0
Đại học quốc gia Hà Nội
trung tâm đào tạo, bồi d-ỡng giảng viên lý luận chính trị
***
nguyễn thị h-ơng hoạt động của các công ty xuyên quốc
gia tại Hà Nội
luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. nguyễn bích Hà nội - 2008
động của các TNCs tại Hà Nội
67
3.2. Một số giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của các
TNCs tại Thủ đô Hà Nội
71
Kết luận
83
Danh mục tài liệu tham khảo
85
Phụ lục
88
4
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Thời đại ngày nay xét về ph-ơng kinh tế là thời đại phát triển mạnh mẽ
của khoa học công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hoá kinh tế. Sự vận động
của hàng hoá, dịch vụ của các luồng vốn đầu t- đã v-ợt khỏi biên giới các
quốc gia đ-ợc thực hiện trên phạm vi toàn cầu. Sự hoạt động của các công ty
xuyên quốc gia (Transnational Coporation - TNCs) đang và sẽ là lực l-ợng
chủ đạo thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, chi phối mọi lĩnh vực đời sống kinh tế
xã hội trên phạm vi quốc tế. Với tiềm lực kinh tế to lớn, hệ thống chi nhánh trải
rộng khắp thế giới, các công ty này đã gắn kết các bộ phận cấu thành của nền
kinh tế thế giới, thực hiện quốc tế hoá sản xuất và l-u thông một cách sâu rộng.
mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thực tế đi lên, Hà
Nội còn đang phải đối mặt với nhiều cam go thử thách. Từ đó đã đặt ra cho Đảng
bộ và nhân dân Thủ đô nhiều vấn đề cần giải quyết: kinh tế có tăng nh-ng còn
ch-a ổn định; hiệu quả sản suất kinh doanh và sức cạnh tranh yếu; Hệ thống hạ
tầng kỹ thuật đô thị cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Điều
đó đặt ra cho Hà Nội phải làm thế nào để phát huy tối đa và có hiệu quả nguồn
nội lực tr-ớc xu thế mới, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ nhằm
thúc đẩy kinh tế tăng tr-ởng cao liên tục và bền vững. Hoạt động có hiệu quả của
các TNCs sẽ góp phần khắc phục khó khăn và phát triển kinh tế Thủ đô bền
vững. Vì vậy cần tìm ph-ơng h-ớng và giải pháp thích hợp để tăng c-ờng hoạt
động của các TNCs, từ đó sẽ có điều kiện để xây dựng Thủ đô thành một trung
tâm kinh tế trọng điểm của cả n-ớc, giải quyết đ-ợc một số vấn đề kinh tế vĩ mô
cho xã hội. Với ý nghĩa nh- vậy tác giả chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ
của mình là: Hoạt động của các công ty xuyên quốc gia tại Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Tiếp cận vấn đề này đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nh-:
- PGS.TS Đỗ Đức Bình: Đầu t- trực tiếp của các công ty xuyên quốc
gia, (TNCs) tại Việt Nam. Nxb, chính trị quốc gia năm 2005.
- Hoàng Thị Bích Loan: Về hoạt động của các công ty xuyên quốc gia,
tạp chí lý luận chính trị, số 8/2004. 6
- Phùng Xuân Nhạ: Giáo trình đầu t- quốc tế, Nxb, Đại học quốc gia
Hà Nội, 2001.
- Nguyễn Thiết Sơn: Công ty xuyên quốc gia và đầu t- trực tiếp n-ớc
ngoài. Tạp chí Châu Mỹ ngày nay- Số 6 /1999.
- Tạp chí đầu t- và phát triển số 102 tháng 7/2003 .
- Tạp chí đầu t- và phát triển số 123 tháng 8/2003.
- Ph-ơng pháp so sánh, phân tích.
6. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn.
* Đóng góp của luận văn:
- Luận giải về thực trạng hoạt động của các TNCs tại Hà Nội và đánh
giá hiệu quả của nó đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của Thủ đô.
- Đề xuất có căn cứ lý luận và thực tiễn về ph-ơng h-ớng và các giải
pháp cơ bản để tiếp tục tăng c-ờng hoạt động của các TNCs tại Hà Nội.
