn thơ thể hiện sâu sắc khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn .
Phân tích cụ thể:
Những đường Việt Bắc của ta Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Bao trùm đoạn thơ là những nỗi nhớ với tất cả niềm tự hào, nhớ những con đường chiến dịch, nhớ
đoàn quân, nhớ dân công,…, nhớ chiến dịch, nhớ đèn pha ra trận,…Qua đó tác giả ngợi ca sức sống
mãnh liệt của đất nước , con người Việt Nam trong máu lửa chiến tranh.
* Tám câu thơ tiếp theo tái hiện lại con đường Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp
với những nẻo đừơng hành quân, nẻo đường chiến dịch,…
- Các từ láy “ đêm đêm”, “rầm rập”, “điệp điệp”, “ trùng trùng” cùng lối so sánh “ như là đất rung “
đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000
năm của dân tộc. Khí thế chiến đấu thần kì của quân dân Việt Bắc làm rung đất chuyển trời mà
không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được.
- Cả dân tộc ra trận chống Pháp với sức mạnh không gì ngăn được:
Quân đi điệp điệp trùng trùng Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Những câu thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn tái hiện lại khí thế kháng chiến, ra
trận của quân ta. Đoàn quân ra trận đông đảo , người người lớp lớp như sóng cuộn “ điệp điệp trùng
trùng” .
+ Câu thơ “ Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” là một tứ thơ sáng tạo, vừa thực vừa ảo . “ Ánh sao
đầu súng” là ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép, ánh sao của bầu trời Việt Bắc , ánh sao lí
tưởng chiến đấu vì độc lập tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận cho anh bộ đội cụ Hồ.
+ Tác giả thành công ở bút pháp cường điệu trong câu “ Bước chân nát đá …” , bút pháp cường điệu
tạo nên âm điệu anh hùng ca , gợi tả sức mạnh Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Quân ta

hưong Việt Bắc “ Quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa” . Đoạn thơ tỏa sáng hồn ta ngọn lửa
Điện Biên thần kì và chấn động lòng ta nỗi nhớ vè một tình yêu lớn – yêu Việt Bắc, yêu Cách mạng
và yêu quê hương đất nước Việt Nam.
Đoạn thơ thể hiện sự gắn bó ân tình sâu nặng của Tố Hữu với Việt Bắc, với Cách mạng
Dạng đề 2- Dạng liên kết (Dành cho kì thi cuối khóa)
Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
…Sông Mã gầm lên khúc độc hành".
(“Tây Tiến”- Quang Dũng, Ngữ văn Nâng cao 12
Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr 69)
"Những đường Việt Bắc của ta
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên"
(“Việt Bắc”- Tố Hữu, Ngữ văn Nâng cao 12, Tập
một,
NXB Giáo dục, 2008, tr 85)
Các em tham khảo đáp án sau:

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang
Dũng và Việt Bắc của Tố Hữu
5
1
Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai đoạn thơ
(0,25)
2
Đoạn thơ trong bài Tây Tiến
- Vị trí của đoạn thơ: là đoạn (khổ) ba của bài thơ. Sau khi khắc hoạ hình tuợng người
lính trên con đường hành quân, nhà thơ đã khắc họa tượng đài tập thể của những người
lính Tây Tiến.
- Đặc điểm của hình tượng:
+ Hình tượng người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ mang vẻ đẹp vừa hào hùng


(0.25)
3
Đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Vị trí của đoạn: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ Việt bắc trong

(0,25)

Trích đoạn RỪNG XÀ N U NGUYỄN TRUNG THÀNH (tiết 3) Chất sử thi: (Đọc lại khỏi niệm sử thi trong bài Khỏi quỏt văn học) Phõn tớch nhõn vật 1 Nhõn vật chỳ Năm NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐèNH – NGUYỄN THI (tiết 2) NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐèNH – NGUYỄN THI (tiết 3)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status