Các điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=================================

ĐẶNG THỊ TRANG
CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRI THỨC Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=================================
ĐẶNG THỊ TRANG

Bảng 2.3 : Thứ bậc, Điểm đánh giá Chỉ số Đổi mới /Sáng tạo
của Việt nam và các nước xung quanh 66 1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Kết cấu của luận văn 9
Chương 1. CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI CẦN THIẾT
CHO SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC 10
1.1 Bản chất và đặc trưng của kinh tế tri thức 10
1.1.1 Sự xuất hiện nền kinh tế tri thức trên thế giới 10
1.1.2 Bản chất nền kinh tế tri thức 12
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức 14
1.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội có tính chất tiền đề cho việc hình thành, phát
triển kinh tế tri thức. 21
1.2.1 Các điều kiện chung. 22
1.2.2 Cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển trong việc xác lập
các điều kiện hình thành nền kinh tế tri thức. 30
1.3 Những kinh nghiệm từ quá trình phát triển nền kinh tế tri thức ở một số nước

3.1.3. Thực sự coi con người là nguồn nhân lực số một trong phát triển đất
nước 82
3.2 Các giải pháp cơ bản 82
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện môi trường thể chế hướng đến kinh tế tri thức 82
3.2.2 Tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
công nghệ – thông tin hiện đại. 83
3.2.3 Đổi mới căn bản giáo dục - đào tạo để phát triển nhanh nguồn nhân lực
chất lượng cao. 88
3.2.4 Tăng cường hệ thống đổi mới quốc gia để sử dụng có hiệu quả tri thức
phục vụ phát triển. 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
3
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế tri thức là một nền kinh tế toàn cầu đang diễn ra rất mạnh, lan toả nhanh
và làm biến đổi sâu sắc các quá trình sản xuất, cách thức kinh doanh và mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội loài người. Đây không chỉ là cách mạng trong kỹ thuật, trong kinh
tế mà còn là cách mạng trong các khái niệm, trong tư duy, trong cách sống, cách làm
việc, trong các quan hệ xã hội…Một phương thức sản xuất của cải mới - khởi phát từ
các nước phát triển, khác hẳn với các phương thức cũ dần xuất hiện. Đi đôi với quá
trình biến đổi lực lượng sản xuất, từ kinh tế công nghiệp chuyển lên nền kinh tế tri
thức, là quá trình toàn cầu hóa; và trên thực tế đang hình thành nền kinh tế tri thức toàn

những giải pháp chiến lược bảo đảm cho đất nước tiến nhanh và vững chắc trở
thành vấn đề thực tiễn cực kì quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu
Mặc dù những ý tưởng về sự xuất hiện một nền “kinh tế mới” “kinh tế hậu
công nghiệp” đã được đề cập từ những năm 70, 80 của thế kỉ XX trong một số công
trình của các nhà tương lai học (điển hình là bộ sách “Cú sốc tương lai”, “Làn song
thứ ba”của Alvin Toffler), song phải đến những năm 90 của thế kỉ XX, vấn đề kinh
tế tri thức mới thực sự thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học và các nhà
hoạch định chính sách ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Nhiều học giả nổi tiếng và các tổ chức quốc tế đã công bố những công trình nghiên
cứu về kinh tế tri thức, trong đó một số tài liệu đã được biên tập và dịch ra tiếng
Việt như: Cuốn “Kinh tế tri thức- Xu thế mới của xã hội thế kỉ XXI”, Nxb Chính trị
quốc gia, năm 2000 do Ngô Quý Tùng biên soạn; Lester Thurow (2000): "Sáng tạo
của cải”; Damel Cohen và Michèle Debonneuil (2001): "Nền kinh tế mới”, chương
trình Diễn đàn kinh tế Việt- Pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Ở nước ta vấn đề kinh tế tri thức cũng ngày càng được nhiều người quan
tâm. Những năm vừa qua, nhiều Hội thảo khoa học, đề tài và bài báo bàn luận về
kinh tế tri thức ở những góc độ khác nhau. Có thể liệt kê một số hoạt động như: Ban
Khoa Giáo TW, Bộ KH, CN &MT, Bộ ngoại giao đồng chủ trì hội thảo “Kinh tế tri
thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, năm 2000. Các nhà khoa học trong
hội thảo đưa ra những vấn đề chung của kinh tế tri thức và đặt ra bài toán phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam. Tác giả Đặng Mộng Lân viết cuốn “Kinh tế tri thức,
những khái niệm và vấn đề cơ bản”, Nxb Thanh niên, năm 2002; Phạm Quang 5
Phan, “Những vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức”, Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài

6
Năm 2002 Nxb Giáo dục xuất bản cuốn sách “Bước chuyển sang nền kinh
tế tri thức ở một số nước trên thế giới hiện nay” của PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh (chủ
biên). Đây thực sự là một công trình nghiên cứu công phu, với sự tham gia của
nhiều nhà nghiên cứu trong đó các tác giả đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau
về cách hiểu về nền kinh tế tri thức; những đặc trưng chủ yếu; những điều kiện cơ
bản để hình thành nền kinh tế tri thức…Từ đó nghiên cứu bước chuyển sang kinh tế
tri thức ở một số nước và đưa ra những gợi mở cho Việt Nam.
Tác giả Đặng Mộng Lân viết cuốn “Kinh tế tri thức, những khái niệm và vấn
đề cơ bản”, Nxb Thanh niên, năm 2002. Tác giả đã giới thiệu các khái niệm cơ bản
xuất phát của kinh tế tri thức; sự xuất hiện của kinh tế tri thức…; và đề cập đến vấn
đề quan trọng đối với các nước đang phát triển đó là phát triển dựa trên tri thức.
Nghiên cứu kinh tế tri thức dưới một góc nhìn khác, PGS.TS Phí Mạnh Hồng đã
chủ trì đề tài trọng điểm “Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tri thức – Cơ hội và thách
thức đặt ra cho Việt Nam”, công bố năm 2006. Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề cơ
bản liên quan đến kinh tế tri thức, đặc biệt là logic hình thành nó như một thời đại kinh
tế mới; giới thiệu và cập nhật một số kinh nghiệm quốc tế về tiếp cận kinh tế tri thức;
làm rõ những vấn đề mà xu hướng phát triển kinh tế tri thức đặt ra cho Việt Nam; từ đó
đề xuất một số giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
của Việt Nam.
Năm 2009, Nxb Khoa học xã hội xuất bản cuốn “Phát triển kinh tế tri thức
gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” do GS Đặng Hữu chủ
biên cùng với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Các tác giả đã làm
rõ các vấn đề vai trò của tri thức đối với sự phát triển; sự ra đời của nền kinh tế tri
thức; các chỉ số đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế tri thức; thực trạng nền
kinh tế tri thức Việt Nam nhìn từ góc độ phát triển dựa trên tri thức. Trong góc nhìn
này, các tác giả nêu lên vấn đề Việt Nam tất yếu phải phát triển kinh tế tri thức để

Đề tài lấy các điều kiện kinh tế - xã hội để hình thành và phát triển nền kinh tế
tri thức ở Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
* Về phạm vi nghiên cứu:
+ Về học thuật: Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về các điều
kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức. Trong các yếu tố đó, tác giả tập trung
nghiên cứu một số vấn đề về nguồn nhân lực, giáo dục đào tạo, môi trường thể chế, 8
năng lực khoa học và hệ thống đổi mới quốc gia, cơ sở hạ tầng thông tin và truyền
thông.
+ Phạm vi lãnh thổ: Địa bàn quốc gia Việt Nam
+ Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu từ năm 2001 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình triển khai đề tài, tác giả chú trọng sử dụng các phương
pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp trên tinh thần biện
chứng, gắn lí luận với thực tiễn, logic kết hợp với lịch sử khi nghiên cứu. Trong đó đặc
biệt chú trọng phương pháp thu thập các dữ liệu, số liệu.
Thu thập các dữ liệu, số liệu là phương pháp quan trọng, định hướng cho
toàn bộ luận văn. Những số liệu thu thập được giúp tác giả có những cơ sở thực tiễn
cơ bản nhất liên quan tới đề tài nghiên cứu gồm: các điều kiện hình thành kinh tế tri
thức, kinh nghiệm của các nước trong phát triển kinh tế tri thức, những mặt được và
chưa được trong việc xác lập các điều kiện hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt
Nam. Công trình sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê, các công trình, dự án, bài
viết trên các sách báo, tạp chí và từ mạng Internet để phân tích và đánh giá các điều
kiện hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
6. Đóng góp của luận văn