* ý nghĩa của việc nghiên cứu:
Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu tham khảo
trong việc đ-a ra các biện pháp thu hút đầu t- n-ớc ngoài, phát triển kinh tế và
giải quyết một số vấn đề kinh tế vĩ mô cho Hà Nội nói riêng và nền kinh tế nói
chung. Đồng thời cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu giảng dạy trong các tr-ờng đại học và cao đẳng những phần có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn đ-ợc cấu trúc thành 3 ch-ơng.
- Ch-ơng 1: Cơ sở lý luận của việc phân tích đầu t- của công ty xuyên
quốc gia tại Hà Nội.
- Ch-ơng 2: Thực trạng hoạt động của các công ty xuyên quốc gia trong
thời gian qua tại Hà Nội.
- Ch-ơng 3: Ph-ơng h-ớng nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hoạt động của TNCs tại Hà Nội. 8
Ch-ơng 1
Cơ sở lý luận của việc phân tích đầu t- của các
công ty xuyên quốc gia tại hà nội.
1.1. Những nét khái quát về công ty xuyên quốc gia (TNCs).
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia là công ty t- bản độc
quyền có t- bản thuộc về chủ sở hữu t- bản của một n-ớc nhất định nào đó.
Khía cạnh đ-ợc quan tâm là tính chất sở hữu và tính quốc tịch của t- bản, vốn
đầu t- kinh doanh của ai? ở đâu? Chủ t- bản của một n-ớc cụ thể nào đó có
công ty mẹ đóng tại n-ớc đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài n-ớc
bằng cách lập các công ty con ở n-ớc ngoài là hình thức điển hình của loại
hình này. Ví dụ, công ty Sony của Nhật, công ty Ford của Mỹ trong quá trình
sản xuất và kinh doanh đã dần dần trở thành những công ty khổng lồ của thế
giới, chúng đã thiết lập các chi nhánh ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có cả
Việt Nam.
Dựa trên tiêu thức sở hữu để xác định loại hình công ty, ng-ời ta còn
đ-a ra khái niệm công ty đa quốc gia (Multinational Corporation). Là công ty
t- bản đ-ợc quyền thiết lập các chi nhánh ở n-ớc ngoài để tiến hành các hoạt
động kinh doanh quốc tế, nh-ng khác với công ty xuyên quốc gia ở chỗ, t-
bản thuộc sở hữu công ty mẹ của hai hay nhiều n-ớc. Ví dụ, công ty mẹ
Unilever có vốn sở hữu của các t- bản Anh và Hà Lan (tài sản t-ơng ứng là
124,4 tỷ USD và 31 tỷ USD), hay công ty mẹ Royal Dutch Shell Group
thuộc sở hữu của Anh và Hà Lan, hoặc công ty mẹ Fortis thuộc sở hữu của
Bỉ và H Lan. Vì sở hữu của công ty thuộc t- bản của hai n-ớc, do đó, chúng
còn đ-ợc gọi là công ty đa quốc gia. Nh- vậy, quan niệm này có sự phân định
rõ ràng hai loại hình công ty đang hoạt động trên phạm vi quốc tế. Đó là công
ty xuyên quốc gia và đa quốc gia. Sự phân định này chủ yếu căn cứ vào vốn
của công ty, thuộc sở hữu của chủ t- bản một n-ớc hay nhiều n-ớc, từ đó liên
quan đến tập đoàn lãnh đạo, quản lý công ty. Nếu là công ty xuyên quốc gia
thì tập đoàn lãnh đạo, quản lý thuộc về các nhà t- bản một n-ớc. Nếu là công
ty đa quốc gia, thì hội đồng quản trị lãnh đạo của công ty bao gồm các nhà t-
bản có cổ phần thuộc nhiều n-ớc khác nhau. Sự phân định trên chỉ căn cứ vào 10
11
gồm nhiều công ty hay thực thể kinh tế. Những thực thể kinh tế này có thể
thuộc quyền sở hữu cá nhân, thuộc quyền sở hữu nhà n-ớc hay sở hữu hỗn
hợp, đ-ợc thành lập ở nhiều n-ớc khác nhau và có mối liên hệ chặt chẽ.
