Nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN CÔNG ĐỨC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH
VĂN HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN SƠN
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG GIA
ĐÌNH VĂN HOÁ 7
1.1. Gia đình là gì? 7
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về gia đình và vai trò của gia
đình đối với sự phát triển của xã hội 11
1.3. Tư tưởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về gia đình và
xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam 19
1.3.1. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về gia đình và xây dựng gia đình
văn hoá 19
1.3.2. Quan niệm của Đảng ta về gia đình và gia đình văn hoá 26
1.4. Tiêu chí của gia đình văn hóa ở nước ta hiện nay 33
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG XÂY
DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY 47
2.1.
Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên hiện
nay
47
2.1.1. Khái quát về đặc điểm địa, lý tự nhiên 47

cùng chung sống ít dần đi, nhưng những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền
thống Việt Nam vẫn được trân trọng và trao truyền cho các thế hệ tiếp nối.
Ngay trong học thuyết lý luận của mình, chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đi
sâu nghiên cứu toàn diện về gia đình trong lịch sử, đã chỉ rõ vai trò của gia đình,
sự biến đổi và phát triển của gia đình trong đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
và qua đó đề ra những định hướng cơ bản nhằm xây dựng gia đình trong tiến
trình cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đây là một trong những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa xã hội (CNXH) khoa học, nó có ý nghĩa lý luận to lớn
nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Đối với Việt Nam, Đảng ta đã xác định rõ vị trí, vai trò của xây dựng
gia đình văn hoá đối với sự phát triển của xã hội. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày
21/2/2005 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn
mạnh tới vai trò của gia đình, những khó khăn và thách thức đối với sự nghiệp
công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Phát huy
những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, thích ứng với
những đòi hỏi của quá trình CNH, HĐH. Xây dựng gia đình ấm no, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh
của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân
cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo mọi
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
2

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Gia đình tốt thì xã
hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn. Hạt nhân của xã hội là gia
đình”. Những lời dạy của Bác đến nay vẫn có tính thời sự, khẳng định giá trị
hết sức to lớn của gia đình, cũng như trách nhiệm của mỗi người trong việc
xây dựng gia đình thực sự là tổ ấm hạnh phúc, đồng thời xây dựng một hình
ảnh đẹp về con người và đất nước Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Trong đời sống xã hội của chúng ta, vấn đề xây dựng gia đình văn hoá

“Nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa ở Tỉnh Thái Nguyên hiện
nay” làm luận văn Thạc sỹ cho mình. Hy vọng những kết quả nghiên cứu sẽ
góp phần nâng cao nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của bản than, có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong việc nâng cao chất lượng đời sống xã
hội của người dân ở Tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Nói đến vấn đề gia đình, từ trước đây ngay trong lý luận của mình
trong tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và Nhà nước”
của Ph.Ăngghen toàn tập, tập 21, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm
1995 đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến gia đình như: các hình thức
gia đình, tình yêu, hôn nhân…
Ở nước ta, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm đến các vấn đề gia đình và xây
dựng gia đình mới - gia đình văn hóa. Gần đây nó càng được nhấn mạnh trong
các Nghị quyết Trung ương và trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX, X và XI.
Có thể nói việc xây dựng, nâng cao chất lượng gia đình văn hóa là vấn
đề của mọi dân tộc và thời đại, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt quan trong vài
năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được rất
nhiều các nhà nghiên cứu, các nhà xã hội đi sâu tìm hiểu, quan tâm dưới nhiều
góc độ khác nhau. Có thể thấy rõ điều đó qua rất nhiều công trình nghiên cứu
khoa học, các cuốn sách, bài viết như:
- “Từ điển văn hóa” của Phạm Trường Khang, Hoàng Lê Minh đã giải
thích rõ về văn hóa gia đình qua các cách tiếp cận khác nhau và vấn đề liên quan.
4