10
Chương 1. CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI CẦN THIẾT
CHO SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Bản chất và đặc trưng của kinh tế tri thức
1.1.1 Sự xuất hiện nền kinh tế tri thức trên thế giới
Quá trình phát triển lực lượng sản xuất của loài người có thể chia ra làm ba
thời kỳ: thứ nhất là nền kinh tế nông nghiệp hay là nền kinh tế sức lao động với đặc
trưng chủ yếu là sản xuất bằng lao động thủ công, năng suất lao động rất thấp, đất
đai là tài nguyên chủ yếu; thứ hai là nền kinh tế công nghiệp, dựa chủ yếu vào máy
móc và tài nguyên thiên nhiên; thứ ba là nền kinh tế tri thức, bắt đầu hình thành từ

nước này còn chậm hơn so với Mỹ.
So với sự chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, sự
chuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức có ý nghĩa hơn: trước hết
đó là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào vốn tài nguyên, lao động là chính
sang nền sản xuất dựa vào tri thức là chính, thứ hai là sự thay đổi trên mọi lĩnh vực
mà trước hết là công nghệ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc
đẩy nhanh hơn sự ra đời nền kinh tế tri thức. Các công nghệ cao, trước hết là công
nghệ thông tin là nguồn gốc của sự biến đổi lớn lao hiện nay. Trước kia, sự xuất
hiện máy hơi nước, động cơ điện đã mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp, thúc đẩy
sự ra đời nền kinh tế công nghiệp, với nội dung chủ yếu là thay thế lao động chân
tay bằng máy móc. Đó là cuộc cách mạng sâu sắc nhưng diễn ra chậm chạp trong
thời gian rất dài. Còn trong nền kinh tế tri thức, các ngành công nghệ cao như công
nghệ sinh học, nổi bật là công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh đã cho
phép con người tạo được các loại thuốc chữa trị các bệnh hiểm nghèo, kéo dài tuổi
thọ, tạo các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao theo ý muốn;
công nghệ vật liệu, nổi bật là vật liệu composit có thể tạo ra những vật liệu theo ý
muốn của con người, có sức chịu lực, chịu nhiệt, chịu ăn mòn, lão hoá, phù hợp với
mọi điều kiện khác nhau; công nghệ năng lượng với những năng lượng mới đảm
bảo an toàn cao và sạch nhất; và đặc biệt là công nghệ thông tin. Công nghệ thông
tin là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức.
Ngày nay, thông tin trở thành nhu cầu thiết yếu của con người, là tài nguyên quan
trọng nhất của nền kinh tế. Ở những nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, kinh tế thông
tin (những ngành kinh tế dựa trên việc xử lý thông tin) chiếm khoảng 45% - 55%
GDP. Công nghệ thông tin ngày càng trở thành nhân tố hàng đầu trong việc làm 12 13
nghiệp vẫn còn nông nghiệp nhưng chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu kinh tế. Trong nền
kinh tế tri thức đa số là các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào thành tựu mới
nhất của khoa học và công nghệ. Đó có thể là những ngành mới như công nghệ
thông tin (công nghệ phần cứng và công nghệ phần mềm), công nghệ năng lượng
mới và năng lượng tái sinh, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và cũng
có thể là những ngành truyền thống (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) được cải
tạo bằng khoa học, công nghệ cao. Ví dụ, sản xuất ôtô là một ngành công nghiệp
truyền thống nhưng nếu áp dụng khoa học công nghệ cao sản xuất ra loại ôtô thông
minh không cần người lái có độ an toàn cao thì ngành sản xuất ôtô có thể coi là
ngành kinh tế tri thức. Tương tự, những trang trại sản xuất nông nghiệp dựa vào
công nghệ sinh học cho năng suất cao, tự động điều khiển và hầu như không cần
người lao động, cũng có thể coi là thành phần của kinh tế tri thức
Bảng 1.1: So sánh khái quát các thời đại kinh tế

Kinh tế nông
nghiệp
Kinh tế công nghiệp
Kinh tế tri thức
1. Đầu vào quan trọng
của sản xuất
Lao động, đất đai,
vốn
Công nghệ, máy
móc, thiết bị
Tri thức, công