Chúng ảnh h-ỏng đến hoạt động của nhau và đặc biệt cùng có chung mục
đích và nguồn vốn kinh doanh. Trong một công ty đa quốc gia, mức độ t- bản
của các thực thể rất khác nhau, tuỳ thuộc vào bản chất mối liên kết và lĩnh
vực kinh doanh giữa chúng.[14, tr.7]
Nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Liên Hợp Quốc trong báo cáo Tác
động của các công ty đa quốc gia đến quá trình phát triển và quan hệ quốc tế
đã viết: Công ty đa quốc gia là những công ty nắm quyền sở hữu hay kiểm
soát hoạt động sản xuất và hệ thống bán hàng tại nhiều n-ớc khác ngoài n-ớc
của mình. Đây không chỉ là công ty cổ phần, công ty t- nhân mà chúng có thể
là công ty d-ới hình thức hợp tác xã hay thực thể thuộc quyền sở hữu nhà
nớc. [14, tr.7]
Năm 1998, trong báo cáo đầu t- quốc tế thế giới, các chuyên gia của
Liên Hợp Quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia cụ thể hơn nh-
sau: Các công ty xuyên quốc gia bao gồm các công ty mẹ và các công ty con
của chúng ở các n-ớc trên thế giới. Công ty mẹ là công ty kiểm soát tài sản
của các thực thể kinh tế khác ở n-ớc ngoài th-ờng đ-ợc thực hiện thông qua
góp vốn t- bản cổ phần của chúng. Mức góp vốn 10% th-ờng đ-ợc xem nh- là
ng-ỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác. Các chi nhánh ở
n-ớc ngoài (còn gọi là công ty con) là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
vô hạn trong đó chủ đầu t- là những ng-ời sống ngoài có mức góp vốn cho
phép có đ-ợc lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó (mức góp vốn cổ
phần 10% đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc t-ơng đ-ơng với công ty
trách nhiệm vô hạn). [14, tr. 8]
Có thể nói có khá nhiều khái niệm, định nghĩa về TNCs để chỉ các công
90%).
Tr-ớc chiến tranh thế giới thứ nhất, đầu t- n-ớc ngoài chủ yếu là đầu t-
gián tiếp, d-ới hình thức cho vay, mà n-ớc Anh là chủ nợ lớn nhất thế giới.
Nh-ng vào những năm 20 của thế kỷ XX, Mỹ đã nổi lên thay thế vai trò của
n-ớc Anh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu t- trực tiếp trở thành hình thức 13
chiếm -u thế. Luồng t- bản đầu t- trực tiếp thay đổi theo khu vực địa lý. N-ớc
chính quốc của TNCs chiếm 97% giá trị với t- cách là chủ đầu t-, và chiếm
80% giá trị với t- cách là ng-ời tiếp nhận đầu t
Đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài tập trung nh- vậy vì hầu hết các n-ớc đang
phát triển là những n-ớc nghèo và lạc hậu. Các n-ớc này không có khả năng
xuất khẩu mà chỉ là n-ớc nhập khẩu t- bản. Tuy nhiên, hiện t-ợng đầu t- trực
tiếp n-ớc ngoài tập trung vào khu vực các n-ớc t- bản phát triển không có
nghĩa là động lực lợi nhuận ngày nay đã mất ý nghĩa, mà chính là nhiều n-ớc
trong số các n-ớc đang phát triển không đáp ứng đ-ợc yêu cầu sinh lợi nhuận
của t- bản trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn
ra mạnh mẽ. Ng-ời ta cũng nhận thấy rằng. Đầu t- trực tiếp n-ớc ngoài không
chỉ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của n-ớc tiếp nhận đầu t-, mà còn phụ
thuộc vào tính chất của các ngành kinh tế. Thực tế chỉ ra rằng, động thái đầu
t- trực tiếp trong các ngành rất khác nhau, trong đó ngành dịch vụ bao gồm cả
dịch vụ th-ơng mại, tài chính, ngân hàng, kỹ thuật tăng lên mạnh mẽ. Đây là
ngành có tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân cũng nh- cơ cấu lao
động ngày càng tăng. Đồng thời, hầu hết các TNCs đều chuyển một phần
đáng kể hoạt động kinh doanh của mình vào lĩnh vực này.
1.1.2. Nguồn gốc và quá trình phát triển.
Tích tụ và tập trung sản xuất tất yếu đ-a đến hình thành TNCs.
