ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỖ ĐÌNH NGHĨA PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI Ở THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SỸ Người hướng dẫn: TS. Đặng Xuân Hoan
Chƣơng 2 39
NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI
THƢƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 39
2.1. Những điều kiện phát triển ngoại thương Thành phố Hồ Chí Minh . 42
2
2.1.1. Điều kiện về vốn 42
2.1.2. Nguồn nhân lực 43
2.1.3. Khoa học công nghệ 44
2.1.4. Cơ sở hạ tầng vật chất 44
2.1.5. Văn hóa du lịch 46
2.1.6. Thị trường 48
2.2. Thực trạng hoạt động ngoại thương trên địa bàn Thành phố 49
2.2.1. Các kết quả xuất nhập khẩu đạt được trong thời gian qua 49
2.2.2. Thị trường xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố 55
2.2.3. Các điều kiện phát triển ngoại thương trên địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh 62
2.2.4.Số doanh nghiệp 64
2.2.5. Những tồn tại cần được giải quyết 76
Chƣơng 3 80
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG NGOẠI THƢƠNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 80
3.1. Một số quan điểm chỉ đạo nhằm phát triển hoạt động ngoại thương
ở Thành phố Hồ Chí Minh 80
3.1.1. Những quan điểm định hướng cơ bản về phát triển kinh tế - xã
hội 80
3.1.2. Những văn bản chỉ đạo phát triển ngoại thương ở Thành phố Hồ
Chí Minh 83
3.1.3. Những quan điểm cơ bản để xác định mục tiêu phát triển ngoại
thương trong điều kiện hội nhập 90
3.2. Những mục tiêu phát triển ngoại thương trên địa bàn Thành phố Hồ
điểm phía Nam, một trong ba vùng động lực phát triển kinh tế của cả nước.
Với vị trí là một trung tâm kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tiềm
năng phát triển các ngành công nghiệp chế biến phục vụ xuất khẩu, đó là
những ngành chủ lực như công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến, cơ
khí, hoá chất, may mặc, dệt, cao su, plastic, giày da có đóng góp cao về giá
trị sản xuất so với toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên cho đến nay nhiều sản phẩm
công nghiệp ở thành phố còn có chất lượng thấp, giá thành cao khó cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Đơn cử ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở
thành phố Hồ Chí Minh có nhiều tiềm năng như có nhiều nhà máy chế biến
thực phẩm với các sản phẩm đa dạng, gần với vùng nguyên liệu là các tỉnh
2
sản xuất nông nghiệp thuộc đồng bằng sông Cửu Long, điều kiện cơ sở hạ
tầng cho chế biến xuất khẩu có nhiều thuận lợi hơn các tỉnh khác. Mặc dù có
tiềm năng như vậy song trong những năm qua ngành công nghiệp chế biến
đang có xu hướng giảm dần, các tiềm năng chưa được phát huy một cách
đúng mức và hiện nay đang có dấu hiệu suy giảm về năng lực cạnh tranh
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đề tài “Phát triển ngoại thương ở thành phố Hồ Chí Minh trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là một đề tài mang tính cấp thiết, thời sự cả về
lý luận lẫn thực tiễn. Thông qua đề tài này, tác giả muốn có sự tìm hiểu, phân
tích kỹ các khả năng và điều kiện của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc hội
nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc gia nhập WTO. Đồng thời, tác giả cũng hy
vọng rằng thông qua đề tài này sẽ góp phần nhất định vào việc xác lập các
luận cứ khoa học để hoạch định các chiến lược và chính sách thương mại, các
chiến lược phát triển kinh tế xã hội nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và phát
triển nền kinh tế đất nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực
và quốc tế, đặt biệt là từ tháng 7 năm 1995 Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của khối ASEAN, đã được kết nạp vào diễn đàn hợp tác Châu Á -
tế quốc tế một cách có hệ thống đối với Việt Nam để làm cơ sở cho các quyết
sách chưa thực sự được coi trọng. Mặt khác, bộ máy và đội ngũ cán bộ thực
hiện công tác hội nhập quốc tế còn hạn chế về nhiều mặt, chưa thực sự đáp
ứng tốt nhất yêu cầu của hội nhập trong điều kiện mới.