Khoa học công
nghệ cao
6. Cơ cấu xã hội
Nông dân
Công nhân
Công nhân tri thức 14
7. Tỷ lệ đóng góp
của KHCN cho tăng
trưởng kinh tế
< 10%
> 30%
> 80%
8. Đầu tư cho giáo
dục
< 1% GDP
2% – 4% GDP
> 6%GDP
9. Tầm quan trọng
của giáo dục
Nhỏ
Lớn
Rất lớn
10. Vai trò của
truyền thông

Nguồn: “ Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt nam”. Kỷ yếu
hội thảo khoa học, 21 – 22/6/2000, trang 2
1.1.3 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức
1.1.3.1 Tri thức trở thành yếu tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.
Đặc trưng này bắt nguồn từ chính bản chất của kinh tế tri thức, nói lên nó là
một giai đoạn mới, phân biệt với các giai đoạn lịch sử trước đó trong các cách thức
sản xuất và sáng tạo của cải của xã hội loài người. Giờ đây khi tri thức đóng vai trò
số một dẫn dắt sự phát triển, thì lợi thế hay năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế,
của các doanh nghiệp không còn nằm ở khả năng sở hữu các nguồn lao động rẻ, dồi
dào xong lại thiếu kĩ năng hoặc tri thức sáng tạo cao. sự giàu có về nguồn tài 15
nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, khoáng sản, biển…cũng trở lên ít quan trọng
hơn. Những quốc gia sở hữu nguồn giàu mỏ khổng lồ như các nước ở Trung Đông
vẫn không phải là quốc gia phát triển. Nhưng những mảnh đất nghèo tài nguyên như
Nhật Bản, Singapore…lại là nơi tạo ra những chuyện thần kì về phát triển kinh tế.
Sự khác biệt này cho thấy, lợi thế phát triển lâu dài nằm ở nguồn nhân lực có kĩ
năng cao hơn là nguồn lao động giản đơn, giá rẻ hay khối lượng vốn, trữ lượng tài
nguyên thiên nhiên dồi dào. Đương nhiên là nguồn nhân lực được đào tạo tốt, thích
ứng với mục tiêu đuổi bắt và hấp thụ công nghệ là chủ yếu sẽ khác với nguồn nhân
lực có kĩ năng cao, có khả năng sáng tạo tri thức mới là chủ yếu. Cũng như sự phát
triển nhanh của những nước đi sau khác với sự phát triển của các quốc gia dẫn đầu
trong nền kinh tế thế giới. Càng tiến dần sang nền kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo
tri thức của đội ngũ nhân lực càng trở thành nhân tố quyết định trong phát triển.
Yếu tố trí tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong tư liệu sản xuất.
Trong nền kinh tế tri thức, mối tương quan giữa các yếu tố cơ bản cấu thành

theo hướng tăng nhanh giá trị gia tăng.
Sự thay đổi về đối tượng sở hữu, về tổ chức việc quản lý quá trình sản xuất có
tác động rất lớn tới sự chạy đổi cơ cấu của nền kinh tế tri thức. Theo lý luận về kết
cấu các ngành (khu vực) sản xuất của kinh tế truyền thống, cơ cấu nền kinh tế bao
gồm: ngành sản xuất thứ nhất là nông nghiệp, ngành sản xuất thứ hai là công nghiệp
và ngành sản xuất thứ ba là dịch vụ. Dịch vụ đang nói ở đây là một khái niệm rộng,
bao gồm dịch vụ đối với các ngành sản xuất vật chất và bao gồm các loại dịch vụ
đối với đời sống và tiêu dùng của nhân dân (như thương nghiệp, tiền tệ, vận tải,
thông tin, thậm chí cả những hoạt động của khoa học, giáo dục, những hoạt động
của Chính phủ, toà án đều được gọi là ngành sản xuất thứ ba). Sự phân loại ngành
sản xuất thứ nhất, thứ hai, thứ ba và sự ra đời, sự tiến triển của các ngành đó cũng
phản ánh một xu thế lịch sử, tức cái sau hơn cái trước - cả về chất lượng và tốc độ.
Riêng về tốc độ, chúng ta thấy rằng ngành sản xuất thứ hai có nhịp độ phát triển
nhanh hơn so với ngành sản xuất thứ nhất, ngành sản xuất thứ ba có nhịp độ tăng
trưởng nhanh hơn ngành thứ hai. Tình hình thực tế hiện nay của các nước phát triển
là tỷ trọng ngành sản xuất thứ ba có thể chiếm tới 66,7% GDP. Dư luận chung hiện
nay cho thấy, nhịp độ tăng trưởng của giáo dục và khoa học trong ngành sản xuất
thứ ba là hết sức nhanh, vị trí ngày càng quan trọng. Cho nên có thể tách giáo đục,
khoa học từ ngành sản xuất thứ ba ra thành ngành sản xuất thứ tư. 17
Theo thống kê của Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế ( OECD), tỷ lệ đóng
góp của ngành dịch vụ Hoa Kỳ vào GNP từ 50% tăng lên 80%, trong đó 63% dịch
vụ là thuộc dịch vụ kỹ thuật cao. Cũng theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, 64%
của cải thế giới hiện nay là do “vốn nhân lực" cấu thành. Trên 80% công việc trong
các ngành của Hoa Kỳ về bản chất là công việc "lao động trí óc". Trong nền kinh tế