Xét cả về lôgíc và lịch sử sự ra đời của TNCs trên thế giới gắn liền với
sự ra đời và phát triển sản xuất lớn TBCN. Về thực chất, chúng là sự phát triển
chủ nghĩa t- bản trong giai đoạn phát triển mới, trong đó quan hệ sản xuất
TBCN vận động d-ới hình thức mới, trong cái vỏ vật chất của nó là tổ chức
độc quyền. Vì vậy, nếu muốn định nghĩa chủ nghĩa đế quốc một cách vắn tắt -
tất nhiên, ch-a thật đầy đủ nh-ng bao gồm cái chủ yếu nhất thì có thể nói:
chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa t bản [36, tr. 489]
Một đặc tr-ng nổi bật trong giai đoạn độc quyền là sự tồn tại đan xen
nhau giữa độc quyền quốc gia và độc quyền quốc tế. Về mặt lịch sử, các tổ
chức độc quyền quốc tế đã tồn tại ngay trong thời kỳ t- bản tự do cạnh tranh
thống trị, tức là tr-ớc chủ nghĩa đế quốc, có thể nói cách đây 200 năm và xuất
phát từ các n-ớc châu âu trong đó Anh, Hà Lan, Pháp là chủ yếu. Các tổ chức
độc quyền này ra đời là do sự phát triển của quan hệ buôn bán thế giới. Các 15
nớc t bản phát triển nh Anh, Hà Lan, Pháp đã có những công ty hàng
hải và buôn bán quốc tế. Ví dụ nh- công ty Đông ấn có mặt ở một số n-ớc
châu á nh- Inđônêxia, Malayxia, Philippin, ấn Độ vào những năm đầu của
thế kỷ XIX. Việc mở rộng quan hệ buôn bán, chiếm lĩnh thị tr-ờng quốc tế là
yêu cầu tất yếu khách quan của chính ph-ơng thức sản xuất t- bản chủ nghĩa.
C. Mác đã khẳng định: sự phát triển của ph-ơng thức sản xuất t- bản chủ
nghĩa do tính tất yếu nội tại của ph-ơng thức ấy là phải có một thị tr-ờng
ngày một rộng hơn[8, tr. 360]. Đặc biệt trong thời đại sản xuất bằng máy
móc hiện đại chiếm -u thế thì xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế, tr-ớc hết là
quốc tế hoá việc trao đổi hàng hoá trở thành một xu thế không thể c-ỡng nổi.
Cùng với phát triển quan hệ buôn bán quốc tế làm cho cạnh tranh t- bản
liên minh với nhau sản xuất và phân phối hàng hoá trên thị tr-ờng thế giới,
hình thành nên các công ty độc quyền quốc tế. Ph.Ănghen đã từng nhận xét:
Trong các n-ớc, những nhà đại công nghiệp trong một ngành nhất định nào đó
đã hợp lại để thành lập những Cácten nhằm mục đích điều tiết sản xuất. Một
quanh chúng về hình thức vẫn giữ tính độc lập về mặt pháp lý nh-ng đã trở
thành một khâu kinh doanh của công ty độc quyền. Các đơn vị nhỏ này tr-ớc
hết phải chịu hậu quả của những biến động kinh tế và những rủi ro của việc
phân công chuyên môn hoá.
Sau nữa, sự tồn tại của chúng cho phép giới độc quyền nhà n-ớc huy
động đ-ợc toàn bộ lực l-ợng lao động và mọi tiềm năng của xã hội vào quá
trình sản xuất, tạo ra sự hỗ trợ trong việc cải tổ cơ cấu sản xuất, kỹ thuật trong
n-ớc. Cuối cùng, sự khác biệt về chế độ tiền l-ơng và bảo hiểm của chúng tạo
điều kiện cho các công ty chủ đạo kiếm thêm giá trị thặng d Cùng với quá
trình tích tụ và hình thức mới xuất khẩu t- bản, có thể cho rằng: tập trung sản
xuất có b-ớc phát triển mới, thì xuất khẩu t- bản cũng đ-ợc đẩy mạnh và trở
thành cơ sở kinh tế quan trọng của sự mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế của
TNCs đ-ợc hình thành nên từ các tổ chức độc quyền sau chiến tranh thế giới
thứ hai.
Một điểm chú ý trong tiến trình phát triển của TNCs
là sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế Mỹ từ nửa cuối thế kỷ XIX và ngày càng trở thành
một trung tâm sức mạnh kinh tế thế giới. 17
Các ngành công nghiệp thực phẩm, thuốc lá, luyện kim, dầu mỏ, chế
tạo máy và thiết bị vận tải của Mỹ khi đó đ-ợc sử dụng kỹ thuật sản xuất
hàng loạt. Chúng bắt đầu h-ớng vào kết hợp phân phối sản phẩm và tổ chức
tiêu thụ. Để đảm bảo chắc chắn cho sự cung ứng nguyên vật liệu. Sau khi hoàn
thành quá trình này, chế độ xí nghiệp thực hiện sự chuyển biến từ chế độ xí
nghiệp truyền thống sang chế độ xí nghiệp hiện đại.