- “Văn hóa gia đình Việt Nam” của GS. Vũ Ngọc Khánh đã cho thấy
được đặc trưng của gia đình văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay và nêu ra được
thực trạng của vấn đề gia đình ở Việt Nam.
- “Một số vấn đề về gia đình và gia đình Việt Nam hiện nay” của TS.

dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng gia đình văn hóa” của
Phan Văn Phờ - Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Tuyên giáo
05/2009; “Hôn nhân xuyên quốc gia và vấn đề giáo dục gia đình văn hóa” của
Th.S Đinh Văn Quảng trên 02/2007… Đây là những
nguồn tài liệu quý giá để tác giả nghiên cứu tham khảo và kế thừa những nội
dung hợp lý nhằm triển khai có hiệu quả đề tài nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về
vấn đề nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên.
Bởi vậy, tác giả chọn đề tài này hướng nghiên cứu của mình. Luận văn có
nhiệm vụ kế thừa và tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên
cứu trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng
xây dựng gia đình văn hóa của Tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất những
phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa
của Tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ
Một là: Trình bày một số lý luận chung về vấn đề gia đình và gia đình
văn hóa hiện nay.
Hai là: Làm rõ thực trạng đời sống của các hộ gia đình, tình hình xây
dựng gia đình văn hóa mới ở Tỉnh Thái Nguyên để thấy được những mặt tích
cực, làm được, mặt hạn chế, yếu kém.
Ba là: Bước đầu có những đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng xây dựng gia đình văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
6

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ vấn đề về nâng cao chất lượng xây dựng gia

CỦA VIỆC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HOÁ

1.1. Gia đình là gì?
Gia đình - hai tiếng thân thương đó đã in sâu vào trái tim mỗi người từ
khi ta còn tấm bé. Đó chính là nơi mỗi người được sinh ra và lớn lên, có tác
động to lớn đến sự hình thành nhân cách của cá nhân cũng như sự phát triển
của xã hội.
Vấn đề gia đình từ lâu đã được nhiều nhà tư tưởng, nhà hoạt động thực
tiễn và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ ngôn ngữ, khi bàn về vấn đề gia đình theo phương pháp
triết tự từ, nhà khoa học Hoàng Tiến đã chỉ ra:
“Chiết tự chữ Gia theo nghĩa Hán gồm bộ Miên, mang ý nghĩa mái lợp
trùm nhà ngoài nối nhà trong. Dưới có chữ Thỉ, nghĩa là lợn. Chữ Gia mang
ngữ nghĩa nhà ở, chắc chắn phải xuất hiện từ thời loài người đã biết chăn nuôi.
Chiết tự chữ Đình, gồm bộ Nghiễm tức mái nhà (cũng đọc là Yêm), dưới
là Đình với ý nghĩa là nơi phát chính lệnh cho cả nước theo (như triều đình).
Vậy thì, nghĩa xa xưa của gia đình hẳn là một đơn vị kinh tế nhỏ, chung
sống dưới mái nhà trong cộng đồng xã hội” [55, tr.113]. Định nghĩa này đã
khái quát được một số dấu hiệu đặc trưng của gia đình (chung sống cùng mái
nhà, là đơn vị kinh tế). Nhưng chưa khái quát được cơ sở hình thành gia đình
cùng một số chức năng quan trọng khác của gia đình.
Theo Từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên đã định nghĩa: “Gia đình là
một đơn vị xã hội, thành lập trên cơ sở dòng máu, bắt nguồn từ thời đại thị tộc
mẫu hệ, trong thời đại phong kiến thường có cha mẹ, con cháu, có khi chắt
nữa, trong thời đại TBCN thường chỉ có vợ chồng và con cái” [55, tr.113-
114]. Định nghĩa này khái quát được một số nét bản chất của gia đình về cơ
sở hình thành, duy trì, biến đổi của gia đình trong lịch sử và khẳng định gia
8