thức cũng bị rút ngắn lại nhanh chóng. Một tri thức hôm nay có giá trị hàng tỷ USD
ngày mai có thể là vô giá trị. Trong nền kinh tế nông nghiệp, với khối lượng tri thức
nghèo nàn và chỉ có vị trí thứ yếu trong việc tạo ra của cải, với phương thức sản
xuất tự cung, tự cấp, khép kín trong các gia đình và trong các cộng đồng nhỏ, việc
tạo ra tri thức sản xuất mới vừa khó khăn, vừa không phải là áp lực của chính quá
trình sản xuất. Dân số ít và gia tăng một cách chậm chạp (vừa do nghèo đói, vừa do
bệnh tật mà con người khó có khả năng đối phó vì tri thức ít ỏi), nguồn đất đai
(nguồn lực quan trọng nhất sẵn có dồi dào cho phép người ta có thể mở rộng không
gian sinh tồn, mỗi khi dân số tăng bằng cách mở rộng diện tích đất đai trồng trọt
hay chăn thả gia súc (qua khai hoang hay xâm chiếm) mà không cần phải thay đổi
cách thức sản xuất. Kinh tế nông nghiệp là nền kinh tế ngưng trệ, biến đổi cực kì
chậm chạp. Loài người đã có hàng nghìn năm “chung sống” với loại hình hay thời
đại kinh tế này. Tốc độ của những biến đổi kinh tế chỉ có thể được đẩy nhanh lên
một cách rõ rệt khi kinh tế công nghiệp ra đời và phát triển. Hệ thống sản xuất dựa
trên máy móc, được tập trung trong các công xưởng có nhịp độ hoạt động, biến đổi
cao hơn, nhanh hơn so với hệ thống sản xuất nông nghiệp vốn trực tiếp dựa hẳn vào
các tài nguyên thiên nhiên như đất đai hay những cây trồng, vật nuôi được chăm sóc
theo những quy trình sinh trưởng tự nhiên. Trong nền kinh tế công nghiệp, sự
chuyên môn hoá sản xuất nói chung đã bắt đầu cho phép một bộ phận xã hội chuyên
hoạt động trong lĩnh vực tạo ra tri thức. Tri thức mới tạo ra nhanh hơn. Mặt khác
nền kinh tế công nghiệp là nền kinh tế dựa trên sự sản xuất hàng loạt, sản xuất cho
nhu cầu của người khác chứ không phải cho nhu cầu trực tiếp của người sản xuất.
Sự tách rời giữa người sản xuất với người tiêu dung khiến cho thị trường trở thành
cần thiết để kết nối họ với nhau. Bản chất xã hội của kinh tế công nghiệp là kinh tế
thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, nguyên lí cạnh tranh như là phương thức
để xác định kẻ chiến thắng, tạo ra áp lực buộc những người sản xuất phải tìm mọi
cách để cải tiến quy trình sản xuất và quản lí nhằm đưa ra thị trường những sản
phẩm ngày một hoàn thiện hơn, có chất lượng cao hơn, với giá thành rẻ hơn… Cạnh
tranh khiến cho việc đổi mới, áp dụng các tri thức mới trở thành nhu cầu bên trong