Các xí nghiệp hiện đại đ-ợc hình thành bởi sự kết hợp giữa quá trình
sản xuất quy mô quốc tế vào trong một công ty đơn nhất, nghĩa là trong xí
Chế độ quản lý theo cấp bậc đã phân định rõ việc hoạch định chính sách
và quản lý trong nội bộ xí nghiệp, làm cho xí nghiệp có thể quản lý, điều tiết
nhịp nhàng quá trình phân công, trao đổi theo h-ớng ngày càng phức tạp, làm
cho quy mô, năng lực và hiệu suất của nội bộ xí nghiệp cao hơn. Do đó, chế
độ quản lý theo cấp bậc đã làm hoàn thiện chế độ xí nghiệp hiện đại và cuối
cùng bàn tay hữu hình trong bớc thay thế bởi bàn tay vô hình của thị
tr-ờng.
Cùng sự phát triển của các xí nghiệp công th-ơng hiện đại, chế độ xí
nghiệp của Mỹ cũng đã đ-ợc mở rộng sang Tây Âu và Nhật Bản. cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, trong các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản cũng xuất
hiện cao trào hợp nhất, nh-ng do quy mô và cơ cấu thị tr-ờng, cũng nh- bối
cảnh chính trị, văn hoá và chế độ xã hội không giống nhau, nên xí nghiệp
công th-ơng tr-ởng thành chậm chạp làm cho chế độ xí nghiệp ch-a diễn ra
sự thay đổi về bản chất. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, d-ới tác động của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là sự thách thức của xí nghiệp
Mỹ buộc các xí nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản phải có những cải biến mạnh
mẽ để phát triển.
Về quy mô, mức độ phức tạp trong quản lý và phạm vi phân công trong
nội bộ xí nghiệp công th-ơng hiện đại không có bất cứ xí nghiệp nào tr-ớc đó
có thể so sánh đ-ợc. Hiện nay, mức tiêu thụ hàng năm của một xí nghiệp công
th-ơng đã v-ợt tổng giá trị thu nhập quốc dân của một số n-ớc vừa và nhỏ.
Quy mô và năng lực quản lý nội bộ những xí nghiệp này khiến nhiều tổ chức
phi chính phủ của một số n-ớc đang phát triển khó theo kịp. Phạm vi phân
công lao động của nó ngày càng mở rộng rất nhiều xí nghiệp đã hình thành
hệ thống phân công nội bộ xí nghiệp theo liên kết dọc bao trùm cả sản xuất 19
nguyên vật liệu, gia công bộ phận rời, sản xuất sản phẩm và tiêu thụ. Ngoài ra,
nó còn mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực sản xuất sản phẩm có liên
20
khu vực kinh tế mới, và điều này dẫn tới sự tr-ởng thành nhanh chóng của
TNCs ở các n-ớc phát triển. Cùng với sự tr-ởng thành của TNCs, sự cạnh
tranh trên phạm vi toàn cầu của chúng khốc liệt hơn. TNCs của các n-ớc bắt
đầu điều chỉnh lại họat động kinh doanh, xây dựng hệ thống phân công quốc
tế, kết hợp liên kết theo chiều ngang và dọc trong nội bộ công ty. Cơ cấu tổ
chức toàn cầu của TNCs t-ơng ứng cũng ra đời. TNCs trở thành hình thức
hoàn thiện điển hình của xí nghiệp thích ứng với sự phân công và trao đổi
quốc tế hiện đại không có bất cứ loại xí nghiệp nào tr-ớc đó có thể so sánh
đ-ợc.