Từ những thực tế trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào
việc xây dựng định hướng phát triển ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu nêu lên các định hướng cơ bản về nhịp độ
4
phát triển, cơ cấu mặt hàng và cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu mà chưa đi
sâu vào phân tích các khả năng cũng như điều kiện của Thành phố Hồ Chí
Minh trước những biến đổi của thế giới hiện nay. Đứng trước bối cảnh như
vậy, cần có một đề tài nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về vấn đề
chuẩn bị các điều kiện trong hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phục vụ trước hết
là cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu trong nhà trường. Mặt khác, tác giả
muốn đi sâu vào phân tích những thuận lợi và khó khăn cũng như việc chuẩn
bị của Thành phố Hồ Chí Minh trước cơ hội lớn này nhằm tạo được thế chủ
động trong hội nhập.
Nói tóm lại, đứng trước bối cảnh trong nước và quốc tế nêu trên đã tác
động tạo nên tính cấp thiết cần phải nghiên cứu, đánh giá hoạt động ngoại
thương ở Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm cơ sở cho việc xác định quan
điểm, định hướng phát triển ngoại thương trên địa bàn thành phố trong thời
gian tới, đồng thời làm rõ việc Thành phố Hồ Chí Minh đã chuẩn bị như thế
nào cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
- Trình bày một cách rõ ràng bối cảnh quốc tế đã và đang tạo ra tính tất
yếu phải mở rộng kinh tế đối ngoại. Từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức
đối với hoạt động ngoại thương trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
- Phân tích và trình bày m ột cách có hệ thống các điều kiện và khả năng
của Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
6
Tác giả tập trung vào nghiên cứu về những lợi thế so sánh, khả năng
cạnh tranh cũng như một số hạn chế nhất định trong các mặt hàng chủ lực ở
Thành phố Hồ Chí Minh để chứng minh làm rõ vấn đề.
Phạm vi nghiên cứu về không gian chủ yếu là địa bàn Thành phố Hồ
Chí Minh nhưng do tính chất và điều kiện của nền kinh tế mở nên đối với
nguồn hàng xuất khẩu sẽ được nghiên cứu mở rộng cả khu vực phía Nam và
trong sự tác động của các chính sách quản lý chung nhưng có tác động đến
Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Đóng góp của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu những kinh nghiệm vận dụng các lý thuyết
thương mại quốc tế, kinh nghiệm của các nước có điều kiện tương tự như
Thành phố Hồ Chí Minh nhằm có thể áp dụng được vào tình hình thực tiễn ở
Thành phố trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thực hiện thành
công sự nghiệp CNH, HĐH. Đề tài còn tiến thêm một bước nữa là phân tích
các điều kiện, khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng chủ lực trên địa bàn
từ đó làm rõ về sự chuẩn bị của Thành phố Hồ Chí Minh cho công cuộc hội
nhập trong thời gian trước mắt.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có 3 chương với 17 tiết.
Chương 1: Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại
và một số kinh nghiệm của các nước về phát triển ngoại thương.
Chương 2: Những điều kiện và thực trạng của hoạt động ngoại thương
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển hoạt động
ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh.
7
bảo vệ môi trường sống trên hành tinh của chúng ta.
- Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành vấn đề sống còn của
các quốc gia trên thế giới. Mặt khác, sự cạnh tranh khốc liệt để giành giật thị
trường đã dẫn đến việc hình thành các liên minh kinh tế khu vực và liên minh
kinh tế quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng hoạt động thương mại quốc tế đã giữ
vai trò quan trọng không thể thiếu đối với các quốc gia, không một nước nào
có thể đứng ngoài cuộc vì dù muốn hay không đã bị ràng buộc chặt chẽ về
kinh tế, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng trở nên phổ biến.
- Hầu hết các quốc gia hiện nay đều lựa chọn chiến lược kinh tế mở,
nhất là các nước đang phát triển nhằm tranh thủ sự chuyển giao công nghệ và
nguồn vốn từ nước ngoài biến ngoại lực thành nội lực để đẩy nhanh quá trình
phát triển tích cực nền kinh tế. Đều này hết sức có ý nghĩa đối với những
nước như Việt Nam vì nó đã tạo tiền đề để quá độ về cơ sở vật chất kỹ thuật
lên một trình độ mới.
- Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nhiều nước, vai trò điều
tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước đã thể hiện ngày càng rõ nét hơn. Hiện
nay, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn cơ cấu kinh tế mở, còn đối với các
nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa thì chọn chiến lược công
nghiệp hóa hướng về xuất khẩu để đẩy nhanh quá trình hội nhập.
Từ những nguyên nhân trên cho phép rút ra những nhận định sau:
- Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã có những nội dung mới. Đó là sự
chuyển giao công nghệ và các hình thức hợp tác quốc tế ngày càng trở nên đa
dạng và phong phú hơn.