các cộng đồng kinh tế nhỏ bé. Các quan hệ kinh tế được mô phỏng một cách tự
nhiên theo kiểu các quan hệ gia đình, quan hệ đẳng cấp, quan hệ gia trưởng. Đó là
kiểu quan hệ theo chiều dọc trên - dưới, chi phối - lệ thuộc, ban tặng - cống nộp,
cho – xin. 20
Trong nền kinh tế công nghiệp, cấu trúc quan hệ xã hội quan trọng nhất là
cấu trúc theo kiểu thị trường. Giao dịch thị trường là giao dịch mua bán hàng hoá tự
nguyện giữa những người bình đẳng và độc lập với nhau (độc lập về tư cách cá
nhân như là những công dân). Đó là mối quan hệ theo chiều ngang, dựa trên sự
thuận mua vừa bán, cùng có lợi. Các quan hệ theo chiều dọc vẫn có thể tồn tại
nhưng đã bị đẩy xuống hành thứ yếu, chịu phụ thuộc, do đó cũng biến đổi một cách
thích hợp so với các quan hệ theo chiều ngang. (Trong gia đình của các xã hội công
nghiệp, quan hệ trên - dưới giữa bố, mẹ với con cái cũng khác hẳn mối quan hệ trên
dưới của một gia đình gia trưởng) [7, tr. 26]
Dường như cấu trúc mạng cho thấy một hình dung, một dự đoán về kiểu cấu
trúc của các quan hệ kinh tế chính yếu trong nền kinh tế này. Cơ sở của dự đoán này
là trong nền kinh tế tri thức, hoạt động sáng tạo, ứng dụng, chia sẻ, trao đổi, lan
truyền tri thức đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra của cải, song các hoạt
động nàylại dựa trên nền tảng vật chất của công nghệ thông tin - viễn thông và
mạng Internet. Cấu trúc mạng cho thấy mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp chỉ có được
chỗ đứng của mình trong hệ thống sản xuất chung khi chúng tham gia vào mạng
lưới phức tạp, đa cấp, kết nối nhiều quá trình trong nền kinh tế quốc gia và toàn cầu.
Trong mạng lưới đó, mỗi người đều có khả năng trở thành một đầu nút để ảnh
hưởng đồng thời đến những người khác trong mạng, đồng thời cũng lệ thuộc vào tất
cả những người khác đó. Sự phụ thuộc lẫn nhau của mỗi cá nhân, mối doanh

thành những tập đoàn tư bản lớn chi phối thị trường khu vực và thế giới. Mặt khác, các
công ty lớn trong kỷ nguyên thông tin hoạt động theo hình thức mạng lưới thường chia
ra nhiều công ty con được quyền tự chủ kinh doanh có khả năng, linh hoạt thích nghi
với sự đổi mới công nghệ và môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước.
Rõ ràng, nền kinh tế tri thức, về bản chất là một nền kinh tế toàn cầu. Các
nền kinh tế quốc gia có thể vẫn tồn tại, song không gian phát triển thực sự của
chúng nằm trong nền kinh tế toàn cầu. Chỉ có tìm được chỗ đứng của mình trong
nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế của mỗi quốc gia mới không bị bỏ rơi hay bị văng
ra khỏi tiến trình phát triển ngày càng nhanh của nhân loại.
1.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội có tính chất tiền đề cho việc hình thành, phát
triển kinh tế tri thức.
Trước hết phải khẳng định ngay rằng, kinh tế tri thức không phải là một bước nhảy
đột biến hay một sáng tạo của một lý thuyết nào đó, mà là hình thái phát triển cao
hơn – có tính tiến hoá - của nền kinh tế thị trường phát triển cao. Chính sự phát triển 22
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá đến mức cao độ ở các nước công nghiệp phát triển
đã tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức ở các nước đó và các nước đang
phát triển muốn tiến đến nền kinh tế tri thức thì cũng không có cách nào khác là
phải chuẩn bị và cố gắng tạo cho mình có được những tiền đề đó.
Kinh nghiệm thực tế từ các nước phát triển và đang phát triển tổng kết cho thấy có
những tiền đề cơ bản mà bất cứ một quốc gia nào, dù nước đó đã và đang tiến thẳng
vào nền kinh tế tri thức hay đang tìm cách tiếp cận nền kinh tế tri thức cũng cần
phải có.
1.2.1 Các điều kiện chung.
1.2.1.1 Môi trường pháp lý khuyến khích sự sáng tạo, truyền bá tri thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status