đình là đơn vị xã hội nhưng chưa nêu ra được vai trò của gia đình với xã hội

gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm).
Giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được Nhà nước thừa nhận
và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật Hôn nhân và Gia đình nước ta). Đồng thời,
trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm
đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [50, tr.20]. Đây là khái niệm
đề cập tới nhiều nét đặc trưng, bản chất cơ bản của gia đình, nhưng nặng về
trình bày phân tích, chưa khái quát cô đọng, chưa giải thích được sự xuất hiện
loại gia đình cũ tồn tại ở Việt Nam.
Dưới góc độ tâm lý học, theo tác giả Nguyễn Đình Xuân: “Gia đình là
một nhóm nhỏ được liên kết vợ - chồng (hôn nhân) theo quy luật xã hội trước
tiên, sau đó mới là quy luật tình dục tự nhiên” [67, tr.36]. Còn với tác giả Ngô
Công Hoàn thì “Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có quan hệ gắn bó về hôn
nhân và huyết thống, tâm sinh lý, có chung giá trị vật chất, tinh thần ổn định
trong các thời điểm lịch sử nhất định” [67, tr.36]. Những định nghĩa này đã đề
cập tới nhiều nét bản chất của gia đình nhưng vai trò và quan hệ tác động của
gia đình - xã hội chưa được khái quát. Nó cũng đòi hỏi các nhà nghiên cứu về
gia đình phải có sự bổ sung, phát triển.
Dưới góc độ chính trị - xã hội, cũng như quan niệm của các nhà xã hội
học, một số định nghĩa về gia đình có những đóng góp và hạn chế. Liên Hợp
Quốc, trong cuốn từ điển “Nhân khẩu học” cho rằng: “Gia đình là một đơn vị
được quy định thông qua mối liên hệ của các cá nhân, nói lên sự tái thế hệ
sau, đặc biệt ở mức độ mà những mối quan hệ này được những quy phạm và
thủ tục pháp lý phê chuẩn” [25, tr.96].
Gần đây UNESCO cũng đưa ra quan niệm, gia đình là một nhóm người
có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung. Các định nghĩa
này cũng có những đóng góp và những hạn chế tương tự như quan niệm gia
đình của Xã hội học, Tâm lí học,…
Luật Hôn nhân và Gia đình của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2000 khẳng định: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với
10


đình, nhất là hiện nay, cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội thì các hình
thức, kiểu loại gia đình cũng biến đổi hết sức phức tạp, đa dạng.
Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại hai kiểu gia đình. Một là, gia đình
hạt nhân hai có thế hệ bố mẹ và con cái chung sống. Hai là, gia đình mở rộng
gồm ba thế hệ trở lên (ông bà, cha mẹ, con cái) cùng chung sống trong một
mái nhà.
Ngoài hai kiểu gia đình chủ yếu trên đây, do những yếu tố hoàn cảnh
khác nhau, còn có các kiểu gia đình khác như: Gia đình độc thân (chỉ có một
người), gia đình thiếu vắng vợ hoặc chồng, gia đình đơn thân (chỉ có mẹ hoặc
bố nuôi con)…
Tóm lại, từ thực tế có thể có nhiều cách định nghĩa gia đình khác nhau
nhưng căn cứ vào tình hình chung của hôn nhân và gia đình ở nước ta, kế thừa
những cách tiếp cận hợp lý khác nhau như trên, có thể định nghĩa: Gia đình là
một phạm trù lịch sử dùng để chỉ một tập hợp người, hình thành, duy trì và
củng cố trên cơ sở các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ
nuôi dưỡng… giữa các thành viên, nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại, thoả mãn
nhu cầu tình cảm và phát triển mọi mặt đời sống, được dư luận xã hội ủng hộ,
được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về gia đình và vai trò của
gia đình đối với sự phát triển của xã hội
Nghiên cứu di sản lý luận của C.Mác - Ph.Ăngghen, chúng ta thấy,
trong suốt tiến trình xây dựng quan niệm duy vật lịch sử, bao giờ các ông
cũng dựa vào những tiền đề hiện thực. Những tiền đề hiện thực này thường
được các ông sử dụng với tư cách những phạm trù xuất phát để nghiên cứu,
mổ xẻ các quá trình xã hội nhằm phát hiện ra các quy luật, các mâu thuẫn, các
xu hướng vận động và phát triển của nó. Những tiền đề hiện thực này được
biểu hiện một cách cụ thể qua các phạm trù, như phạm trù hàng hoá, phạm trù
con người, phạm trù sở hữu,… Ở đây, điều đáng nói là, tất cả các phạm trù
này đều có liên quan đến phạm trù gia đình. Bởi, trong quan niệm của các