- Mỗi quốc gia phải định hướng đúng về chiến lược phát triển kinh tế
và chiến lược về cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển kinh tế xã hội theo
9
hướng xuất khẩu, khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các quốc gia, tận dụng
được những lợi thế và thời cơ do xu thế quốc tế hóa mang lại.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế
tập trung quan liêu bao cấp mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị
bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước, đặt các doanh nghiệp vào môi trường
cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khả năng cạnh tranh
của các mặt hàng Việt Nam trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế. Tuy
nhiên, những biện pháp của chính phủ triển khai thực hiện chủ trương này
chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ làm cho tiêu cực phát sinh, việc này đã tạo không
ít những khó khăn cho các doanh nghiệp, làm hạn chế hiệu quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong đó cụ thể là việc quản lý về hạn ngạch, quy
định đầu mối xuất nhập khẩu không hợp lý, thủ tục quản lý còn nhiêu khê,
chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ liên quan gây nhiều phiền hà cho
các doanh nghiệp. Đặc biệt, biểu thuế xuất nhập khẩu Việt Nam hiện tại vẫn
bị đánh giá là phức tạp, vả lại thay đổi thường xuyên làm cho các doanh
nghiệp khó định hướng xuất khẩu dài hạn từ đó dẫn đến việc bị động, chậm
trễ mất thời cơ. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện chính sách
và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu.
Trước tình hình đó, quốc hội đã thông qua nhiều văn bản dưới luật, đạo
luật tạo hành lang pháp lý cho từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế như:
luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật phá sản, luật đất đai…ngày 10 tháng 02
năm 1998 thủ tướng chính phủ ra quyết định 31/TTg thành lập Ủy ban quốc
gia về hợp tác kinh tế quốc tế do đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm làm chủ tịch,
có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo, điều hành các bộ ban ngành địa phương
trong việc hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.2. Tính tất yếu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế
11
Trước hết, xét về quan điểm cần nhấn mạnh rằng quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hóa kinh tế là hai mặt của một quá trình,
sẽ không có quá trình toàn cầu hóa nếu không có sự tham gia của các quốc
gia, toàn cầu hóa là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước
tham gia, quá trình này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp
tác vừa có đấu tranh. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan thì hội
nhập kinh tế cũng là một tất yếu khách quan, chính quá trình toàn cầu hóa có
phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, điều này có ý nghĩa rất lớn đối
với nền kinh tế nước ta, có thể cụ thể hóa một số nét cơ bản sau:
- Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mở rộng các cơ hội kinh doanh và xâm
nhập thị trường thế giới. Bởi lẽ từ năm 1990 trở lại đây Việt Nam đã mất các
thị trường truyền thống như: Liên Xô(cũ), Đông Âu Do vậy hội nhập kinh
tế sẽ giúp khắc phục tình trạng trên và tiếp cận với thị trường thương mại thế
giới.
- Trong điều kiện toàn cầu hóa, việc giảm và tiến tới bãi bỏ các hàng
rào thuế quan cản trở thương mại quốc tế đã làm cho hàng hóa và sản phẩm
của mỗi nước có thị trường quốc tế rộng lớn, từ đó kích thích sản xuất phát
triển.
- Tự do hóa thương mại đã đặt các doanh nghiệp mỗi nước trước những
cơ hội lớn và thị trường về các nguồn lực cho sản xuất kinh doanhnhư: vốn,
công nghệ, lao động Đồng thời đặt các nước trước những sự cạnh tranh
quốc tế quyết liệt, điều này đã buộc họ phải cải tiến công nghệ, phương thức
tổ chức quản lý sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh để tồn tại và phát triển.
- Khi các nước đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế sẽ nâng cao vị
thế quốc tế và tạo thế đứng vững chắc trong quan hệ quốc tế.
13
Mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức đối với
các nước đang phát triển, cụ thể như sau:
- Các nước đang phát triển như Việt Nam có trình độ phát riển kinh tế
thấp hơn so với các nước có nền kinh tế phát triển, do vậy dễ bị thua thiệt khi
hội nhập nếu không có các phương sách hội nhập có hiệu quả. Như chúng ta
đều biết rằng hầu hết các vấn đề liên quan đến thể chế như WTO, WB, IMF
và các luật lệ quy định liên quan đến hoạt động thương mại đều bị khống chế
bởi các nước phát triển.
