Chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. - Pdf 64

Giới thiệu đề tài
Chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia tại Việt Nam trong giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế
Lời mở đầu
1.Lý do chọn đề
Trải qua khoảng thời gian hai mươi mốt năm mở cửa nền kinh tế kêu gọi đầu tư
năm 1988, Việt Nam nhận được nguồn vốn FDI trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm
khác nhau. Nhưng đặc biệt trong khoảng ba năm từ năm 2006 đến thàng 8 năm
2008, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam không ngừng tăng lên và vượt xa so với
những năm trước và liên tiếp lập những mốc kỷ lục mới về tổng mức vốn đầu tư .
Nguồn vốn FDI đổ vào nước ta không chỉ là tăng về số lượng các dự án mà tăng về
cả qui mô và chất lượng của các dự án. Nguồn vốn FDI phân bố rộng rãi vào nhiều
tỉnh và thành phố trên khắp cả nước, các lĩnh vực tiếp nhận vốn đầu tư cũng được
mở rộng tạo điều kiện cho việc tiếp nhận trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, trình
độ quản lý kinh tế tầm cao, giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong nước.
FDI trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho nên kinh tế, là
động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, tạo nên tính năng động và cạnh
tranh cho thị trường.
Bên cạnh những đóng góp tích cực của luồng vốn FDI đối với sự phát triển của
kinh tế và xã hội Việt Nam thì trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã và đang nổi lên
hiện tượng các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm làm cho chính phủ
Việt Nam bị thất thu thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách, bên cạnh đó tạo ra sự
cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt
đến cơ chế quản lý tài chính của chính phủ trong lĩnh vực FDI, và ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này cũng như tác động xấu đến mục tiêu thu hút và
quản lý vĩ mô vốn FDI của chính phủ.
Tình trạng các doanh nghiệp FDI khai lỗ diễn ra tại nhiều tỉnh thành đã làm cho
chính phủ, cơ quan thuế, các cơ quan quản lý khu vực vốn đầu tư nước ngoài cần
phải nhìn nhận và xem xét vấn đề một cách đúng mức. Vấn đề “chuyển giá “tại các
doanh nghiệp FDI đang là vấn đề được các đại biểu quốc hội chất vấn sôi nổi trong
nhiều kỳ họp quốc hội gần đây. Trong kỳ họp quốc hội ngày 05 tháng 10 năm

tập trung vào các sự kiện đã được công bố trên phương tiện truyền thông đại chúng
và trong giới hạn tìm hiểu các ví dụ thực tế cho phép.
3.Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng,
bên cạnh đó kết hợp với các phương pháp thống kê, liệt kê, phân tích các nguồn số
liệu trong và ngoài nước nhằm làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu thì đề tài được áp dụng nguyên tắc khách quan, logic
trong phân tích và nhận xét.Ngoài ra, đề tài còn áp dụng phương pháp diễn dịch,
quy nạp, so sánh trong quá trình phân tích và làm rõ vấn đề.
4.Bố cục của đề tài
Đề tài được trình bày theo bố cục như sau:
Chương 1: Công ty xuyên quốc gia và hoạt động chuyển giá
Chương 2: Thực trạng chuyển giá tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp kiểm soát chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ
1.1 Khái niệm, mục tiêu và tác động các các công ty xuyên quốc gia đối với nền
kinh tế
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Đặc trưng của TNC
1.2 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ và khái niệm hoạt động chuyển giá của TNC
1.2.1 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ của TNC
1.2.2 Khái niệm hoạt động chuyển giá
1.3 Các yếu tố thúc đẩy TNC chuyển giá
1.3.1 Các yếu tố thúc đẩy bên ngoài (động cơ bên ngoài)
1.3.2 Các yếu tố thúc đẩy bên trong (động cơ bên trong)
1.4 Các tác động của chuyển giá
1.4.1 Dưới góc độ TNC
1.4.2 Dưới góc độ các quốc gia liên quan
1.5 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại một số quốc gia trên thế giới