khác, là sự truyền nòi giống. Những thiết chế xã hội, trong đó những con
13

người của một thời đại và của một nhà nước nhất định đang sống, là do hai
loại sản xuất đó quyết định: Một mặt là do trình độ phát triển của lao động và
mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” [31, tr.44]. Luận điểm đó,
Ph.Ăngghen đã chỉ rõ vai trò to lớn của gia đình đối với xã hội. Gia đình là
một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển xã hội, mặc dù vậy, tầm quan
trọng đó chỉ có thể có được trên cơ sở gắn liền với mỗi giai đoạn phát triển
lịch sử cụ thể mà trong đó sự xuất hiện của các gia đình mới với hình thức kết
cấu và bản chất của nó được đảm bảo bằng những cơ sở khách quan nhất định
Sự xuất hiện của gia đình đã diễn ra ngay từ buổi đầu quá trình lịch sử,
do có sự tác động của quy luật đào thải tự nhiên và sự tác động bởi những
biến đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội đã kéo theo những biến đổi tương
ứng trong gia đình. Trong xã hội nguyên thuỷ, trình độ lực lượng sản xuất rất
thấp, cá nhân không tách rời tập thể, cuộc sống cộng đồng nhiều mặt đã tạo
nên kiểu gia đình tập thể quần hôn. Mỗi bước tiến của xã hội cộng đồng
nguyên thuỷ và kết quả đào thải tự nhiên lần lượt đưa đến những hình thức,
mang sắc thái tiến bộ hơn: gia đình huyết tộc (cùng dòng máu), gia đình cặp
đôi (đối ngẫu). Bước sang xã hội tư hữu và có giai cấp, hình thức gia đình cá
thể - hôn nhân một vợ, một chồng ra đời. Các xã hội có đối kháng giai cấp
(Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, TBCN) đã làm cho gia đình một vợ một chồng
không được “trọn vẹn” và đúng nghĩa của nó với nhiều sắc thái khác nhau.
Quá trình xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN, dần tạo nên những gia
đình một vợ, một chồng “trọn vẹn” và đúng nghĩa, có khả năng thể hiện đầy
đủ vị trí, vai trò xứng đáng của mình với sự phát triển xã hội. Ở thời kỳ đầu
của quá trình xây dựng CNXH - thời kỳ quá độ, là thời điểm lịch sử diễn ra
quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để trên mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. Quá trình cải biến cách mạng đó bắt đầu từ khi chính quyền
của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động, các lực lượng tiến

tự nhiên, nghiên cứu tự nhiên để tồn tại và cũng để nhằm thoả mãn những nhu
cầu không ngừng nảy sinh của con người. Quan hệ thứ hai là quan hệ giữa
con người với con người trong quá trình sản xuất, quan hệ phản ánh các quan
15

hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức và quản lý
sản xuất, các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động. Quan hệ thứ ba là
quan hệ gia đình. Theo các ông quan hệ gia đình “tham dự ngay từ đầu vào
quá trình phát triển của lịch sử; hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân
mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan
hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái”. Cũng theo các ông, ba quan hệ này
tồn tại đan xen với nhau, hoà vào nhau, cùng tồn tại bên nhau: “Sự sản xuất ra
đời sống - ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống
của người khác bằng việc sinh con đẻ cái - biểu hiện ngay ra là quan hệ song
trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội”. Khẳng định
sự tồn tại đan xen của ba mối quan hệ này, trong Thư gửi Paven Vaxilievich
Annencốp, ngày 28 tháng Chạp 1846, C.Mác còn chỉ rõ: Khi xem xét “một
trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất của con người”, chúng ta
“thấy được một hình thức nhất định của trao đổi và của tiêu dùng” và khi xem
xét “một trình độ phát triển nhất định của sản xuất, của trao đổi và tiêu dùng”
chúng ta “thấy một chế độ nhất định, một hình thức tổ chức nhất định của gia
đình, của các đẳng cấp và giai cấp”.
Như vậy có thể nói, trong quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, nhờ
nghiên cứu các hình thức gia đình, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn nội dung
của lực lượng sản xuất (quan hệ thứ nhất), nội dung của quan hệ sản xuất
(quan hệ thứ hai) và ngược lại.
Không chỉ thế, khi nhấn mạnh vai trò của gia đình đối với sự phát triển
của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác và Ph.Ăngghen còn cho
rằng, thực ra, gia đình là “quan hệ xã hội duy nhất” trong buổi đầu của lịch sử
xã hội. Nhờ quan hệ thứ ba này, với chức năng sinh con đẻ cái, quan hệ gia

phát từ nhu cầu khách quan đầu tiên của sự tồn tại của con người: ăn, mặc và
ở. Nhu cầu ăn, mặc và ở ngày một cao hơn đòi hỏi con người phải tìm cách
chinh phục tự nhiên để sao cho hiệu quả sản xuất ngày càng cao hơn, năng
suất lao động cũng ngày một cao hơn… và nhờ đó, quá trình sáng tạo, đổi
17

mới công cụ sản xuất, cải tiến, hợp lý hoá quá trình sản xuất được hình thành
và ngày càng phát triển.
Cũng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, chế độ phường hội bị phá vỡ do
những hạn chế trong khả năng khai thác nguyên liệu, khả năng cung cấp và
tiêu thụ sản phẩm… đã tạo nên sự ra đời của công trường thủ công - hình thức
sản xuất gắn liền với sự xuất hiện của máy móc. Đến lượt mình, công trường
thủ công đã tạo ra sản phẩm nhiều hơn nhờ máy móc, tạo ra khả năng tìm
kiếm, khai thác thị trường lớn hơn… và nhờ đó tạo ra những quan hệ mới
giữa con người với con người, giữa gia đình và xã hội, giữa thói quen và tâm
lý với sự biến động của các quá trình kinh tế - xã hội. Không chỉ thế, sự xuất
hiện của công trường thủ công còn khiến cho qua hệ giữa thợ bạn và thợ cả bị
phá vỡ và do vậy, cũng phá vỡ luôn quan hệ gia trưởng để tạo lập quan hệ
mới - “quan hệ tiền bạc” giữa công nhân và nhà tư bản.
Và khi xem xét mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và sự phát triển
của nền công nghiệp, các ông đã khẳng định sự tồn tại song trùng của hai quá
trình. Thứ nhất, quá trình tồn tại và phát triển của gia đình với những nhu cầu
vật chất và tinh thần đã thúc đẩy quá trình phát triển nền công nghiệp. Thứ
hai, quá trình phát triển nền công nghiệp đã tác động trở lại gia đình, làm thay
đổi kết cấu gia đình, nhu cầu vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong
gia đình
Tiếp tục luận giải hai quá trình này, trong tác phẩm “Tuyên ngôn của
Đảng Cộng sản” (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định sự vận hành
của mỗi quá trình đó đều mang tính khách quan và phổ biến. Các ông cho
rằng, sự ra đời của nền sản xuất bằng máy móc hiện đại - nền công nghiệp

Ph.Ăngghen cũng đã khẳng định, với sự hình thành và phát triển của nền đại
công nghiệp, không chỉ các quan hệ xã hội, mà cả quan hệ gia đình cũng bị
thay đổi.
Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề gia đình không những
tạo cơ sở cho sự nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò to lớn của gia đình với
xã hội, về quy luật vận động phát triển của gia đình mà còn trang bị cho
19

chúng ta nội dung, phương pháp luận quan trọng trong chỉ đạo thực tiễn xây
dựng gia đình mới - gia đình văn hoá. Vì vậy, tư tưởng quá nhấn mạnh đến
gia đình, coi gia đình như là hình mẫu của mọi thiết chế hoặc hạ thấp gia
đình, coi nhẹ và cắt xén chức năng gia đình, đánh đồng gia đình và xã hội,
thậm chí đòi xoá bỏ gia đình đều là sai lầm và tới mức độ khác nhau sẽ gây
mâu thuẫn giữa gia đình và xã hội cũng như chính bản thân gia đình.
Kế thừa những quan điểm vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử của chủ nghĩa Mác
về gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng
những tư tưởng lý luận đó vào thực tiễn Việt Nam nhằm xây dựng, phát huy
được giá trị của gia đình trong xã hội hiện nay.
1.3. Tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về gia
đình và xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam
1.3.1. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về gia đình và xây dựng gia đình
văn hoá
Kế thừa và phát triển những quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia
đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì vậy muốn xây dựng
CNXH, phải chú ý hạt nhân cho tốt” [37, tr.111]. Luận điểm của Người vừa
khẳng định mối quan hệ không thể tách rời của gia đình và xã hội, vừa khẳng
định vai trò to lớn của gia đình đối với xã hội, đồng thời khẳng định sự cần
thiết phải xây dựng gia đình mới để có xã hội mới - xã hội XHCN thực sự.

Tỉnh, xã Ngọc Long, tỉnh Hưng Yên. Sáu gia đình gương mẫu tham gia xây
dựng Hợp tác xã ở thôn Ngọc Tỉnh, xã Ngọc Long đã tình nguyện đi đầu xây
dựng gia đình văn hoá.
Cho đến năm 1962, 100% số xã của huyện Yên Mỹ đã có phong trào
xây dựng gia đình văn hoá và tại Hội nghị văn hoá toàn miền Bắc, xã Ngọc
Long được Bộ Văn hoá khẳng định là “quê hương gia đình văn hoá”, được
chọn là điển hình tiên tiến để làm đầu tầu nhân điển hình toàn miền Bắc. Đến
năm 1973, cũng ở Hải Hưng, Ban vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia
21

đình văn hoá đã sửa đổi bổ sung thành năm tiêu chuẩn gia đình văn hoá: lao
động sản xuất giỏi; chấp hành đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước;
vệ sinh ngăn nắp, chi tiêu có kế hoạch, thực hiện kế hoạch hoá gia đình; đoàn
kết xóm giềng; gia đình hoà thuận. Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống
nhất đất nước, phong trào xây dựng gia đình mới được phát động trong phạm
vi cả nước, cũng với năm tiêu chuẩn nói trên nhưng tiêu chuẩn “gia đình hoà
thuận” được đưa lên hàng đầu. Bước vào thời kỳ đổi mới, phong trào tiếp tục
được duy trì, mở rộng trong cả nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng nông thôn mới trước hết vấn
đề cơ bản và lâu dài là mỗi người dân phải tự xác định mình là người chủ thật
sự, phải luôn luôn nêu cao tinh thần làm chủ. Người cho rằng, phải thực hành
dân chủ, nghĩa là mọi công việc đều phải bàn bạc, cán bộ không được quan
liêu mệnh lệnh, tuyệt đối chống tham ô, lãng phí. Người chỉ rõ: Nông thôn
mới được tạo lập bởi nhiều gia đình mới và nhiều gia đình cộng lại mới thành
xã hội. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt
nhân của xã hội là gia đình. Những ý kiến chỉ dẫn của Người cho thấy tầm
quan trọng to lớn của việc xây dựng gia đình mới, và chỉ có xây dựng gia đình
mới thì mới có nông thôn mới. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng gia
đình mới gắn bó chặt chẽ giữa gia đình theo nghĩa hẹp, với gia đình theo
nghĩa rộng, chăm lo gia đình nhỏ là chăm lo cho hạt nhân của xã hội. Hồ Chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status