- Một thách thức nữa đối với các nước đang phát triển là việc thực hiện
các nguyên tắc và chương trình hợp tác của các tổ chức thương mại quốc tế.
về kinh tế của các công ty xuyên quốc gia có vai trò rất lớn đối với quá trình
toàn cầu hóa và hội nhập. Trong đó Mỹ, Nhật và các nước G7 có nhiều công
ty xuyên quốc gia trên thế giới.
Nói tóm lại, các nước đang phát triển phải hội nhập kinh tế quốc tế vì
đó là xu thế khách quan nên không nước nào có thể đứng ngoài được. Điều
này là không bàn cãi thế nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là làm sao giành
được nhiều lợi ích và hạn chế các tác hại, rủi ro? Để làm được việc này cần
thực hiện bốn vấn đề sao đây:
+ Các nước đang phát triển phải tăng cường liên kết với nhau để đấu
tranh đòi thiết lập một trật tự thế giới công bằng hơn.
+ Mỗi nước phải giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập, nếu chần
chừ sẽ mất thời cơ.
+ Vừa phải thích nghi với tập quán và các quy tắc quốc tế vừa phải giữ
vững độc lập, chủ quyền của quốc gia, hội nhập chứ không “hòa tan”.
15
+ Mỗi nước phải có chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ,
thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế để tranh thủ các nguồn lực quốc tế, phát
huy có hiệu quả các lợi thế so sánh của quốc gia.
1.2. Hoạt động ngoại thƣơng, các yếu tố tác động và vai trò của
hoạt động ngoại thƣơng ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1. Quan niệm về hoạt động ngoại thương
Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng
hóa, dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia.
Ngoại thương là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại, có liên quan
và tác động mạnh đến sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế nhờ vào quy
mô và chuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so
sánh của các quốc gia. Ngoại thương thường được nghiên cứu dưới ba góc độ
sau:
- Đứng trên quan điểm và lợi ích toàn cầu để tìm ra những quy luật, xu
hướng và vấn đề mang tính chất chung của thế giới.
ngoại thương có những đặc điểm mới sau:
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương quốc tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng của tổng sản phẩm quốc dân.
- Tốc độ tăng trưởng ngoại thương của hàng hóa vô hình có xu hướng
tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng ngoại thương của hàng hóa hữu hình do có
sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế giữa những ngành sản xuất vật chất và dịch
vụ trong mỗi quốc gia.
- Cơ cấu mặt hàng có sự biến đổi quan trọng, thành phẩm công nghiệp
chế biến chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với sản phẩm sơ chế, tỷ trọng nhiên
liệu và sản phẩm máy móc tăng rất nhanh so với các loại hàng hóa khác.
17
- Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh của thương mại quốc tế
diễn ra rất đa dạng, không chỉ về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện
giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau khi bán hàng.
Phạm vi thị trường ngày một mở rộng không chỉ hàng hóa, dịch vụ thông
thường mà còn mở rộng sang lĩnh vực tài chính, tiền tệ và các lĩnh vực này
ngày càng đóng vai trò qua trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế.
- Chu kỳ “sống” của từng loại sản phẩm ngày ngày rút ngắn lại. Các
hàng hóa có hàm lượng khoa học công nghệ cao có sức cạnh tranh lớn hơn so
với các hàng hóa truyền thống.
Quá trình phát triển thương mại quốc tế đòi hỏi phải tự do hóa thương
mại đồng thời phải thực hiện bảo hộ mậu dịch một cách hợp lý. Để biến ngoại
thương thành đòn bẩy phát triển kinh tế quốc dâncần phải sử dụng thành thạo
các lợi thế so sánh, nguyên tắc lợi ích tương đối. Thuyết lợi thế so sánh cho
rằng, các nước có năng suất lao động khác nhau, thông qua trao đổi hàng hóa
trên thị trường đều có thể thực hiện tiết kiệm lao động xã hội với những mức
độ khác nhau, đem lại lợi ích về kinh tế cho cả hai bên tham gia quá trình trao
đổi. Tức là các nước có thể thông qua sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm
mình có ưu thế tương đối để nhập khẩu những sản phẩm mình kém ưu thế
hơn. Lợi ích tương đối gắn liền với lợi ích so sánh, sự phân công lao động
phát triển kinh tế, bảo vệ thị trường trong nước, vừa thúc đẩy tự do thương
mại, khai thác có hiệu quả thị trường thế giới.
Thứ tư là việc hình thành tỷ giá hối đoái một cách chủ động và hợp lý.