Từ sự phân tích trên có thể nêu lên một số nhận xét về nguồn gốc và
quá trình phát triển của TNCs, đi từ tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành
các công ty cổ phần, các công ty này kinh doanh lớn trong ngành công
th-ơng, sau này cả dịch vụ đa ngành nh- sau:
- một là, quá trình tích tụ và tập trung sản xuất diễn ra song song với
quá trình tích tụ quyền lực kinh tế. tích tụ và tập trung sản xuất tạo ra những
công ty mẹ đứng đầu và các công ty con, chúng phụ thuộc kỹ thuật và tài
chính vào công ty mẹ. Bên cạnh đó còn có rất nhiều công ty nhỏ và vừa hoạt
động độc lập hoặc phụ thuộc các công ty lớn. Thực tế ở các n-ớc t- bản chủ
nghĩa phát triển nh- Mỹ, Nhật Bản, Cộng hoà liên bang Đức, Pháp, Canađa,
số xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 70 - 80% tổng số các xí nghiệp. Sự thâu tóm
các xí nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí kể cả những hộ gia đình nằm trong guồng
máy sản xuất, thực hiện sự kiểm soát tài chính, kỹ thuật và nằm trong hệ
thống phân công lao động theo kiểu công tr-ờng thủ công, đã tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho t- bản sinh lợi. đồng thời về mặt tổ chức sản xuất, đây
cũng là hình thức tỏ ra tính hiệu quả cao, vì giảm đ-ợc chi phí sản xuất, tận
dụng đ-ợc mọi khả năng, nguyên liệu, phát huy tính năng động sáng tạo Do
đó, làm tăng quy mô và tỷ suất lợi nhuận.
- Hai là, quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ
chức độc quyền. độc quyền thời hiện đại mang nhiều dấu ấn của thời đại cách
khỏi biên giới quốc gia, thực hiện việc đầu t- vào các n-ớc d-ới nhiều hình
thức, thoả mãn đ-ợc mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận cao. Đúng nh- V.I. Lênin đã
nhận xét: Tổ chức độc quyền một khi đã hình thành và thao túng hàng tỷ, thì 22
tuyệt đối nhất thiết là nó phải thâm nhập hết thẩy các lĩnh vực trong đời sống
xã hội bất kể chế độ chính trị[36, tr. 451]
1.1.3. tổ chức hoạt động và mô hình quản lý.
Sự hoạt động và phát triển của TNCs đã làm cho mô hình quản lý chúng
ngày càng hoàn thiện và thích hợp với yêu cầu của hệ thống kinh tế thị tr-ờng
đang đ-ợc quốc tế hoá. Sự thích ứng đó luôn diễn ra ở hai mặt điều tiết hoạt
động của TNCs
,
đó là điều tiết độc quyền và cạnh tranh.
Trong những năm 1890 của thế kỷ XIX, hệ thống các tổ chức độc
quyền ở Mỹ và các n-ớc t- bản phát triển khác hoạt động mạnh. điều này có
nghĩa là tăng xu h-ớng độc quyền trên nhiều thị tr-ờng, Tơrơt khi đó đ-ợc
hiểu nh- là một hình thức tổ chức ngành, trong đó một công ty lớn có toàn bộ
quá trình sản xuất. Dựa vào sức mạnh của mình, các Tơrớt tiến hành trong
phạm vi ngành một chính sách thị tr-ờng có lợi cho họ và buộc những ng-ời
sản xuất ở các ngành khác phải tuân theo. Có thể thấy ngành luyện kim đen,
hoá dầu, công nghiệp thuốc lá của Mỹ thời kỳ đó làm minh chứng. Trong các
n-ớc khác, với tính chất là các tổ chức độc quyền có Cácten và Xanhđica là
các tổ chức ngành dựa trên những thoả thuận pháp lý giữa tất cả, hoặc phần
lớn các công ty của ngành trong quan hệ về mặt này hay mặt khác của chính
sách thị tr-ờng, tr-ớc hết là giá cả.
Cái gọi là tập đoàn thống trị tồn tại d-ới hình thức TNCs đ-ợc đ-a ra
thay thế vị trí các Tơrớt, Cácten, Xanhđica với tính chất là một tổ chức thống
trị không chỉ của một ngành. Sự t-ơng quan giữa lực l-ợng điều tiết của độc
đề án khoa học và ứng dụng công nghệ sản xuất, cùng hợp tác sản xuất - kinh
doanh và sử dụng chung một hệ thống tài chính, tín dụng. Consơn không có t-
cách pháp nhân độc lập của các công ty thành viên. Tuy vậy, mối quan hệ bền
vững của Consơn đ-ợc thiết lập trong sự liên hệ chặt chẽ giữa các cá nhân
lãnh đạo chủ chốt với nhau và với các thành viên dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế.