tư nước ngoài
3.3.4 Các biện pháp hành chính và biện pháp phạt
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Chương 1: Công ty xuyên quốc gia và các hoạt động chuyển giá:
1.1:Khái niệm, mục tiêu và các tác động của công ty xuyên quốc gia đối với
nền kinh tế
1.1.1:Khái niệm:
Công ty xuyên quốc gia là một trong những chủ thể phi quốc gia quan trọng nhất,
là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc
gia.Các công ty xuyên quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc
gia.Công ty xuyên quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế
và các nền kinh tế của các quốc gia.Các công ty xuyên quốc gia đóng một vai trò
quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa.Đó là những tổ chức kinh doanh có quyền
sở hữu hoặc hoạt động kinh doanh diễn ra trên địa bàn nhiều quốc gia.Trong kinh
tế thường có sự phân biệt giữa Công ty quốc tế(International Corporation) với
Công ty đa quốc gia( Multunational Corporation) và Công ty xuyên quốc
gia( Transnational Corporation). Trong đó, Công ty quốc tế là công ty có sự quốc tế
hóa thị trường, tức là hoạt động cả thị trường nội địa lẫn thị trường nước ngoài.
Công ty đa quốc gia là công ty quốc tế có sự quốc tế hóa nguồn vốn, tức có chủ
đầu tư thuộc các quốc tịch khác nhau. Công ty xuyên quốc gia là công ty có sự
quốc tế hóa hoạt động kinh doanh nhưng chủ đầu tư thường thuộc 1 quốc tịch.
1.1.2: Đặc trưng của TNC:
TNCs có những đặc trưng nhất định như công nghệ tiên tiến, trình độ quản lí hiện
đại, năng lực cạnh tranh cao, mạng lưới hoạt động rộng, lượng tài sản sở hữu lớn,
doanh thu lớn, thương hiệu mạnh… Cho đến nay, theo UNCTAD, các TNCs sở
hữu tới 80% kỹ thuật mới của thế giới, 60% đầu tư quốc tế và 40% thương mại
toàn cầu. Các TNCs có những đặc điểm đặc thù về sở hữu và những đặc điểm này
quyết định các đặc trưng khác của các TNCs và tạo cho các TNCs có những lợi thế

ty con của TNC hoạt động trên phạm vi của nhiều quốc gia khác nhau do đó các
giao dịch nội bộ của các TNC diễn ra rất đa dạng và phức tạp với số lượng ngày
càng nhiều và giá trị ngày càng lớn. Các hoạt động này được thực hiện thông qua
các giao dịch như: giao dịch chuyển giao nội bộ tài sản cố định hữu hình hay tài
sản cố định vô hình; chuyển giao nguyên vật liệu, thành phẩm, thông qua sự dịch
chuyển nguồn vốn như cho vay và đi vay nội bộ; qua việc tài trợ và nhận tài trợ về
các nguồn lực như tài lực và nhân lực, qua sự cung cấp các dịch vụ tư vấn tài
chính, tư vấn quản lý; qua các chi phí cho việc quảng cáo và chi phí nghiên cứu
phát triển.
Trong thực tế, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thường được các nhà quản lý của
TNC định giá sao cho tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp trên bình diện toàn tập
đoàn, đây chính là hành vi chuyển giá. Hành vi này không chỉ tác động lên kết quả
hoạt động của TNC mà còn tác động lên ngân sách quốc gia. Để hạn chế hành vi
chuyển giá, các quốc gia cần áp dụng nguyên tắc dựa trên nguyên lý giá thị trường
ALP (The Arm’s – Length Principle) trong việc định giá các nghiệp vụ chuyển giao
nội bộ nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại. Nguyên tắc ALP chính là
cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch vụ giữa các
quốc gia.Nguyên tắc này đòi hỏi các nghiệp vụ mua bán nội bộ trong các TNC phải
được thực hiện như các nghiệp vụ mua bán diễn ra giữa các bên độc lập với nhau
nhằm thể hiện được tính khách quan của quan hệ thị trường.
Định giá chuyển giao và các phương pháp định giá chuyển giao:
Định giá chuyển giao là việc sử dụng các phương pháp để xác định giá cả của các
nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ một TNC phù hợp với thông lệ quốc tế và
được chấp nhận bởi các quốc gia nơi mà các công ty con của TNC đang hoạt động.
Việc định giá chuyển giao là cần thiết cho công tác quản trị của các thành viên
trong các TNC, nhưng khi giá chuyển giao nội bộ cao hơn hay thấp hơn giá thị
trường thì xảy ra hoạt động chuyển giá, đồng thời đây cũng là phương pháp giúp
chính phủ xác định xem các TNC có thực hiện chuyển giá hay không.
+)Phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price
Method -CUP)

Điều quan trọng là tính phần lợi nhuận tăng thêm bao nhiêu là hợp lý. Phần lợi
nhuận
tăng thêm này bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
•Nếu công ty này chỉ sản xuất và thực hiện mua bán theo hợp đồng cho chỉ mỗi
công ty mẹ và không gia công cho bất cứ công ty nào khác thì phần lợi nhuận tăng
thêm
này sẽ được tính theo một tỷ lệ trên giá vốn sao cho hợp lý.
•Nếu công ty sản xuất ra sản phẩm vừa bán cho công ty mẹ và công ty độc lập khác
thì phần lợi nhuận tăng thêm sẽ được phân bổ theo tỷ lệ tổng vốn tham gia vào quá
trình sản xuất sản phẩm. Bên cạnh đó, còn phải so sánh giá cả hàng hóa dịch vụ
trong nghiệp vụ mua bán nội bộ và nghiệp vụ mua bán với công ty độc lập
•Thêm vào đó, một số yếu tố như chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh sẽ
kéo
theo một số các chi phí kèm theo sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi gộp .
• Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng như các ràng buộc giao hàng về thời gian, số
lượng và chất lượng sản phẩm, lưu kho, lưu bãi…
Phương pháp này thường được áp dụng trong một số trường hợp sau:
•Đối với công ty sản xuất, chế biến, lắp ráp, chế tạo và bán cho các bên liên kết,
gia
công chế biến và phân phối
Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên doanh, hợp đồng hợp tác
kinh doanh để sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm hoặc thực hiện các thỏa
thuận về cung cấp các yếu tố đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra.
•Giao dịch cung cấp dịch vụ các bên liên kết.
+)Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method–RPM)
Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản
phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm
đó từ bên liên kết.
Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá bán ra của
sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác

hoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyền hoặc các giao dịch trong quy
trình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâu nguyên vật
liệu đến thành phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sỡ hữu
hoặc quyền sỡ hữu trí tuệ duy nhất.
+)Phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method - CPM)
Phương pháp so sánh lợi nhuận là phương pháp mở rộng của phương pháp giá bán
lại và phương pháp giá vốn cộng lãi.Phương pháp này dựa vào tỷ suất sinh lời của
sản phẩm trong các giao dịch độc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ
suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều
kiện giao dịch tương đương nhau. Phương pháp này không cho ra kết quả về giá
mà tính ra được thu nhập huần trước thuế là cơ sở tính thuế thu nhập doanh nghiệp
(TNDN) và được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
•Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập
và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời;
•Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời nhưng các
khác biệt này đã được loại trừ bằng cách xác định giá trị bằng tiền của các khác
biệt trọng yếu đó để điều chỉnh, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể có thể tăng hoặc
giảm giá trị nhằm loại trừ các khác biệt trọng yếu đó.
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời như:
•Các yếu tố về tài sản, vốn và chi phí sử dụng cho việc thực hiện chức năng chính
của doanh nghiệp (ví dụ: sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do doanh
nghiệp đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao hơn so với việc sản xuất, chế biến trên
cơ sở sử dụng máy móc do cơ sở khác cho thuê để gia công);
•Tính chất ngành nghề hoạt động, nhóm sản phẩm và công đoạn sản xuất hoặc tiêu
thụ (ví dụ: thành phẩm được làm từ nguyên vật liệu thô hoặc từ bán thành phẩm);
•Phương pháp hạch toán kế toán và cơ cấu chi phí của sản phẩm (ví dụ: sản phẩm
đang trong giai đoạn khấu hao nhanh so với khấu hao thông thường).
+)Phương pháp chuyển giao lợi nhuận ròng (Transactional Net Margin Method-
TNMM)
Theo phương pháp này thì lợi nhuận thu được từ các bên liên kết sau khi đã trừ đi

Đối với các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn
sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm, làm tăng chi phí đầu vào. Việc tăng
mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:
• Nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư.
• Giảm mức thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư
b.Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu…(tài sản vô
hình) Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó,
lợi dụng việc này mà các TNC chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thương hiệu,
công thức pha chế, chuyển giao công nghệ… nhằm tăng phần góp vốn của mình
lên. Một số trường hợp phía góp vốn bằn tài sản vô hình có xuất trình gấy chứng
nhận của công ty kiểm toán nhưng độ tin cậy, trung thực của các giấy chứng nhận
này rất khó kiểm định.
c. Nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài, hoặc từ công ty đối tác
trong liên doanh với giá cao .
Đây là hình thức chuyển một phần lợi nhuận ra nước ngoài thông qua việc thanh
toán tiền hàng nhập khẩu.Ngoài ra, việc mua hàng nhập khẩu với giá đắt làm chi
phí sản xuất tăng, dẫn tới lợi nhuận chịu thuế TNDN giảm.
d. Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý
Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê trung gian. Một số
đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả lại
thấp.Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu.
Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra còn
phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý. Ở một số
trường hợp cũng có hiện tượng chuyển giá ở khâu này khi công ty cung cấp nguồn
nhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn.
Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở nước
ngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ với chi phí
cao.
Một hình thức chuyển giá của công ty có vón FDI là trả lương, chi phí cho chuyên
gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ.Loại hình tư ván này rất khó xác định số

TNC tại chính quốc hay của các công ty thành viên trên các quốc gia khác. Vì thế,
để có một hình ảnh đẹp về tình hình tài chính trước các cổ đông và các bên hữu
quan khác, thì chuyển giá là một giải pháp để có thể thực hiện được ý đồ trên.
Chuyển giá giúp các TNC chia sẽ việc thua lỗ với các thành viên, nhờ vậy các
khoản thuế phải nộp giảm xuống và tình hình kinh doanh trở nên sáng sủa hơn một
cách giả tạo vi phạm pháp luật các quốc gia.
Chiếm lĩnh được thị trường là một trong những tham vọng của các TNC.Nhưng để
làm được điều đó, TNC phải đánh bật được các đối thủ của mình, đồng thời chiếm
toàn bộ quyền kiểm soát và quyền sở hữu công ty.TNC thực hiện việc này bằng
cách tăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm trong giai đoạn mới
thâm nhập thị trường, làm cho TNC bị lỗ nặng và kéo dài. Bằng nguồn lực tài
chính dồi dào của mình, các TNC thực hiện hành vi chuyển giá bất hợp pháp để
kéo dài tình trạng thua lỗ nhằm chiếm lấy quyền kiểm soát và quyền quản lý công
ty. Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác ra khỏi hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ
quyền kiểm soát cũng như sở hữu công ty.Sau khi chiếm lĩnh được thị trường, các
TNC thực hiện nâng giá sản phẩm để bù đắp cho phần lỗ lúc trước.Tình trạng này
thường thấy ở các nước đang phát triển như Việt Nam, khi mà trình độ quản lý còn
nhiều yếu kém.
Lợi dụng các đặc quyền, ưu đãi mà các quốc gia đưa ra trong chính sách kêu gọi
đầu tư của nước mình, TNC xem công ty con đặt tại các quốc gia này như một nơi
tập trung toàn bộ lợi nhuận của TNC, thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả
xấu cho nước tiếp nhận đầu tư.
Ngoài ra, các TNC còn thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu rủi ro khi giao
dịch các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao
như trong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược …
1.3.2: Các yếu tố bên ngoài:
Thuế: Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình, các TNC luôn tìm kiếm một lợi
thế từ thuế suất thuế TNDN của các quốc gia có mức thuế suất khác nhau bằng các
hành vi chuyển giá. Các thủ thuật thường sử dụng là nâng giá mua đầu vào các
nguyên vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công ty

nước đang đầu tư.
Tránh khỏi các rủi ro trong nghiên cứu sản phẩm, giảm chi phí về rủi ro thị trường
tiêu thụ và các yếu tố đầu vào
b) Tác động tiêu cực:
Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các TNC phải chịu một
khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng
nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn
của các cơ quan thuế ở những nước TNC đi đầu tư sau đó.
1.4.2: Dưới góc độ của các quốc gia liên quan:
a. Dưới góc độ các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư
Tác động tích cực: Khi có hoạt động chuyển giá ngược, do nước thu hút đầu tư có
mức thuế thu nhập thấp làm tăng thu nhập cho nước tiếp nhận vốn.
Tác động tiêu cực:
• Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do
việc thực hiện hành vi chuyển giá của các TNC làm các luồng vốn chảy vào nhanh
mạnh, sau đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn. Hậu quả là tạo ra một
bức tranh kinh tế bị sai lệch ở các quốc gia này trong các thời kì khác nhau.
• Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, họ là người được hưởng lợi
từ hoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, họ phải đương đầu
với các khó khăn tài chính khi các TNC thoái vốn do các thu nhập không bền vững
trước đây trong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế.
•Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nước
tiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền
kinh tế vĩ mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát
triển.
•Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh
tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn
tới lệ thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về
chính trị
b. Dưới góc độ các quốc gia xuất khẩu đầu tư

Trích đoạn Cải cách thuế của Chính phủ Nhóm giải pháp mang tính chất kỹ thuật Xây cơ sở dữ liệu giá cả chocác giaodịch Các biện pháp hành chính và biện pháp phạt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status