Tỷ giá hối đoái là tỷ giá giữa đồng tiền nước ta so với đồng tiền của nước
ngoài. Tỷ giá hối đoái là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng trong
việc trao đổi kinh tế đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến đối với xuất, nhập khẩu.
19
Do vậy, việc xây dựng một tỷ giá hối đoái thống nhất, sát với thị trường tiền
tệ là rất cần thiết cho mỗi nước.
1.2.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động ngoại thương
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương, tuy nhiên
thực tế cho thấy các yếu tố có tác động đến hoạt động ngoại thương trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh cụ thể là:
- Hoạt động giáo dục đào tạo: yếu tố này đóng vai trò then chốt trong
việc tạo ra lợi thế cạnh tranh. Kinh nghiệm cho thấy những quốc gia có sự đầu
tư mạnh vào giáo dục như: Đức, Nhật, Hàn Quốc đã có lợi thế trong nhiều
ngành công nghiệp. Việc đạt được lợi thế cạnh tranh này ngày càng tinh vi
hơn và có khả năng cạnh tranh trong những ngành công nghiệp mới đòi hỏi
phải có nguồn nhân lực với kỹ năng và trình độ ngày càng cao. Không chỉ đạt
được năng suất lao động cao mà đòi hỏi phải có những nhà quản lý và nhân
viên đạt các tiêu chuẩn ngày càng cao để duy trì khả năng cạnh tranh hiện tại.
- Khoa học công nghệ: công nghệ được cải thiện sẽ giúp nâng cao hiệu
quả, cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất và thâm nhập vào những
ngành công nghiệp hiện đại. Khuyến khích những cải tiến về khoa học công
nghệ từ lâu đã là một vai trò quan trọng của bất cứ một chính phủ của quốc
gia nào, hoạt động nghiên cứu và phát triển không thể chỉ để cho các công ty
thực hiện, bởi vì lợi ích từ hoạt động này đối với từng ngành công nghiệp hay
toàn bộ nền kinh tế quốc dân vượt xa lợi ích mang lại cho từng công ty nhờ
vào hiệu ứng lan tỏa của công nghệ. Tiến bộ về khoa học công nghệ làm tăng
tốc độ hiện đại hóa trong bản thân ngành công nghiệp và cả những ngành liên
những thị trường mà sản phẩm của mình có lợi thế so sánh. Các chính sách
này chủ yếu chú trọng việc mở rộng thị trường và loại trừ những thông lệ
không công bằng trong thương mại chứ không bảo hộ các doanh nghiệp trong
21
nước vì làm như thế có thể khiến các doanh nghiệp ỷ lại không nỗ lực vươn
lên, làm chậm quá trình đổi mới trong ngành.
Ngoài những yếu tố cơ bản trên, đối với Chính phủ mỗi nước còn thể
hiện vai trò tác động của mình thông qua việc ban hành các văn bản luật, thiết
lập các tiêu chuẩn kỹ thuật, các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, an toàn,
vệ sinh môi trường…để tạo cơ chế thông thoáng, đồng thời buộc các doanh
nghiệp phải nỗ lực hết mình trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quy
trình sản xuất, nâng cao năng lực quản lý nhằm đáp ứng được các tiêu chuẩn
đã đề ra.
1.2.3. Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với Thành phố Hồ Chí
Minh
Về vai trò của hoạt động ngoại thương có nhiều quan điểm khác nhau,
đối với quan điểm của trường phái tự do thì ngoại thương được đánh giá rất
cao vì nó giúp cho các quốc gia có được những hàng hóa mà nước đó không
sản xuất được. Ngoài ra, hoạt động ngoại thương còn có các vai trò quan
trọng khác như: phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của thế giới, làm
thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho mỗi quốc gia, tăng thu hút vốn
đầu tư và góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Còn vai trò của ngoại
thương theo quan điểm của trường phái dân tộc chủ nghĩa thì ngoại thương là
hành vi rất nguy hiểm vì nó làm cho an ninh của mỗi quốc gia không được
đảm bảo, tác động đến cả những giá trị văn hóa của quốc gia thậm chí có
người cho rằng ngoại thương là hình thức chủ nghĩa đế quốc văn hóa cần phải
được kiểm soát nghiêm ngặt. Đối với họ, ngoại thương được xem như nguồn
gốc tạo nên sự căng thẳng về chính trị và đòn bẫy kinh tế. Nói tóm lại, ngoại
thương mang lại lợi ích cho nhiều quốc gia, tuy nhiên mức độ lợi ích sẽ khác
nhau tùy theo từng nước và nhóm nước. Các nước phát triển thường thu được