Để điều hành tập đoàn Consơn th-ờng xây dựng một Holding - Company
một ngân hàng độc quyền lớn, đó là một dạng công ty khống chế, không có xí
nghiệp sản xuất - kinh doanh trực tiếp, nh-ng lại nắm giữ cổ phần khống chế
nhờ tính thống nhất giữa quyền chiếm hữu và quyền chi phối trong quan hệ sở
hữu t- bản. Hình thức điều hành của Consơn đ-ợc tổ chức theo cơ cấu kiểm 24
soát trực tiếp từ trung tâm đến chi nhánh thông qua hội đồng quản trị gồm
những cổ đông có l-ợng cổ phiếu lớn. D-ới sự chỉ đạo của hội đồng quản trị,
hệ thống điều hành trực tiếp của Consơn là dạng ma trận vận hành theo
nguyên tắc tập trung.
- Côngơlômêrát.
Côngơlômêrát là kết qủa của quá trình liên kết công ty theo chiều dọc,
tức là công ty lớn thâm nhập vào xí nghiệp của các ngành sản xuất khác nhau
không có sự liên kết ràng buộc hoặc quy định về kỹ thuật sản xuất kinh doanh.
Mối liên hệ giữa công ty mẹ và chi nhánh chủ yếu là tài chính; chúng đ-ợc
điều hành thông qua cơ cấu quyền lực và liên kết với các ngân hàng đầu t-,
công ty bảo hiểmHoạt động bành tr-ớng và thâu tóm của Côngơlômêrát cơ
bản diễn ra trên thị tr-ờng chứng khoán. Công ty mẹ lựa chọn các công ty
đang hoạt động ở tất cả các ngành kinh tế có tỷ lệ lãi cao và nuốt dần bằng
cách mua cổ phần của chúng. Do đó, cơ cấu ngành kinh doanh trong tập đoàn
biến đổi nhanh chóng.
Để phù hợp với đặc tr-ng hoạt động kinh doanh, cơ cấu điều hành của
Côngơlômêrát rất gọn nhẹ, linh hoạt và phi tập trung hoá, chủ yếu là kiểm soát
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tham gia vào quá trình điều tiết nền kinh tế thế
giớicác lĩnh vực này đã đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự tăng tr-ởng và
phát triển kinh tế của từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu.
1.2.1. Thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hôị
Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ, rộng
khắp trên phạm vi toàn thế giới, mà lực l-ợng chủ yếu tác động tới kinh tế
toàn cầu đó là các TNC. Sự hoạt động của các TNC thúc đẩy sự chuyên môn
hoá ngày càng sâu, rộng, biểu hiện ở chỗ các công ty mẹ và các công ty chi
nhánh ở các n-ớc t- bản chủ nghĩa phát triển đảm nhiệm những khâu đòi hỏi
trình độ khoa học công nghệ cao, phức tạp của dây chuyền sản xuất. Còn các
chi nhánh cắm ở các n-ớc đang phát triển tuỳ theo điều kiện của mình có thể
đảm nhận những khâu ít phức tạp hơn, những khâu mà lao động giản đơn cũng
có thể thao tác đ-ợc. Chẳng hạn, việc sản xuất máy tính điện tử hiện nay của
các TNC Nhật Bản, Mỹ, Cộng hoà liên bang Đức thì việc sản xuất phần
mềm, phần cứng và việc lắp đặt các bộ phận đầu, cuối đợc thực hiện theo
sự phân công chuyên môn hoá theo cách thức công nghiệp hoá. 26
Việc thực hiện phân công chuyên môn hoá sản xuất trên phạm vi toàn
cầu là một b-ớc tiến có tính chất lịch sử, nó cho phép khai thác đ-ợc tiềm
năng và thế mạnh của từng n-ớc, từng khu vực, tạo đ-ợc các mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau và phản ánh quá trình tất yếu kinh tế - kỹ thuật. Thực hiện sự
phân công chuyên môn hoá t- bản chủ nghĩa trên phạm vi quốc tế thì các n-ớc
t- bản chủ nghĩa phát triển đã khai thác đ-ợc tiềm năng của các n-ớc đang
phát triển về tài nguyên và sức lao động để làm tăng hiệu suất của t- bản. Còn
về phía các n-ớc đang phát triển cũng có những lợi ích kinh tế nhất định khi
tham gia vào sự phân công lao động quốc tế nh-: giải quyết đ-ợc một phần
thất nghiệp, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ, cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội.